Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Âm nhạc cổ truyền

Hát Bội

 Viết về cải lương thì không thể nào bỏ qua “Hát Bội”. Bởi vì chính sân khấu hát bội đã sinh sản ra bộ môn cải lương. Nghiên cứu hát bội, cũng là hình thức tìm hiểu thêm sân khấu cải lương.

Hát Bội

Xem hình
 


Hàng chục năm qua, người ta suy đi xét lại nhiều lần hai chữ ”Hát Bội” và ”Hát Bộ”. Cuối cùng, vẫn còn phân vân, chưa biết gọi như thế nào cho chính xác. Năm 1960, báo chí đi đến quyết định chung, cùng gọi là ”Hát Bội”. Để bên vực lập trường này, tờ Tia Sáng (do ông Nguyễn Trung Thành làm chủ nhiệm) nêu lên giả thuyết và cho rằng kêu là ”Hát Bội” thì đúng hơn cả. Bởi vì danh từ ”Hát Bội” đã có mặt từ hàng trăm năm nay, đồng thời nó rất phù hợp với ý nghĩa của điệu hát cổ truyền.

Ông Huỳnh Tịnh Paulus Của viết trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (in tại Saigon năm 1895) giải nghĩa chữ Bội: Hơn, bằng hai. Trò bội: Cuộc ca hát, đàn hát, bạn hát. Bội bè: Con hát, bạn hát. Hát Bội: Con hát, kẻ làm nghề ca hát.
Trong quyển Dictionnaire annamite Francais của tác giả J.F.M. Genibrel cũng in tại Saigon năm 1898 giải thích như sau: Chữ “Bội” là bằng hai (double); Bội số (Multiple); Bội nhị (Doubler), Bội bè (Comédie), Hát Bội (Jouer la comédie).
Nói cách khác, ”Hát Bội” xuất phát từ chữ ”Bội”, Bội Nhị: Thêm bằng hai, bằng ba.

Giới khán giả thích coi hát Bội đều nhìn nhận rằng, tuồng hát này,trên mọi khía cạnh, tất cả động tác biểu hiện sự “gia bội” (thêm, hơn, bằng hai). Một viên tướng có bản tính nóng nảy thì diễn viên hóa trang gương mặt rằn ri dữ tợn, điệu bộ hiếu chiến, ăn nói ngang tàng, hống hách. Tướng lãnh thời xưa không có những tác phong, ngôn ngữ, mặt rằn ri, dữ giằn ác độc như vậy. Nhưng vì để cho người xem dễ phân biệt tâm tính bên trong của vai tuồng, nên nghệ sĩ phải tăng thêm điệu bộ và vẽ mặt mày quá hung ác như thế. Do đó khán giả không lấy làm ngạc nhiên về sự diễn xuất vượt quá sự thật của điệu hát Bội vì một bộ môn ca diễn “Gia tăng bội nhị, bội tam”. Diễn gấp hai lần, ba lần hơn sự có thật của vai tuồng.

Danh từ ”Hát Bộ” mới ra đời vào khoảng năm 1930 cùng với thời với nền Cải Lương đang thịnh hành. Một số người thưởng ngoạn Cải Lương, nhận thấy điệu hát này mang sắc thái tả chân và lối diễn xuất múa men ra bộ không thua gì hát Bội liền đặt cho nó cái tên là hát Bộ. Theo cái tên vừa đặt, người ta ngầm hiểu điệu hát có múa bộ nhiều hơn ca để xác nhận điệu nào là điệu Cải Lương. Lâu dần, quen miệng, người ta gọi là “hát Bộ”. Thật ra, nên dùng danh từ “hát Bội” thì đúng hơn.

Một thời gian trước đó khá lâu – có thể một ngàn năm, có thể từ ngày khởi công lập quốc – bộ môn hát Bội từ Trung Hoa du nhập sang Việt Nam, chắc chắn nước Việt Nam có một điệu hát riêng biệt. Bởi vì mội dân tộc, cho dù man rợ đến đâu họ cũng sáng tác một điệu hát giúp vui quần chúng. Trong các buổi lễ cúng, tế ở đình làng, người dân thôn quê thường hay tụ họp ăn, uống, múa ca giải trí. Đây là một sự thật bất khả chối cãi. Dựa vào các điệu hát đã có sẵn, dân gian lấy đó làm nền móng phát triển điệu hát Bội về sau này.

