NSND Thanh Tòng thuộc thế hệ thứ ba của đại gia đình cải lương tuồng cổ nổi tiếng ở miền Nam. ÔNG nội là bầu Thắng, thân sinh là nghệ sĩ Minh Tơ, cháu ruột nghệ sĩ Khánh Hồng, Đức Phú, chị ruột là nghệ sĩ Xuân Yến, em ruột là nghệ sĩ Thanh Loan, nhạc sĩ Minh Tâm, Công Minh, Thanh Sơn... Các nghệ sĩ Bạch Lê, Bạch Lựu, Bạch Lý, Bạch Long, Thành Lộc, đạo diễn Phượng Hoàng... là em cô cậu ruột, Chí Bảo em chú bác, Tú Sương, Trinh Trinh, Thanh Thảo... là cháu ruột gọi ông bằng cậu. Tất cả đều xuất thân từ Cầu Quan, cái nôi của cải lương Hồ Quãng, ngày trước, bây giờ là cải lương tuồng cổ.
![]() |
| Hình: ngocanh |
Nơi Đình Cầu Quan ấy, năm 1924, ông nội ông đem gia đình về đóng đô tại đó, lập ra đoàn hát bội hát thường trực ở Sài Gòn, bỏ đời gạo chợ nước sông, xây dựng nền móng vững chắc để con cháu sau này phát triển, trở thành những trụ cột của sân khấu cải lương tuồng cổ, hình thành nên một dòng họ xuất sắc đóng góp rất lớn cho nền nghệ thuật sân khấu nước nhà. Năm 1954, cải lương phát triển mạnh, các nghệ sĩ Minh Tơ, Bảy Sự, Khánh Hồng, Đức Phú theo bà Phùng Há học hát cải lương hết ba năm (1954- 1956). Sau đó, cho ra đời sân khấu hát bội pha cải lương...
ÔNG tên thật là Nguyễn Thanh Tòng sinh năm 1948 tại Sài Gòn. Theo nghề hát từ năm 3 tuổi. Đầu tiên, học hát bội đóng vai con của Hoàng Phi Hổ, Sáu tuổi hát San Hậu thứ ba, sau đó học cải lương, học tân nhạc, học nhảy thiết hài, từng nhảy thiết hài với Thanh Cao. Mười tuổi hát vai Lữ Bố trong đoàn Đồng ấu vai Xuân Yến, Thành Phượng, Kim Hoàng (tức là nghệ sĩ Bo Bo Hoàng ngày nay). Mười một tuổi được các ký giả Sài Gòn thời đó như Văn Thà, Tình Thiệt, Phong Vân, Hoài Ngọc... phong cho danh hiệu "thần đồng sân khấu". Khi ông đóng những vai lão, vai Trịnh ÂN, vai Bao Công, vai Quan Công... rồi giả gái đóng điều Thuyền, Hồ Nguyệt Cô... ÔNG là người con, là đệ tử chân truyền của nghệ sĩ Minh Tơ. Ba ông cho ông học và đóng tất cả các loại vai văn, võ trung, nịnh, lão, độc, mùi, đào văn, đào võ là để đào tạo ông trở thành nghệ sĩ đa năng, toàn diện. Ngoài giờ học chữ, ông còn được nghệ sĩ Minh Tơ dạy cho cách dàn dựng, cách viết tuồng, tuy được học nhiều như thế nhưng theo NSND Thanh Tòng, ông vẫn chưa học được hết nghề của người cha tài hoa, bởi ngoài lãnh vực biểu diễn, sáng tác dàn dựng, nghệ sĩ Minh Tơ còn biết vẽ cảnh, đánh đàn, đánh trống... Bất cứ nghề nào có liên quan đến sân khấu là ông điều học hỏi am tường. Ngoài học nghề người cha tài năng của mình, NSND Thanh Tòng còn may mắn được các nghệ sĩ Khánh Hồng, Đức Phú, Thành Tôn, Dì Năm, Bà Năm Đồ Hoàng Bá, Hoàng Nuôi, Sáu Trọng, Xuân Liễu, các nhạc sĩ Sáu Từng, Năm Bửu, Năm Cơ, Văn Vĩ... tận tình truyền nghề. Trong giới nghệ sĩ thời đó đã ví gia đình bầu Thắng - Minh Tơ như dòng dõi Dương Gia Tướng.
