Ông Trần Tấn Quốc, một nhà báo kỳ cựu ở Sài Gòn từ những thập niên 1930-1940, và là một trong bộ “tam sên” Nam Quốc Cang của làng báo Nam Kỳ. Ðó là các ông Nguyễn Kỳ Nam, chủ nhiệm nhật báo Thần Chung; ông Trần Tấn Quốc, chủ nhiệm báo Tiếng Dội, và ông Lê Trung Can, chủ nhiệm tờ Tin Ðiển.
![]() |
| 4 Huy Chương Vàng Triển Vọng Giải Thanh Tâm : Thanh Nga(58),Ngọc Giàu(60), Lan Chi(59) và Bích Sơn(60) |
Ông Trần Tấn Quốc không chỉ là một ký giả, mà còn là một trong những chủ báo đã mạnh dạn chủ trương trang báo kịch trường đầu tiên, nhằm thúc đẩy liên tục sự tiến triển của ngành sân khấu cải lương. Với bút hiệu Thanh Tâm, ông Quốc là người chủ xướng giải Thanh Tâm nổi tiếng thời cải lương cực thịnh của thập niên 1960. Giải Thanh Tâm phát hàng năm cho nghệ sĩ triển vọng, mà giờ đây nhắc lại những ai từng theo dõi hoạt động sân khấu cải lương, sẽ không khỏi ngậm ngùi luyến tiếc cho một giải thưởng nghệ thuật, do bởi tình hình thời cuộc lúc bấy giờ mà phải đình chỉ hoạt động và chết luôn cho đến ngày nay.
Khoảng cuối thập niên 1940 sang đầu thập niên 1950, ông Trần Tấn Quốc là chủ bút tờ nhật báo Buổi Sáng, và vài năm sau thì ông chính thức ra tờ báo Tiếng Dội làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, tòa soạn đặt tại một căn phố ở đường La Grandière (đường Gia Long sau này). Với cương vị đó, nhân dịp kỷ niệm nửa thế kỷ sân khấu cải lương, ông đã phát biểu trên mục Diễn Ðàn Tự Do của đài phát thanh Sài Gòn đêm 4 Tháng Mười Hai 1966. Bài phát biểu của ông nói về sự liên hệ giữa báo chí và sân khấu, sau đó được đăng trên tạp chí bán nguyệt san Tin Văn số 13 phát hành cuối Tháng Mười Hai năm 1966. Thời gian này tờ Tiếng Dội bị đóng cửa, bởi một năm trước đó lúc Tướng Nguyễn Cao Kỳ mới lên làm chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương đã ra lệnh đóng cửa tất cả các báo đang hoạt động và tờ Tiếng Dội bị chung số phận, do đó mà bài phát biểu của ông đã không có dịp được đăng trên tờ báo nhà.
Nhận thấy bài phát biểu của ông Trần Tấn Quốc mang ý nghĩa một giai đoạn lịch sử của bộ môn nghệ thuật cải lương, có thể rất cần cho những nhà sưu tầm lịch sử sân khấu. Chúng tôi còn giữ tài liệu này và xin đăng nguyên văn như sau:
Theo nhiều tài liệu chứng minh, cải lương xuất hiện tại miền Nam Việt Nam tính đến nay đã tròn nửa thế kỷ. Thế mà báo chí biết đến sân khấu mới 16 năm nay, kể ra cũng quá muộn. Quy định thời gian 16 năm là chúng tôi căn cứ từ năm có một tờ báo hằng ngày ở Sài Gòn dành riêng một trương đề cập các vấn đề sân khấu gọi là “Trương Kịch Trường”. Còn trước năm 1950 tại miền Nam cũng có một hai tạp chí chuyên về nghệ thuật, song người chủ trương đặt nặng về màn ảnh, thỉnh thoảng mới nói đến một buổi trình diễn cải lương với tính cách tường thuật hơn là phê bình trên báo hằng ngày. Trước năm 1950 cũng thế, lâu lắm mới có bài nhỏ đề cập một tuồng cải lương nào đó, song với tính cách quảng cáo vì cảm tình hơn là nhận xét trên nhiều phương diện liên quan đến nghệ thuật.
Có lẽ vì chính quyền không ngó tới, báo chí chẳng màng, dân chúng thì xem hát xướng như một trò tiêu khiển, coi sân khấu là một nơi mua vui trong giờ nhàn rỗi, cho nên giới sân khấu nói chung là cải lương nói riêng, có mặc cảm bị xã hội bỏ rơi. Nếu có ai chỉ vào hình ảnh của một hai nữ nghệ sĩ cải lương tiền phong mang đầy huy chương nơi ngực để quả quyết rằng, chính quyền trước kia vẫn chú ý đến nghề hát và khuyến khích những danh tài sân khấu thì chúng tôi xin đáp rằng: Việc ban thưởng huy chương cho nghệ sĩ hoàn toàn có tính cách cá nhân, và ban thưởng sau một buổi trình diễn với ý nghĩa giúp vui cho bậc oai quyền. Nhà vua hay ông toàn quyền ban thưởng huy chương cho nghệ sĩ, không khác nào một khán giả nhà giàu ném tiền lên sân khấu cho đào kép hát bội. Sau cái cử chỉ cao hứng của kẻ dư tiền hay của người cầm quyền cai trị là... hết chuyện, không ai còn liên hệ với ai nữa. Nghệ sĩ không phải ít và không biết bao nhiêu người tài giỏi, thế mà từ trước vỏn vẹn có hai cô đào thanh sắc được ban thưởng huy chương, thì chúng ta cũng đoán hiểu được ý nghĩa của sự ban thưởng này.