Đến đời nhà Nguyên (Trung Hoa - 1285), danh tướng Toa Đô cầm quân sang chiếm nước Việt và bị Hưng Đạo Vương đánh bại. Trong dịp truy nã quân Toa Đô bỏ chạy, triều đình Việt Nam bắt sống một số tàn quân. Trong số tàn quân đó, có một người tên Lý Nguyên Cát giỏi nghề ca hát.

Vua nhà Trần ra lệnh quan quân hậu đãi Lý Nguyên Cát và biểu hắn chỉ dẫn người Việt Nam hát Bội. Chỉ yêu cầu hắn dạy về hình thức thôi như: múa, cách hóa trang làm mặt, vận y phục v.v.. Phần nội dung các điệu hát, người Việt Nam đã có từ trước, không cần học hỏi. Nói ra điều này, không ngoài mục đích đính chánh cho một số người hiểu lầm, vẫn tưởng rằng nước Tàu cử kép hát qua dạy người Việt về các điệu hát.

Âm nhạc hát Bội Việt Nam hoàn toàn khác xa âm nhạc Trung Hoa.Giọng hát là nguồn gốc phát sinh ra âm nhạc. Nhạc Việt khác, nhạc Tàu khác. Mỗi dân tộc có một lối tượng hình âm nhạc riêng rẽ. Đáng kính nể là ở điểm này, là người xưa biết cách biến chế, biết cách dung hòa điệu bộ hát xướng của Tàu với âm điệu nhạc Việt đã có sẵn, xây dựng lên một lối hát đặc thù Việt Nam. Mượn cái hay thế cái dở của chúng ta, rồi đồng hóa cái hay đó thành một điệu nhạc thuần túy Việt Nam. Bao nhiêu công trình đó cũng đủ chứng minh người đời xưa rất có tài về nghệ thuật sân khấu nên mới sáng chế nổi một điệu hát có quy luật, có tinh thần dân tộc, sống thăng trầm qua biết bao nhiêu cuộc bể dâu của mệnh nước và lưu truyền đến ngày nay.

Hát Bội thể hiện bằng một nghệ thuật tượng trưng. Dàn cảnh, dựng màn, phân hồi, ra bộ, cách diễn hết thảy đều mang tính chất tượng trưng. Hát Bội thiết trí sân khấu rất giản tiện. Giữa sân khấu, đạo diễn cho trải một tấm chiếu. Phía trong, đặt một cái bàn. Hai đầu bàn kê vài cái ghế ngồi. Phía sau treo một tấm màn nhung thêu rất đẹp, nghệ sĩ vén lên đi ra đi vô được. Sát tấm màn để cái rương lớn và trên rương chất thêm cái ghế đẩu dành cho vua hoặc vị tướng an tọa khi triều đình mở hội nghị.

Hai phía bên hông của buồng ra vào, treo một tấm màn nhỏ. Hai bên cánh gà sân khấu, nhân viên dàn cảnh thiết kế mỗi bên một cái hàng rào bằng cây sơn son để dựng gươm giáo, tàn lọng, cờ xí làm tăng thêm vẻ nghiêm trang và đồng thời có dụng ý ngăn chặn đám con nít chun vô xem hát “cọp”, sợ các em tràn lên sân khấu phá phách chọc ghẹo diễn viên gây trở ngại cho xuất hát.

Dàn cảnh đơn sơ, thành thử rất dễ cho soạn giả trong việc soạn tuồng, phân cảnh, sắp xếp lớp lang. Sân khấu hát Bội ví như một tờ giấy trắng, trên trang giấy đó, soạn giả mặc tình vẽ rồng vẽ rắn tùy sở thích, không bị chi phối bởi những đoạn đổi cảnh phân màn. Giang sơn triều đình cũng ở đây. Chiến trường, núi non, rừng rậm cũng ở đây. Người xem lắng tai nghe từng câu hát do soạn giả viết rồi tự do thả hồn tưởng tượng, nhận thức sự diễn tiến của thời gian và không gian ăn khớp theo cốt truyện. Đại đa số khán giả đều đọc truyện Tàu tức biết rõ các chi tiết trong tuồng, vì thế không cần bày biện ra cảnh thật. Vừa nghe xong một câu hát, khán giả đã đoán ra ngay nội dung bản tuồng, ý thức được các sự kiện sẽ xảy ra kế tiếp.

