Nói về thoại kịch thì khi xưa đã có lắm người bi quan cho rằng “kịch không sống được ở miền Nam”! Người ta nói như vậy không phải là không có cơ sở, và sự thật đã chứng minh từ thập niên 1960 trở về trước, cải lương hoạt động hằng đêm ở Sài Gòn, cũng như cùng khắp các tỉnh, về tận thôn xã. Trong khi đó thì kịch chỉ diễn ở học đường, hoặc trong những buổi hội hè nào đó của nhóm nhỏ trí thức, chớ không có vấn đề diễn ở sân khấu có bán vé như hát cải lương.
| Có truyền hình thọai kịch lên hương Friday, October 12, 2007 | ||
| | ||
| | ||
| Ngành Mai
Khoảng 1953 ban kịch Tiếng Vang của Thiếu Lang và Tiền Phong Từ Khánh Phụng có vào Sài Gòn diễn được đôi hôm rồi cũng chạy dài. Và sau phong trào di cư thì tại Sài Gòn có ban kịch Anh Vũ của Vũ Ðức Diên, nhưng cũng chỉ diễn được vài ba xuất với kịch bản “Dưới Bóng Thánh Giá” của Hoàng Trọng Miên rồi dẹp, và sau đó thì có ban kịch Hoa Ðăng diễn từ Sài Gòn đến Long An là giải tán. Sự thể như vậy nên người ta có quyền bảo rằng kịch không sống được ở miền Nam cũng không có gì lạ. Thế nhưng, kể từ ngày có truyền hình thì sự việc đã thành trái ngược, kịch được khán giả truyền hình hoan nghinh, ái mộ và thiên hạ theo dõi chương trình của đài TV mong cho mau tới ngày để coi, nhứt là những ban kịch hay. Người ta thử kiểm điểm lại trong làng thoại kịch, trước sau đã có bao nhiêu nhà soạn kịch và gồm những ai? Về bực lão thành tiền bối như Vi Huyền Ðắc, Võ Ðức Diên, Tiền Phong và về sau với những Vũ Khắc Khoan, Thiếu Lang, Bạch Sơn, Vũ Ðức Duy, Ðinh Xuân Hòa, Hoàng Trọng Miên... nhưng trước ngày có vô tuyến truyền hình thì chẳng mấy ai chịu hoạt động, bởi kịch viết ra để xuất bản hay là hát trên đài phát thanh thì không còn gì là kịch nữa. Nói đến kịch là phải nói cái gì người ta thấy được trên sân khấu, hoặc trên màn ảnh lớn nhỏ chớ không để nghe và để đọc. Thực ra thì lúc bấy giờ chính quyền cũng đã lo đến vấn đề âm nhạc và kịch nghệ, nên mới lập ra Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ để quy tụ về đây các diễn viên tiền bối, các nhạc sư tân cổ nhạc, hầu đào tạo một số mầm non có căn bản để tiếp nối đàn anh, chị, chú bác mà phục vụ trên sân khấu. Thế nhưng, những học viên tốt nghiệp kịch nghệ ở trường ra có làm được gì hơn là gôm tụ vào đoàn Ánh Chiêu Dương của ông thầy Nguyễn Thành Châu, và rồi gánh hát này cũng chẳng sống được bao lâu. Ngay chính Giáo Sư Vũ Khắc Khoan dạy ở trường này, là người hăng hái nhứt trong việc làm hồi sinh thoại kịch, đã đưa học viên vào thực hành diễn kịch, nhưng những buổi diễn đó chỉ đến với một số ít khán giả mà thôi. Thành thử ra phong trào thoại kịch bị chìm lỉm trước những bộ môn văn nghệ khác, và phải đợi đến có truyền hình mới vùng lên. Từ khi có truyền hình thì phong trào kịch mới phát triển mạnh, nếu nghe thấy có các ban kịch như Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Kịch Sống thì nhà nhà nô nức đón chờ. Cũng như lúc đã có kịch trên truyền hình rồi thì những tay sành kịch như Vũ Ðức Duy, Ðinh Xuân Hòa, Mỹ Tín đều xuất hiện trở lại. Chính TV đã làm hồi sinh phong trào thoại kịch và các người viết kịch đã cho ra đời những vở kịch hay, đáng kể nhứt là nhà soạn kịch Hoàng Dũng, chuyên cộng tác với ban thoại kịch Kim Cương, và có khá nhiều vở kịch có giá trị. Có điều người ta tự hỏi thoại kịch được hồi sinh mạnh mẽ trên TV, tạo được cho khán giả bao nhiêu khuôn mặt mới như Huỳnh Thanh Trà, Mỹ Chi, Kiều Phượng Loan... mà tại sao thoại kịch lại chẳng thừa thắng xông lên để thật sự ra mắt khán giả trên sân khấu. Hay là các nhà làm kịch sợ rằng một khi đưa kịch lên sân khấu thì cũng chết như cải lương chăng? Bởi khán giả truyền hình họ không mất tiền vẫn coi được, còn khán giả sân khấu thì bắt buộc phải mua vé mới vào rạp. |