Vì cảm thấy xã hội bỏ rơi, giới sân khấu dường như tìm cách để cho xã hội phải nhìn thấy mình. Trong buổi chợ đông hay vào một chiều đẹp trời quyến rũ nhiều người ra đường tại một đô thị nào đó, mọi người ắt phải nhìn một cặp thanh niên nam nữ ăn mặc khác lạ và tác phong quá đáng đối với người Phương Ðông: chàng thì mặc pyjama bằng vải sa ten, thứ hàng dầy bóng láng toàn màu hường, viền xanh. Ðầu chải “bốp, cổ vấn foulard màu, và cặp tay một cô gái phấn son ra phết, xếch ngược chân mày. Sau cái nhìn chú ý, khách đi đường không còn lấy làm lạ,thì họ bảo nhau: “Tụi ban hát” hoặc “Tụi cải lương”! Thì ra dùng hình thức để thiên hạ chú ý đến mình là một việc, còn chú ý để nhận xét mình như thế nào, khen tặng hay chê bai lại là một việc khác.
Ngược thời gian, chúng ta thấy cũng tội cho nghệ sĩ cải lương xứ mình, vì cái thành kiến cay nghiệt “xướng ca vô loại” mà người ta như cố tình chọn lựa những danh từ không đẹp để gán cho giới sân khấu, như nam nghệ sĩ thì gọi là “thằng kép”, nữ nghệ sĩ thì gọi “con đào” và thằng kép con đào có danh từ chung là “con hát”. Soạn giả được gọi là thầy tuồng, và nhạc sĩ thì không gọi bằng thầy mà cũng không kêu bằng thằng, họ gọi chung là “thằng cha thầy đờn”. Anh em dàn cảnh thì gọi là “tụi dọn lớp” hay “bọn kéo đề co” v.v... Còn gọi chung nhân viên của một đoàn hát thì có một danh từ khác la ợ“bạn hát” hay “tụi cải lương”, và chữ bạn trong danh từ bạn hát có nghĩa là “bầy” chớ không phải là thân hữu.
Vì cảm thấy bị xã hội bỏ rơi, thêm đời bạc đãi, đa số người theo nghề hát như muốn phí bỏ cuộc đời mình, tạo ra một nếp sống riêng biệt từ vật chất đến yêu đương, bất chấp dư luận. Vả lại dư luận có để ý đâu mà cần! Họ không còn nhận thấy trách nhiệm hay nghĩa vụ nào khác hơn là làm trò tiêu khiển cho thiên hạ.
Cũng vì xã hội không ngó đến, nên trước kia trong làng ca kịch nảy sinh lắm tệ trạng, bầu gánh thì mặc tình thao túng, xem anh chị em nghệ sĩ là những người làm mướn cho mình không hơn không kém. Bóc lột thẳng tay với nhiều thủ đoạn, nhứt là kể từ ngày chế độ lương tháng được thay thế bằng cách phát lương theo mỗi suất hát, tức lương ngày cho nghệ sĩ và nhân viên trong đoàn thì nghệ sĩ không bao giờ lãnh đủ số lương trong một tháng. Nhiều ông bầu còn đối xử hà khắc như đánh chửi đào kép, sa thải ngang ngược mà không hề bị thưa gởi hay bị phản đối. Có một ông bầu luôn luôn cầm chiếc roi gân bò để đánh đào kép của mình. Gây lộn trong gánh là bị đòn, hát mà không thuộc tuồng cũng bị đòn ngay khi vừa bước vô hậu trường. Vì nợ nần hoặc vì một lý do nào đó mà phải trốn gánh bỏ đi, là cô đào hay anh kép ấy thấy gông cùm và tù tội trước mắt. Sống vào thời buổi “đa kim ngân phá luật lệ”, ông bầu tung vãi tiền ra là nắm gọn luật pháp trong tay để đối xử đào kép của mình. Những tệ trạng của cải lương trước kia kể ra không hết, và kể lại càng làm thêm đau lòng chung cho cả giới. Giờ đây chúng ta nên nhìn hiện tại để nghĩ đến tương lai là hơn.
Ðành rằng, sự đồng tiến của xã hội Việt Nam bắt đầu những năm gần đây đã lôi cuốn sân khấu cải tiến rất nhiều trên mọi phương diện, nhưng cũng phải thẳng thắn nói rằng báo chí đã đóng một vai trò quan trọng trong sự tiến bộ của giới cải lương. Sự kiện này thể hiện rõ rệt nhất là từ ngày báo chí đặc biệt chú ý đến sân khấu bằng cách có nhiều tờ báo hàng ngày dành riêng một trương cho sân khấu như đã nói.
Là một nhà báo, cũng là một ký giả kịch trường, chúng tôi không dám quả quyết nói rằng, gần 20 năm nay, nhờ báo chí nhiệt tình hướng dẫn nên sân khấu mới sáng sủa và tiến bộ như ngày nay. Mà chúng tôi dám nói rằng, cái kết quả đầu tiên và lớn lao nhất của các trang kịch trường là đã nối liền được sân khấu và người đời bằng sự cảm thông nghệ thuật, đã lấp bằng cái hố sâu cách biệt giữa nghệ sĩ và khán giả bằng tình cảm nồng nàn và sâu đậm. Từ quan niệm lỗi thời đến những danh từ không đẹp gán cho giới sân khấu đã bị báo chí đánh đổ và thay thế bằng những mỹ từ nghệ sĩ, diễn viên, nhạc sĩ, soạn giả, ban dàn cảnh v.v... Chúng tôi tin rằng sự thiện cảm của báo chí đối với sân khấu như vừa nói, không một ai phủ nhận được.
(còn tiếp )
tancogiaoduyen (Theo Ngành Mai - NV)