Nói đến cải lương là nói đến điệu ca ngâm mà điều kiện tiên quyết để trở nên một kép hay đào sáng giá là phải có làn hơi ca vọng cổ hay, mùi.
| Cải lương và vọng cổ Saturday, July 21, 2007 | ||
| | ||
| | ||
| Ngành Mai Thật vậy, khi xưa thời những thập niên 1930-1940-1950 muốn trở nên một kép hay đào chánh của các đoàn hát, vô luận lớn hay nhỏ người ta phải ca vọng cổ cho kêu, cho mùi, đó là yếu tố phải có khi muốn bước vào lĩnh vực cải lương, nhiên hậu mới đến các bài bản khác. Thuở mấy chục năm về trước những tên tuổi lớn của sân khấu như Năm Nghĩa, Bảy Cao, Út Trà Ôn bên kép và bên đào như Kim Anh, Năm Cần Thơ đều xuất thân từ ca sĩ sang ca dĩa, ca đài. Về sau Hùng Cường, Thành Ðược, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết... nổi danh trên sân khấu trước từ gánh nhỏ đến gánh lớn, rồi họ mới bước sang lãnh vực thu dĩa, ca đài. Thế nhưng, thời kỳ giữa thập niên 1960 trở về sau đào kép cải lương không nhờ hẳn vào bản vọng cổ mà họ nhờ cả diễn xuất để trở nên nghệ sĩ hữu danh, chẳng hạn như Hùng Cường nhờ có vóc dáng và ca tân nhạc hay nên một sớm một chiều trở nên kép đắt giá. Một yếu tố khác giúp Hùng Cường nổi danh là Bạch Tuyết. “Hiện tượng Hùng Cường-Bạch Tuyết” đã làm cho ông bầu Xuân đoàn Dạ Lý Hương đêm nào rạp cũng đầy khách. Riêng Bạch Tuyết còn được gán thêm danh hiệu “cải lương chi bảo”. Qua năm tháng bản vọng cổ được sửa đổi nhiều, từ nhịp 4 đến nhịp 8 rồi 16 và 32, nhưng ca vọng cổ hay nói khác là diễn tả bài này vẫn không thoát kỹ thuật cố hữu của nó là vô 4 nhịp đầu của câu thứ nhất, rồi dứt chữ cống ở cuối câu. Bản vọng cổ hiện nay chỉ được các nhà soạn giả khai thác 3 câu trong các tuồng hát, cũng như lồng như mấy câu hò Huế hoặc tân nhạc, hay là nói thơ và có khi không ca mà chạy. Hơn thế nữa, những kép hay đào ca trên sân khấu bị chi phối bởi lối diễn sôi động, hay bị không khí vui nhộn do hề tạo ra, nên không khí trầm buồn bị loãng đi, do đó nghệ sĩ mất đi một phần hứng cảm để vô vọng cổ êm và mùi.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=62931&z=82 |