Năm hai mươi tuổi, ông đã dàn dựng vở Bao Công vô lò gạch tra án Quách Hòe trên sân khấu Khánh Hồng - Minh Tơ như một khởi nghiệp cho nghề đạo diễn sau này.
Người nghệ sỹ đa năng
Để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người xem với nhiều vai diễn đa tính cách, trên sân khấu ông là một nghệ sĩ tài hoa được nhiều người mến mộ thì phía sau hậu trường, ông là một nhà quản lý giỏi, một tác giả đạo diễn có tài là một người thầy tận tụy, một nhà sư phạm có phương pháp truyền nghề khá độc đáo. Bốn thế hệ nghệ sĩ trưởng thành đều có dấu ấn của ông, từ năm 1968 đến nay như : Ngọc Đáng, Hữu Lợi, Hữu Cảnh, Trường Sơn, Thanh Thế, Bửu Truyện, Thùy Dương, Vũ Linh, Phượng mai, Cẩm Hương, Kim Duyên, Bạch Long, Quế Phương, Thanh Vân, Minh Hiếu, Kim Thủy, Tài Linh, Ngọc Huyền, Tú Sương, Trinh Trinh, Quế Trân... Tuy nhiên, ông không bao giờ cho mình là thầy, mà chỉ coi mình là người anh dìu dắt, chăm lo, giúp đỡ các thế hệ em cháu. ÔNG nói : "Nghề này không làm thầy nhau được, nên ông muốn các em các cháu được ông dìu dắt coi ông như người anh, người cậu, người chú. Tuyệt đối ông không dám làm thầy một ai. Tuồng hát trước năm 1975 đa số là tích Tàu, lại là hát cương, bài bản cũ, giai điệu nghèo nàn nên dần dần mất đi sự hấp dẫn, điều đó khiến ông trăn trở, suy nghĩ muốn tìm sự mới lạ để thay đổi sân khấu cải lương tuồng Tàu...
Từ những năm 1960, phim ảnh Đài Loan du nhập vào Việt Nam, nhạc Đài Loan lúc ấy như bông hoa lạ làm cho nhiều người say mê, thích thú. ÔNG cùng người chú ruột là nhạc sĩ Đức Phú đã đem nhạc Đài Loan làm ca khúc trong các vở tuồng Tàu. Một số giai điệu mới được đặt tên Hoàng Mai Khúc ra đời, tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt. Dần dà, lối hát cương cũ được ông thay thế bằng những kịch bản do mình sáng tác chuyển từ trong các tích Tàu đặt thêm nhiều ca khúc mới bằng nhạc Đài Loan, cải lương tuồng Tàu được đổi ra thành tuồng cải lương Hồ Quảng. Những thay đổi đó đã tạo nên sức hút mới.cho sân khấu Khánh Hồng - Minh Tơ. Nói cho cùng, dù chỉ là sự vay mượn của nước ngoài nhưng là thành quả của sự tìm tòi lao nhọc, cách ứng dụng thông minh làm phong phú thêm cho sân khấu cải lương tuồng cổ. Những vở tuồng Hồ Quảng theo phong cách mới lần lượt ra đời trên sân sấu Vĩnh Xuân - Khánh Hồng ghi nhận một dấu ấn mới của ông. Khi đó Thanh Tòng chưa đầy 30 tuổi. Năm 1968, báo chí thời đó phong cho ông là ''Vua cải lương Hồ Quảng”. ÔNG lập ban cải lương Hồ Quảng Khánh Hồng - Minh Tơ hát hàng tuần vào ngày thứ tư trên Đài truyền hình Sài Gòn. Những vở : "Phạm Lãi-Tây Thi'', ''Võ Tòng sát tẩu” được khán giả yêu thích... Những nghệ sĩ Bạch Lê, Thanh Thế, Bửu Truyện, Thanh Bạch, Hữu Lợi, Thanh Loan, Xuân Yến,... được biết đến như những ngôi sao của loại hình nghệ thuật này.
Năm 1973, ông thành lập hãng băng cải lương Hồ Quảng Minh Tơ hoạt động cho đến năm 1975. Năm 1974, ông lập đoàn cải lương Hồ Quảng Thanh Tòng hát đến ngày giải phóng Sài Gòn, thì đoàn tạm ngưng hoạt động.