Điệu bộ hát Bội diễn biến theo một khuôn khổ nhất định. Từ các động tác cầm thương cỡi ngựa đến cử chỉ vuốt râu đều diễn có tính cách tượng trưng. Tướng Đơn Hùng Tín chuẩn bị tham dự chiến trận, biểu trao thương mã, phía trong cánh gà quân hầu cấp tốc mang ra cây roi ngựa và cây gươm đứng chờ. Quân hầu đứng theo tư thế như một người đang cầm dây con ngựa thật, trình lên chủ tướng. Trường hợp thứ hai, Đơn Hùng Tín trên đường vào hoàng cung chầu nhà vua hay hung tin các tướng dưới quyền tử trận không còn một người, ông lập tức trở về tư dinh từ biệt vợ con lấy thương mã vội vã đi ám sát vua Đường.

Vợ Đơn Hùng Tín có linh tính kế hoạch giết vua sẽ bất thành, hết sức khuyên lơn ngăn cản chồng. Nhưng vì Đơn Hùng Tín thuộc mẫu người anh hùng, cương quyết phục hận, kêu quân sĩ trao thương mã. Cả hai trường hợp, lần nào cũng đòi trao thương mã tham chiến, nên quân hầu phải diễn như thật lúc dắt ngựa, dâng thương cho Đơn Hùng Tín.
Cử chỉ hằn học quyết trả thù, cử chỉ giận sôi máu lúc cầm thương lên ngựa, cả hai đều tỏ ra chí khí anh hùng. Và bà vợ bày tỏ tấm lòng trọn nghĩa với chồng ba lần đứng cản trước đầu ngựa, khán giả mục kích các động tác diễn xuất, hình dung được các nhân vật trong cốt truyện.

Vuốt râu. Nhiều cách vuốt râu, cách nào cũng vậy, miễn sao cho trung thực nội tâm của vai tuồng. Quan văn trung thần vuốt nhẹ, kéo phớt nhanh qua phía bên mặt hay bên trái (nếu một tay đang cầm quạt). Vị quan võ trung thần cầm ngọn chòm râu hất mạnh qua một phía. Quan nịnh thần hai tay nâng bộ râu vuốt từ trên xuống dưới. Ông tướng nóng tánh hai tay nắm chặt chòm râu và vuốt nhanh hàm râu rìa với điệu bộ dữ dằn. Người có nghĩa khí như Quan Công xòe ngón tay trỏ và ngón giữa vuốt nhẹ râu mép tay đồng thời nâng bộ râu đưa thẳng về phía trước.

Nghệ sĩ có tài diễn đúng với nghệ thuật là ra các bộ như cách đưa tay, ngồi dựa lưng, mọi động tác di chuyển đều ăn rập theo nhịp đờn. Bước đi khoan thai, chậm rãi theo từng nhịp trống. Trên khía cạnh tâm lý, chinh phục khán giả hội nhập vào những cảnh ngộ vui, buồn, giận, sợ… của nhân vật trong tuồng, diễn viên phải diễn lã lướt và tỏ ra “màu mè” bằng những qui tắc thông thường như sau:

Khi vui, nét mặt biểu lộ sự hân hoan, đôi mắt sáng lên, giọng cười giòn giã. Nhưng một ông quan trung cười cách khác, quan nịnh cười cách khác. Căn cứ theo giọng cười, người ta phân biệt được kẻ trung người nịnh.
Khi lâm vào cảnh ngộ tang thương bi đát, giàn đờn trổi lên bài Xuân Nữ trước từ hai đến bốn nhịp. Diễn viên nói lối “thương”, dòng lệ rưng rưng trào nơi khóe mắt. Vừa dứt nói lối thương, cất tiếng hát liền bản Nam Ai, nước mắt tuôn dầm dề, khiến người xem động lòng khóc nức nở.
Trường hợp gặp cảnh giận, nghệ sĩ cầm một miếng cây cỡ lòng bàn tay quất mạnh xuống bàn hay ghế nghe bốp bốp. Tay chỉ đối tượng, miệng hét lớn và gằn từng câu dạy bảo. Nhưng nếu diễn viên tài nghệ cao hơn, không cần dùng cây roi, chỉ dùng điệu bộ và lời nói để tỏ sự giận dữ.
Khi bị cấp trên la rầy quở phạt, diễn viên thủ vai cấp dưới quì mọp người xuống đất, mắt láo liên, khuôn mặt biến sắc, bàn tay chắp lại, chân bước nhẹ, bộ tịch co rúm sợ sệt. Rất nhiều điệu bộ khác diễn nỗi sợ sệt. Đây chỉ là một điệu sợ điển hình của bộ môn hát Bội.