Nhìn lại chặng đường ngày ấy, thấy rõ ông thành công, thành danh rất sớm, ngoài năng khiếu bẩm sinh là sự đào tạo dạy dỗ, truyền nghề có căn cơ của cha ông, của những nghệ nhân, những người thân trong dòng họ, còn là sự khổ luyện chuyên cần học tập, học đi đôi với hành, biến những hiểu biết của mình thành những cái mới trên sân khấu, một sự dấn thân toàn tâm toàn lực, sống chết với nghề. Đó chính là những nét nổi bật của NSND Thanh Tòng cả một cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp cải lương. Nhưng đời người không có gì là suôn sẻ, bằng phẳng... Đã có một khoảng thời gian ông buồn bã, thất chí, thậm chí ông định tìm cái chết, vào cái thuở tài năng đang phát triển rực rỡ...
Kỳ sau: Tưởng như cái chết đã thắng…
Bích Trâm
http://cailuongvietnam.com/modules.php?name=News&file=article&sid=3438
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, như bao nhiêu nghệ sĩ khác, ông rất mừng vui khi đất nước chấm dứt chiến tranh, Bắc Nam thống nhất, mọi người được vui hưởng thanh bình, ông hy vọng rồi đây nghề hát truyền thống của gia đình ông sẽ được phát triển vững mạnh. Nhưng rồi hy vọng hoàn toàn sụp đổ, ông chán nản mất niềm tin bởi lệnh cấm hát, còn bị quy chụp cải lương Hồ Quảng là lai căng, không được tồn tại, đoàn hát ngưng hoạt động, ông phải đi bán bánh mì để nuôi sống gia đình. Mỗi lần đến đình Cầu Quan nhìn một số nghệ nhân già yếu sống nghèo khổ, ông không cầm được nước mắt, thấy mình như có lỗi, như vô trách nhiệm với những người đã từng gắn bó với gia đình ông trọn một đời. Những ổ bánh mì, những đồng tiền chắt chiu từ việc buôn bán, những ký gạo ít ỏi của ông chị đủ giúp họ lây lất qua ngày càng khiến ông thêm chạnh lòng.
![]() |
Đời nghệ sĩ long đong đến khi trụ được ở đình Cầu Quan tưởng đã thoát đời gạo chợ nước sông, lại lâm vào cảnh bữa đói bữa no vất vưởng. Không dằn được lòng buồn, ông đã định tìm cái chết. May mắn là vợ ông kịp thời phát hiện những dao động tình cảm của chồng, đã cố gắng thuyết phục động viên ông. Thương vợ con ông bỏ qua ý định tự tử tiếp tục bán bánh mì với nỗi ray rứt, mặc cảm, nhớ sân khấu, nhớ công lao gầy dựng đoàn hát đã ba đời đến đời ông thì mất trắng.
Lần lượt những cán bộ tập kết từ miền Bắc về miền Nam. Vợ ông có hai người cậu là đại tá quân đội Nguyễn Dậu, Nguyễn Hoàng Võ, biết được tình cảnh của ông đã động viên an ủi, khuyên ông nên kiên nhẫn đợi chờ, đất nước thay đổi còn nhiều việc cần kíp phải lo nên chủ trương chính sách đối với văn nghệ sĩ triển khai chậm, bảo ông nên vững tin vào chính quyền Cách mạng.
May mắn bất chợt đến nhờ tấm lòng của một khán giả ghiền cải lương Hồ Quảng, một người rất ái mộ ông thường hay đến mua bánh mì, vừa ủng hộ vừa chia sớt nỗi niềm của một người nghệ sĩ tài hoa đang cơn vận bĩ. Chị khán giả ấy là em dâu của luật sư Trịnh Đình Thảo, Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong chính quyền Cách mạng, chị hứa sẽ tổ chức một cuộc gặp gỡ giữa ông với ông Trịnh Đình Thảo để nhờ can thiệp giúp cho ông được hát lại, ngày hẹn đã được định, mừng quá, ông đến nhờ má Bảy Phùng Há dẫn đi gặp ông Thảo. Nghe ông trình bày nguyện vọng, ông Thảo vui vẻ hứa sẽ thông qua Bộ Văn hóa giải quyết nguyện vọng của ông. Thêm một người nữa giúp ông đó là cô Dung, một cán bộ hoạt động nội thành từng là khán giả của ông. Cô đã đến Ty sân khấu xin cho ông được diễn lại. Vở đầu tiên được hát là vở ''Trảm Trịnh Ân". Đến duyệt có các ông Trần Bạch Đằng, Lưu Hữu Phước, Bùi Kinh Lăng, đạo diễn Bích Lâm. Xem xong vở, đạo diễn Bích Lâm vỗ vai ông và khen: tao không ngờ trong miền Nam có thằng nhỏ hát hay như mày''.