Một bà chánh hậu lập mưu hạ sát con trai bà thứ phi bởi vì bà thứ phi mới hạ sanh một đứa con trai. Bà sợ người con trai sau này lên nối ngôi, mình sẽ mất quyền. Trong lúc bàn thảo kế hoạch giết người cùng với tay chân bộ hạ, ở vào trạng thái ganh ghét, mỗi lời nói bà đều nghiến răng, sắc mặt hung dữ, tay run run vì giận. Diễn sự ghen tức nơi nội tâm thường thường lộ ra ngoài bằng cử chỉ và lời nói.

Khác với Tây phương, tỏ tình thương yêu, phong tục người Đông phương tuyệt đối không biểu lộ ra ngoài. Vợ thương chồng, chồng thương vợ hoặc cha thương con, con thương cha luôn luôn dấu kín trong lòng. Trường hợp bất đắc dĩ cả hai phải xa nhau, người chồng kín đáo vịn vai vợ, nói đôi lời than van, an ủi mà thôi, tránh sự âu yếm quá đáng như người Âu-Mỹ.
Hát Bội có nhiều giọng hát: Nói lối, hát Khách, hát Nam, Xướng, Bạch, Thán, Ngâm, Oán, Quân bang, Quân bài, v.v.

Nói Lối. Nói Lối của hát Bội cất giọng rất cao. Có bốn cách Nói Lối: Giọng Xuân, Ai, lối Xẳng và nói thường theo thể văn xuôi.
- Lối Xuân: Nói chậm, phát âm nghiêm nghị. Qua tuồng ”Kim Vân Kiều”, chúng tôi xin trích một đoạn làm thí dụ:


Thiếp Thúy Kiều lạm dự hồng quân,
Nhà Vương thị sớm roi giai lệ
…………………..
Trịnh, Vệ chi màng thói bạc,
Mạnh, Tào dốc đúc gương trong.
Tường đông ai đem dạ bướm ong,
Mái tây cũng mặc người trăng gió.

- Lối Ai: Là một giọng nói buồn, tả tâm sự của một người chứng kiến cảnh đau lòng ly biệt người thương yêu, người thân ruột thịt, nhà vua mất nước, vợ lìa chồng, cha xa con, v.v.


Trông con chi ngớt cơn sầu,
Nhớ trẻ lại thêm nỗi thảm.
………………….
Cố quốc tam thu vân sắc ám,
Tây thiên vạn lý cổ thanh xa.
Nhớ nước hồn nương gió trở lại quê nhà,
Ta không quên một lời thề sông núi.
………………….
Tế liễu còn lộng tiếng quân reo.
Tai chẳng nghe lạc ngựa bình, Liêu,
Mắt luống nhắm ngọn cờ đất Lỗ.

- Lối Xẳng: Nói Lối Xẳng là cách nói nhanh hơn Lối Xuân, cũng ngâm theo văn vần. Lối Xẳng xài trong lúc giận hoặc bày tỏ chí khí cương quyết.

Nổi lôi đình chi nộ.
Phấn thích lịch chi oai.
Phú Ôn Đình em khá tranh tài,
Trừng phạt gã, để răn muôn chúng.

- Lối Thương: Viết bằng văn xuôi. Thí dụ:

Công Chúa giận cũng phải,
nhưng xin Công Chúa nghĩ lại.
Nay tên Bàng Hồng đã xàm tấu cùng Thánh thượng rằng hạ quan là kẻ phản quốc tư thù, nên lệnh trên đã dạy giam từ mẫu nơi ngục nội…

Hát Nam. Không thể chối cải là một giọng hát khá đặc biệt của Việt Nam: buồn, sầu thảm, phản ảnh sự tương tư, nhớ nhung, v.v.. Vì thế nhiều người suy luận một cách phiến diện rằng điệu Nam là do người Chàm sáng tác và lưu truyền lại trong dân gian Việt Nam. Chúng tôi xin cực lực bác bỏ lối suy luận này. Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và tạo nên lịch sử văn học, chẳng lẽ Việt Nam không có một giọng hát buồn thảm, sầu muộn riêng của mình hay sao? Hơn thế nữa cú pháp, câu văn sử dụng trong điệu Nam, lối hành văn rất đặc sắc và thuần thục Việt Nam như: Thượng lục hạ bát, Song thất lục bát, Lục bát gián thất.

Căn cứ vào từng trạng huống, hát Nam có cả thảy năm điệu: Nam Xuân, Nam Ai, Nam Dựng, Nam Chạy và Nam Biệt. Sau cùng là điệu L‎ý nam chuyển qua Ai.
- Nam Xuân: Hát Xuân hơi ngân nga thư thả nhưng đượm nét bi hùng. Nam Xuân dành hát trong lúc đi đường, tả cảnh, tả tình. Mở đầu bản Nam Xuân, soạn giả thường viết bốn hoặc hai câu nói lối xuân.