Cuối cùng thì nguyện vọng của ông cũng được chấp thuận nhờ sự giúp đỡ của các ông trong Hội đồng duyệt đó... Cầm quyết định của Ty sân khấu cho thành lập đoàn cải lương tuồng cổ Minh Tơ, ông mừng rơi nước mắt, bao nhiêu uẩn khúc trong lòng được trút đi, niềm hy vọng lại sáng lên. Trước mắt là những thử thách gay go đang chờ ông và các bạn đồng nghiệp, đồng môn của trường phái cải lương Hồ Quảng, bởi từ đây đoàn Minh Tơ chỉ được hát những tuồng sử Việt, tuyệt đối không hát tích Tàu, không được ra bộ, múa may vũ đạo. Để được hát, ông và các bạn đành chấp nhận từ bỏ sở trường, hát không ra bộ.
Vì sao đặt tên là cải lương tuồng cổ ?
Ông còn nhớ rất rõ ngày ký quyết định thành lập đoàn là ngày l tháng 9 năm 1975. Hai chữ tuồng cổ sau này ông được biết là do sự linh động của ông Năm Triều (soạn giả Mai Quân) nghĩ ra đặt cho đoàn để thay thế hai chữ Hồ Quảng, để giúp cho số anh em nghệ sĩ cải lương Hồ Quảng như ông, như Thanh Thế, Bửu Truyện... được tiếp tục hành nghề.
Nghe Thanh Tòng, Thanh Thế, Bửu Truyện... và một số nghệ sĩ ở đoàn Khánh Hồng - Minh Tơ trước đây được hát lại khán giả ruột đến xem rất đông, nhưng thấy hát không ra bộ, mất hẳn phong cách của đoàn Minh Tơ ngày nào, họ thắc mắc rồi dần dần chán nản, đoàn hát ế. Dọn đến rạp mới thấy trương bảng hiệu tuồng cổ, khán giả lại tưởng là hát bội, càng không xem. Cuối năm 19175, NS Thanh Tòng bị tai nạn giao thông, xe đụng gãy tay tưởng hết đời tàn phế không còn hát được, ông chán nản, lại thêm một lần nữa muốn chết ? Với ông không được hát, như là cái chết. Nhờ lương y La Văn Lương, Lý Văn Quan đã tận tình cứu chữa, giúp ông khỏi bị tật nguyền, tay chân khỏe lại để tiếp tục hành nghề, đưa ông trở lại sân khấu. Nếu không có lần chữa trị thành công đó, đã không còn một NSND Thanh Tòng ngày nay. Ơn ấy là công ơn tái sinh cả đời ông và gia đình luôn ghi nhớ, cảm phục tấm lòng, y đức của những người thầy thuốc tài năng.
Gian nan mới tõ mặt anh tài
Rời bệnh viện về đoàn tập vở Dưới cờ Tây Sơn (1976) ròng rã ba tháng, hát chiêu đãi khán giả không coi, vì bị cấm vũ đạo. Đoàn hát mà không khán giả thì làm sao tồn tại. Trong cảnh khó ló cái khôn, ông và người chú là nhạc sĩ Đức Phú nghiên cứu lại vũ đạo, tích tuồng, âm nhạc... Trước giải phóng 100% là hát múa rập khuôn theo kiểu Trung Quốc, thì nay phải tìm cách Việt hóa 1000%, ông nghiên cứu vũ đạo hát bội, võ Việt, các điệu Lý, dân ca cái nào được công nhận là chính thống của người Việt được ông chọn lọc sử dụng, sự cải cách nầy gần như phá bỏ toàn bộ hệ thống xưa do gia đình để lại, một số đồng nghiệp, đồng môn, chưa hiểu có lúc trách giận ông. Nhưng để tiếp tục phát triển nghề hát ông chấp nhận va chạm, đưa cái mới ra để thích nghi với nền nghệ thuật mới, trong xã hội mới. Năm 1979 cấm hát các tích Tàu, ông chuyển hẳn sang dựng và biểu diễn các vở lịch sử Việt Nam với phong cách mới.
Vở “Thanh gươm và nữ tướng” do ông dàn dựng ra đời, ông không được đứng tên đạo diễn vì không học trường lớp, không có bằng đạo diễn...!!! Khán giá thích thú với những làn điệu lý mới thay thế các bài Quảng được phối âm công phu. Vở diễn thành công ngoài mong đợi chứng nhận sự khám phá tìm tòi của ông và người chú, đem âm nhạc dân tộc ứng dụng hiệu quả trên sân khấu cải lương tuồng cổ. Năm 1980 Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, đoàn Minh Tơ được dự, nhưng bị buộc phải diễn theo phong cách cải lương thông thường, ông lên gặp ông Tư Trương xin cho diễn đúng phong cách Minh Tơ mới do ông cùng gia đình, các bạn đồng môn đã dày công đổi mới. Yêu cầu được chấp thuận, buổi diễn của đoàn thành công rực rỡ, được ban giám khảo ngoài Bắc là những học giả, giáo sư, tiến sĩ, NSND, những đại thụ của nền sân khấu Việt Nam khen ngợi. Các vị ấy thích thú, bất ngờ trước những gì mà ông và tập thể đoàn Minh Tơ tạo ra trong đêm diễn. Ông được giải Diễn viên xuất sắc.
Đoàn Minh Tơ trở thành đoàn cải lương tuồng cổ hùng mạnh. Ông lập chi Hội Thanh niên giao cho Bạch Lựu phụ trách, vừa tổ chức sinh hoạt Đoàn vừa lập ra nhóm hát, diễn những vở cải lương lịch sử phục vụ thiếu nhi vào sáng thứ năm và sáng chủ nhật trong tuần, hoạt động trong nhóm còn có Công Minh, Thanh Sơn, Bạch Long... Chi hội Thanh Niên hoạt động khá tết, nhiều vở diễn hay được khán giả nhí ủng hộ nhiệt liệt. Liên hoan các vở thiếu nhi, chi hội đoạt nhiều giải A như vở Thánh Gióng, Kim Đồng, ba năm liền (1982-1984) đứng đâu các chi hội đơn vị nghệ thuật thành phố. Để bổ sung thêm kiến thức, lý luận ông tham gia lớp sáng tác đầu tiên do thành phốtổ chức năm 1982 cùng nhiều tác giả khác như nguyễn Thị Minh Ngọc, Trần Văn Hưng, Thanh Bình, Yên Lang, Nhát Nương, Trần Quốc Quân, Đức Hiền... Năm 1981 phát hiện ra nghệ sĩ Tài Linh. Lập nhóm hát hỗ trợ nhà truyền thống với sự tham gia của Vũ Linh, Tài Linh, Ngọc Huyền, Thanh Hằng, Thanh Thanh Tâm. Cùng với tác giả Việt Anh viết lại vở Gánh cải Trạng Nguyên do má Bảy Phùng Há đưa kịch bản. Việc kết hợp cùng một lúc nhiều ngôi sao trong vở cải lương là việc làm vô cùng khó khăn. Lảm sao cho tất cả cùng vui vẻ, toàn tâm toàn ý cộng tác ; nhưng với sự khéo léo, với uy tín và cách làm việc nghiêm túc, cách ứng xử linh hoạt của ông, mọi việc đã diễn ra tết đẹp thuận thảo. Tuy nhiên, sự đời thường lắm thăng trầm. Khi vừa khởi sắc, đoàn Minh Tơ đã đứng trước những cơn sóng dữ dậy lên từ chính trong nội bộ của nó.