Lối Xuân
Một sắc thiều quang tỏ rạng,
Đôi nhành mai liễu đua tươi.
Trời xuân cảnh vật chào người,
Nội tử chị em tách dậm.
Nam Xuân
Nội tử chị em cách dậm.
Cảnh vật nhìn vẻ gấm càng tươi.
Thiều quang vừa ngoại sáu mươi,
Đầy đường hoa nở, lắm người đạp thanh.
Trời thanh rạng vẻ xuân xanh.
Mộ người thanh tảo phí tình cửu thiên.

- Nam Dựng: Bản Nam Dựng phảng phất giọng Xuân nhưng tiếng phát âm “dựng đứng” biểu lộ tánh tình cứng rắn của nhân vật trong tuồng.

Tẩu tẩu tấn kỳ xa thượng,
Giã Hạ Bì, chỉ đặm Hứa Xương.
Làu làu tiết rạng đường gương,
Chân nơi Bắc Ngụy, dạ hằng nhớ Lưu.
Tuy là khác giữa đồng bào,
Lời thề ngày trước vườn đào đâu nguôi.

- Nam Ai: Dù ở địa hạt Cải Lương hay hát Bội, Nam Ai vẫn là điệu hát buồn não nuột nhằm tả tâm sự đau thương. Gặp hoàn cảnh cha mẹ xa con, anh xa em, vợ xa chồng, triều thần ly tán, v.v.. thì hát Nam Ai để phơi trần tâm sự nhớ thương của mình đối với người mình thương. Nhờ điệu Nam Ai, đào kép hát Bội dễ dàng lấy nước mắt khán giả và thi thố tài nghệ cũng như giọng hát.

Nói Lối
Ơn dưỡng dục chưa thỏa lòng báo trả,
Nghĩa ân tôi gắng sức đáp đền.
Một lạy xin giả nghĩa tôi đòi,
Trăm năm quyết ghi lời dạy dỗ.
Nam Ai
Dạy dỗ ghi lời vàng đá,
Luống ngậm ngùi ngày hạ đêm đông.
Thưa Thừa Tướng! Xin mở lượng bể sông,
……………………….
Mượn tay cân quắc đỡ lòng tu mi.
……………………….
Dằn lòng một bước ra đi,
Cha lui ngọc các, con về trướng môn.

- Nam Bán Xuân Ai: Là một điệu hát nửa Xuân nửa Ai tục gọi là Nam Bán Xuân Ai. Truyện vui hát Xuân, truyện buồn hát trở qua Ai. Thí dụ đang ca bản Xuân, muốn bắt qua Nam Ai, diễn viên phải nên làm dấu hiệu “lau nước mắt” để giàn đờn biết chuyển qua điệu Ai.

Nam Xuân
Đứng làm trai màng chi lao khổ,
Vái Phật Trời phò hộ chứng minh.
Võ Hoàng còn ngự nam thành,
Có hay nông nỗi sự tình này chăng?
Căm hờn Vệ Luật L‎ý Lăng,
Làm cho lỗi nghĩa đạo hằng quân thân.
Bao giờ… (hát tới đây diễn viên lấy tay giả bộ lau nước mắt)
về tới quê hương

Hát qua Nam Ai:

Mẹ ơi! Ngõ cho thấy mặt từ thân chăng là.
Ngùi ngùi hầu bước chân ra,
Nhớ vua thương mẹ, xót xa đoạn trường.
Trách Hồ Nhung đem lòng hãm hiếp,
Biết ngày nào xum hợp chúa tôi.

Hát trở lại Nam Xuân:

Tiếc sao một cán cờ không
Một người một bóng, bạn cùng sớm khuya.
Hồ Vương độc dữ nhiều bề,
Đời tôi nay biết ra đã lỡ làng!

- Nam Chạy: Bản này dùng trong lúc bị quân địch truy nã, tấn thối lưỡng nan hoặc bị lạc đường, lạc vào rừng không biết ngõ ra. Diễn viên vừa hát vừa chạy giặc gọi ”Nam Chạy”.

Thoát được dây oan lưới họa,
Bước gập ghềnh dìu đỡ lấy nhau.
Một đoàn tớ trước thầy sau,
Chim kêu vượn hú thêm đau đớn lòng.

- Nam Biệt: Khi vợ chồng, mẹ con, anh em sắp xa lìa nhau, thường hát điệu Nam để từ biệt, người ta gọi là ”Nam Biệt”. Thể văn Nam Biệt bắt buộc viết theo niêm luật song thất, nhưng nhiều khi cũng có thể dùng câu lục bát.

Văn song thất:
Bớ phu quân!
Én quy nam, nhạn hồi lãnh bắc,
Ngựa quày đầu, ruột thắt từng cơn.
Văn lục bát:
Bớ mẹ!
Dứt tình, tình lại vấn vương,
Cũng đeo một tấm đoạn trường mà đi.

Đa số các vai tuồng không nói lối trước khi lấy hơi hát bản Nam Biệt. Tình cảnh gấp rút, chia tay vội vã, bớt nói dài dòng, tốt nhất chỉ nói một câu Nam cho vơi nỗi nhớ thương bịn rịn trước khi xa nhau.

Dù vậy, đôi khi soạn giả muốn long trọng hóa giờ phút ly biệt, tăng thêm vẻ tha thiết của một mối tình không tròn ước nguyện, viết thêm một câu ”lối tán” dành cho người ở lại than thở và để “lót hơi” cho người ra đi hát điệu Nam Biệt. Lối Tán là lối nói thật nhanh, phù hợp với tình hình khẩn cấp đang xảy ra.

Lối Tán
Sơn cách, thủy cách, nàng xa cách,
Tinh di, nguyệt di, chí bất di.
Hát Nam Biệt:
Chí bất di, lưỡng đồ ly biệt,
Lệ sụt sùi, chi xiết lòng thương.

- Nam Thiền: Đây là một điệu hát đặc biệt của giọng Nam, dùng cho vai tuồng xuống tóc qui y, xuất gia đầu Phật.

Nói Lối
Nam Mô A Di Đà Phật
Xe rồng em trở lại,
Dặm liễu chị trải qua;
Đã bao năm em an hưởng vinh hoa,
Phò một mối cho tròn huynh đệ.

Hát Nam Thiền
Một mối cho tròn huynh đệ.
Mặc giả từ tướng sĩ quần liêu.
Mặc ai giàu mến sang yêu;
Mưa mai dễ biết, nắng chiều nào hay.
Hư vô là đạo mầu thay;
Hữu công Phật độ, có ngày siêu thăng.

L‎ý bắt qua Nam Ai: Điệu này dùng cho vai đào ngồi dệt lụa, thêu vải hay chinh phụ ru con ngủ, v.v. L‎ý Nam Ai thường viết bằng lối văn “song thất lục bát”.

L‎ý
Trong cửa này, đã đành phận thiếp,
Ngoài mây kia, há kiếp chẳng vay?
(Chuyển qua Nam Ai)
Những mong cá nước xum vầy,
Ai ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
(Trích Chinh Phụ Ngâm)

Để gài câu vô điệu l‎ý, soạn giả viết hai câu Lối Ai và sau đó mới cho diễn viên “xuống” chữ Hồ.

Lối Ai
Ngón kinh luân khéo kết tơ vàng,
Khuôn nhựt nguyệt lần đưa thoi ngọc… Hồ!

Có thể thay thế Lối Ai bằng cách ngâm thơ lục bát:


Xuân đi rồi Xuân lại về,
Nước non cũng vẫn một bề buồn xuân


Hát L‎ý
Kìa một dãy non sông gấm vóc,
Trách ai làm tang tóc cỏ cây
(ngân như vầy: cỏ…ư…ứ…ự cây).
Hát trở lại Nam Ai:
Buồn xuân càng chồng chất đong đầy,
Bâng khuâng nước mất, ai sầu nhà tan.

L‎ý
Tiếc cho mình hồng nhan phận gái,
Biết cách nào hồi phục giang sơn
(trống nhịp chiếc, ngâm: giang…ư…ứ…sơn)
Hát trở lại Nam Ai:
Hỡi ai nam tử bồng tang,
Thây bao da ngựa dặm ngàn chí trai.
………………………..
Ngậm cay e đứt ruột tầm,
Hở môi sợ vách âm thầm nghiểng tai.

- Hát Khách: Hát Khách còn gọi là Bắc Xướng, một điệu hát có đờn, kèn đưa hơi, từa tựa như điệp khúc Đại Quá Trường của Trung Hoa. Xưa kia người Việt gọi người Trung Hoa là Khách nghĩa là người khách ở phương Bắc đến đây tạm trú, không gọi người Hoa Kiều như hiện nay.