Đăng Minh ghi lại
(còn tiếp)
ngocanh (Theo Báo sân khấu)
http://cailuongvietnam.com/modules.php?name=News&file=article&sid=3471
![]() |
| Hình: ngocanh |
Với đoàn Minh Tơ là sự mất mát, với riêng ông lại là sự thành đạt thăng tiến, khi ông hoạt động tự do như con thần long vẫy vùng ngoài biển lớn. Thập niên 80 chứng kiến thời kỳ rực rỡ nhất của ông qua vai trò tác giả, đạo diễn, thành công chính là vở Câu thơ yên ngựa. Năm 1982 tác giả Hoàng Yến giới thiệu vở Lý Thường Kiệt cho đoàn Minh Tơ. Lúc nầy ông đang bị ban quản trị mới của đoàn cô lập, trước một vở diễn lịch sử nặng ký, họ lại bối rối, không đủ khả năng dàn dựng nhờ ông thì họ ngại, không nhờ thì khó thành công, cuối cùng vì sự đề nghị của tập thể đoàn mà ông chấp nhận chinh lý kịch bản, kiêm luôn vai đạo diễn đổi tên vở thành "Câu thơ yên ngựa''. Là vở chính luận nên khô khan, có thể hay khi đọc, nhưng đưa ra công chúng thành vở diễn hoành tráng e khó bán được vé, phải bảo đảm doanh thu và nghệ thuật, ông thuyết phục tác giả sửa lại nhiều lần khi vở công diễn đã thành công ngoài sức tưởng tượng. Cảnh hay nhất cũng là cảnh khó khăn, gay cấn nhất. Nó chính là con đẻ của NS Thanh Tòng (nguyên mẫu kịch bản gốc không có), đó là lớp Lý đạo Thành xử án Thượng Dương hoàng hậu. Để có sự hậu thuẫn chắc chắn ông xin gặp riêng ông Bảy Bạch trình bày những tưởng mới mà ông sẽ thể hiện qua cách chỉnh lý kịch bản, thủ pháp dàn dựng, xử lý âm nhạc, trang trí... Cuộc gặp vào nửa đêm, nghe ông trình bày ông Bảy Bạch hoàn toàn đồng ý và có những ý kiến đóng góp vô cùng quý báu, dấu ấn tư tưởng chủ đề được nhấn mạnh ở mấy ý : ta bạn - địch thù rạch ròi, có công thì thưởng, có tội bị trừng, tình lý cân phân rạch ròi đâu là tình riêng, đâu là phép nước...Trích đoạn Câu thuyên ngựa, cảnh Lý Đạo Thành xử án Thượng Dương lần lượt được mời qua Pháp diễn bốn lần với ê-kíp nghệ sĩ khác nhau. Ông Bảy Bạch có công rất lớn trong sự thành công nầy, nhờ có ý kiến của ông mà NS Thanh Tòng mới sáng tạo ra một cảnh hay như thế.
* Người thế vai bất đắc dĩ
Tháng 2 năm 1984, Sở VHTT TPHCM thành lập một đoàn hát đi diễn giao lưu tại Pháp và một số nước châu ÂU khác với vở ''Đời cô Lựu”. Đoàn gồm những nghệ sĩ tài năng bậc nhất như Diệp Lang, Thành Được, Minh Vương, Bạch Tuyết, Ngọc Giàu, Lệ Thủy... ÔNG không ngờ mình cũng được nhọn, mặc dù hát cải lương xã hội không phải là sở trường... ÔNG được phân vai Mẫn Đạt, một vai nhỏ trong kịch bản gốc, nhờ đạo diễn Huỳnh Nga thêm thắt cho phép ông bung miếng nên vai Mẫn Đạt có chút ít đất diễn. Lần đầu tiên diễn cải lương xã hội, ông rất tự ti, mặc cảm, trong mỗi cuộc họp thường ngồi phía sau... Sang đến Tây Đức thì có sự cố Thành Được bị bắt cóc. Không có người thế vai Hai Thành, tập thể đề nghị ông hát thế, ban đầu ông từ chối vì nghĩ mình không thể hát được vai chánh nặng như vai Hai Thành. Bước qua tuồng xã hội với sở trường không phải là kép ca, nay bị ''đẩy" vào vai kép chánh, NS Thanh Tòng không khỏi lo lắng, nhưng tập thể động viên, NS Diệp Lang, Bạch Tuyết, Ngọc Giàu khuyến khích giúp ông tập vai Hai Thành và tình thế lúc ấy không cho phép ông lùi bước. Suất diễn đầu tiên tại BỈ theo ông là suất diễn hay nhất kể từ khi ông đóng thế. Trong đoàn bất ngờ vì sự thay thế của ông tròn vẹn, chuyến lưu diễn đó để lại ấn tượng tốt trong lòng người xem, gây được cảm tình với các nước bạn.