Điệu hát Khách cất lên nghe hùng hồn, dũng cảm tạo sự phấn khởi trong lòng. Điệu Khách chỉ dùng cho tướng ra trận truy đuổi quân giặc hay đứng trước một biến cố gì quan trọng.
Hát Khác có cả thảy năm điệu: Khách Thi, Khách Phú, Khách Tử, Khách Tẩu Mã, Khách Tửu.

- Khách Thi: Khách Thi là một loại Đường luật “Thất ngôn tứ tuyệt”.

Nam lao quân, Bắc lao quân,
canh giờ cho nghiêm nhặt à.
Đông trại, tây trại,
tuần thủ tứ vệ môn à.
Cho vào chớ khá cho ra,
ai nghịch mạng chém đầu làm lịnh.
Xướng:
Hắc dạ sơ canh thám đông tây.
Hát Khách Thi
Vị chúa tương tùy bá chiến trung,
Binh cơ tận lực thị anh hùng.
Não can đố địa tâm bất tại,
Bất phách Tào mang kỷ vạn trùng.

- Khách Phú: Nếu câu hát khách soạn trên bảy chữ thì gọi là Khách Phú. Điệu Khách Phú viết văn Phú Lục có vấn đáp. Khi tuồng có hai vị tướng mặt đối mặt tra hỏi về việc giao chiến, thông thường hát giọng Khách Phú.

Tẩu tẩu tại tư (chị có nghe tin)
Lưu Hoàng Thúc Nhữ Nam quy tỵ
Lao lao chi thử, quân
Quan Hầu nhứt lộ phò trì.
Thậm nghi, thậm nghi! Bất thính, bất thính!
Phi nghĩ lại: (Hát Khách Phú)
Tào tháo gian hùng, bỉ tàng
dĩ thiên phương loạn chí,
Quan Hầu nghĩa khí, há bất
năng nhứt tử thù trì.

- Khách Tử: Khách Tử là điệu hát cho việc từ trần.

Khả lân, khả lân a, khả tích khốc,
càn khôn chi tú khí,
………………………..
Kham ta hồ, nhựt nguyệt chi tình di,
Quân tử tồn vong bất đảo khuynh.
Huy đao tự bá ly tình kiếm,
Tam xích hương hồn vãng Ngọc cung.

- Khách Tẩu Mã: Lớp tuồng đề cập tới một người lên ngựa mau mau chạy trốn quân giặc hay trốn tình nhân hay thông báo việc khẩn cấp.

Nói Lối
Thậm cấp chơn thậm cấp,
Chí nguy thị chí nguy.
Nó ùng ùng như lửa muôn xe,
Ta chẳng khác nước kia một gáo.
Hát Khách Tẩu Mã:
Trực vãn sanh phương lữ hổ oai,
Đề thương khóa mã tốc bôn khai,
Vọng khán tề binh truy bá vạn,
Ngô đơn thân tấn thối cùng đồ.

- Khách Tửu: Khách Tửu dùng để hát khi yến tiệc, vua chiêu đãi quần thần.

- Khách Nam Liên Xướng: Một vai hát Nam, một vai hát Khách, nên gọi là “Khách Nam Liên Xướng”.

Hát Nam
Bắc mặt Lam Tri trơ trọi,
Chăn dân trời giữ một niềm ngay.

Hát Khách
Lam Tri huề quyến mã đề kinh,
Cầm hạc tiêu dao tráng thử hành.

Hát Nam
Tang bồng đã trả nợ trai,
Nghĩ mình vinh hiển, thương người lưu ly.

- Xướng: Xướng là nói lớn, nói một cách chậm rãi, nhấn mạnh từng chữ để mọi người đều nghe. Khi mở màn, diễn viên bèn xướng lên đặng tỏ bày tâm sự hay tả tình cảnh trong vai tuồng của mình sắp diễn ngay bây giờ.


Xướng
Thăm quê tịch mịch chánh hoài xuân,
Băng ngọc hồn vô bán điểm trần.
Thượng uyển danh hoa khoa phú quí,
Đông tường điệp sứ uổng lao thân.

- Bạch: Bạch là hình thức trình bày rõ ràng cho mọi người hiểu về vai tuồng. Các vai tướng, kép mùi, đào thương, đào chiến, v.v. trước khi xưng tên họ, phải “bạch” hai câu hoặc bốn câu nói lên chí hướng, tài nghệ của mình. Ngày xưa tuồng hát Bội thường “bạch” bằng những câu hán văn viết làm bảy chữ.


Lưu Bị (bạch)
Tam phân đảnh túc liệt can qua,
Cái thế công danh độc ngã kỳ,
Quan Công (bạch)
Vạn cổ trung can huyền nhựt nguyệt,
Nhứt tâm nghĩa khí định sơn hà.
Trương Phi (bạch)
Thính nhược cự lôi khu hổ báo,
Oai như điển xiết tẩu long xà.
Sau đó ba vai này đồng hô lớn xưng tên họ:
Hội đào viên tá nghiệp Hán gia.
Ngã Lưu Bị… Quan Công… Dực Đức.

- Ngâm: Ngâm theo thơ Đường luật. Giọng nghiêm trang, ai oán và tha thiết hầu tỏ tình thương nhớ vợ chồng, người yêu, người thân một chút nữa đây sẽ xa nhau.


Nói Lối
Rượu tống biệt lưng vơi một chén,
Lệ tương tư chua xót hai hàng.
Hàm sầu thiên các nhứt phang,
Tiễn biệt thi ngâm sổ cú… Hồ…

Ngâm
Cung thềm mới đặng bóng trăng kề,
Tin nhạn mây chia kẻ ở về.
………………………….
Bờ liễu gió câu trời mấy dặm,
Biển sầu lai láng lụy thâm quê.

Hát Nam
Thâm quê ở về chua xót,
Đôi mắt nhìn dòng lệ chứa chan.
Mới gần nhau lại xa nhau,
Chân trời một bước, ruột đau trăm bề.

Ngâm
Tráng sĩ bổn vô nhi nữ lụy
Hành nhơn yên hữu biệt ly thinh.

- Thán: Thán là tiếng than thở. Những đêm trời khuya canh vắng, lòng ngổn ngang vì xa nhà, vì thương nhớ quê hương, không chớp mắt được, thức dậy một mình than trách số phận. Thán thường viết từ bốn câu trở lên.


Đêm năm canh,
ngọn gió buồn,
thổi qua bên hiên nhà.
Người khách buồn thảm,
thỉnh thoảng nghe tiếng chuông ngân
của một ngôi chùa cũ từ xa vọng lại
mà lòng băn khoăn thương nhớ.
Lo lắng cho mẹ ở nhà cách xa ngàn dặm
và nhớ đến tiếng nói cùng bóng hình của mẹ.

- Oán: Oán là ai oán, dùng để khóc thương cho người chết hoặc oán trách vận mạng của mình.


Can tràng đoạn, can tràng đoạn!
Phế phủ phân, phế phủ phân!
Sử quân tao uổng tử,
thị thiếp ngộ lương nhân.
Kỷ tải kinh dinh bá chiến công,
Kim triều vị thiếp ngộ anh hùng.

- Quân Bang: Khi một quốc gia xuất quân đi chinh chiến ngoài biên ải hay một vị tướng điều động binh lính về triều đình hỏi tội đám nịnh thần, quân sĩ cầm quân kỳ đứng tại cửa buồng hoặc chạy vòng quanh sân khấu rồi một tập thể quân hầu hát bốn câu gọi là “hát quân bang” với dụng ý dương oai diệu võ, chụp tinh thần địch quân.

Xét trên phương diện văn chương, văn hát Bội độc đáo về lối viết cổ điển. Các câu nói lối toàn xài thể văn biền ngẫu cân xứng với nội dung lẫn hình thức. Cách hành văn chêm chữ Hán xen kẻ chữ Nôm và cấu kết thành từng nhóm chữ: 4, 5, 6, 7, 8 hoặc viết nhiều hơn.
Văn nói lối tôn trọng sự tao nhã dùng tả cảnh tả tình.


Xịch xạc ba gian lều cỏ,
Ơ thờ một bức mành gai.
Khi xưa vào cát ra đài,
Chừ lại dầm mưa dãi nắng.
………………………….
Trời xanh nguyệt rạng,
Gió mát sóng êm,
Trăng thanh mặt nước rơi vàng,
Sao tỏ da trời ngậm ngọc.

Tất cả tuồng hát Bội, văn nói lối chiếm hầu hết phần mô tả nội dung cốt truyện. Ngoài lối văn biền ngẫu, thầy tuồng còn chêm vào tục ngữ ca dao Việt Nam để khai triển ý tưởng của mình.


Thưa chị, nói làm chi cái giọng,
Chớ em, cam chịu thiệt là phần.
Như chi em ta là, thân cậy đa,
đa cũng cậy thân.
Chớ đừng, kiến ăn cá, cá thời ăn kiến.


Lekt (Theo HTSKCL - Trần Trung Quân)

 http://cailuongvietnam.com/modules.php?name=News&file=article&sid=3114

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4799797