Trở về nước, đoàn được đặt tên 284 và ông được giừ ở lại đoàn. Nghệ sĩ Bạch Tuyết động viên : ''Thanh Tòng hát tôi an tâm và bạn tạo ra nhiều cái mới'', Minh Vương, Lệ Thủy cũng khuyến khích ông rất nhiều. Có lần má chị Ngọc Giàu xem ông diễn ''Đời cô Lựu” đã có lời khen. Vai Hai Thành trong vở ''Đời cô Lựu'' đã sống với ông trên 20 năm. Ờ đoàn 284, ông diễn những vai có tính cách trái ngược nhau, một Chu Phác Viên ''độc'', một Tân ''lẳng' trong ''Tô ÁNH Nguyệt'', một Tổng Trấn đa tình trong ''ÁO cưới trước cổng chùa''. Nhớ nhất là hồi tập vai Tân, NSND Ba Vân đã vỗ vai ông mà nói : ''Hồi trước ba đóng vai con...'' rồi ông chỉ vẽ thêm để Thanh Tòng góp thêm những vốn liếng hoàn thành vai diễn. Vai cậu Tư Kiên trong vở ''Con gái chị Hằng” cũng là một hình mẫu để ông dựa theo đó mà bổ sung cho vai Tân. NSND Phùng Há đã chỉ vẽ cho ông rất nhiều khi hát lại những vở của tác giả Trần Hữu Trang. Cô Ba Đề con gái của ông Trần Hữu Trang, khi thấy ông diễn ở đoàn 284, chân ông đi cà nhắc, cô đã đem thuốc đến cho, cô đâu biết rằng, bước những bước chân cà nhắc đó là do ông muống tạo dáng đi riêng cho nhân vật.
* Có công gieo cấy, có ngày đầy kho
Bây giờ ngồi nhớ lại, ông thấy mình mang ơn quá nhiều người, từ những nhà lãnh đạo, những người lương, những bậc thầy trong nghề, các anh chị đồng nghiệp, những khán giả yêu thương đã luôn luôn sát cánh nâng đỡ chia sẻ với ông trong những lúc gian nan, khó khăn nhất.
Và ông không quên ơn người vợ đã gắn bó với ông trên 30 năm nay. Từ một người bạn gần nhà, trở thành một khán giả đặc biệt, đi đến tình yêu, đồng cam cộng khổ, vực ông ra khỏi nỗi đau buồn mà có lần ông định tìm cái chết. Đã sinh cho ông một trai Nhựt Tân, một gái Quế trân. Bây giờ gia đình ông có một nàng dâu ngoan hiền, một đứa cháu nội dễ thương, một viên ngọc nhỏ trong mái ấm tràn đầy hạnh phúc. Vợ chồng NSND Thanh Tòng là một đôi tiêu biểu cho sự bền vững, thủy chung thường rất hiếm trong những mảnh đời nghệ sĩ.
Năm 2007, ông được nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. ÔNG đón nhận niềm vui quá bất ngờ. ÔNG không nghĩ mình có thể đạt được danh hiệu cao quý đó bởi chung quanh ông còn rất nhiều nghệ sĩ tài năng. Họ rất xứng đáng. ÔNG nhận danh hiệu NSND không phải từ những hoạt động sân khấu sàn diễn, mà nhờ những thành tích xuất sắc khi cộng tác với các đài truyền hình. ÔNG biết ơn Hãng phiến trẻ Kim Lợi, Đài TH Việt Nam tại TPHCM, Đài TH TPHCM, đặc biệt là Hãng phim Tây Đô, Đài TH Cần Thơ đã nhiều năm liền mời ông cộng tác. Qua đó, ông đã có những tác phẩm dự Liên hoan THTQ năm năm liền, đoạt 4 huy chương vàng, 6 huy chương bạc. Ba lần đoạt giải Mai Vàng do báo Người Lao Động tổ chức trao giải. Nhìn lại quá trình làm việc của NSND Thanh Tòng, ông xứng đáng với những gì ông dang có. Khi nói về điều ông mơ ước, đôi mắt ông xa xăm : sân khấu cải lương rồi sẽ được tưng bừng mang sức sống mới, không còn hắt hiu buồn thảm như hiện nay, nhiều sân khấu mới ra đời, nhiều nghệ sĩ trẻ tài đức vẹn toàn thay thế những người đi trước góp phần thay đổi diện mạo sân khấu cải lương.
ĐĂNG MINH ghi lại
http://cailuongvietnam.com/modules.php?name=News&file=article&sid=3504