Có hai loại đàn hồ là hồ gỗ và hồ gáo
Hồ gỗ
Cần đàn dài khoảng 80 cm được làm bằng gỗ trắc. Trên cần đàn có khuyết đàn (cữ đàn) làm bằng dây tơ se, buộc níu hai dây đàn vào cần đàn. Khuyết đàn có tác dùng để điều chỉnh độ cao thấp (âm vực) của âm thanh. Bầu đàn làm bằng gỗ rỗng giữa, một đầu bịt da trăn hay da kỳ đà (mặt đàn). Mặt đàn có đường kính khoảng 19 cm, trên có gắn ngựa đàn.
Bộ phận lên dây : có hai trục lên dây được làm bằng gỗ cứng cắm xuyên qua đầu cần đàn.
Cung kéo (vĩ kéo) : làm bằng gỗ hay trúc được uốn cong, dây kéo làm bằng nilon hay lông đuôi ngựa dài khoảng 66 cm.
Hồ gáo
Cần đàn dài khoảng 81 cm, được làm bằng tre. Trên cần đàn có khuyết đàn (cữ đàn) làm bằng dây tơ se, buộc níu hai dây đàn vào cần đàn. Khuyết đàn có tác dụng dùng để điều chỉnh độ cao thấp (âm vực) của âm thanh. Bầu đàn được làm bằng gáo dừa, trên có bịt gỗ mỏng, xốp (mặt đàn). Mặt đàn có đường kính khoảng 10,5 cm.
Bộ phận lên dây : có hai trục được làm bằng tre già cắm xuyên qua đầu cần đàn dùng để lên dây.
Cung kéo : bằng trúc được uốn cong, cung kéo được làm từ lông đuôi ngựa, có chiều dài khoảng 52 cm.
Đàn Hồ có màu âm trầm hơn đàn Nhị, đầy đặn, rộng rãi chắc chắn hơn. Màu âm Ðàn Hồ đẹp, ấm hơi trầm phù hợp với tình cảm sâu lắng.
Tư thế diễn tấu : có thể ngồi xếp chân trên chiếu hay trên sập hoặc ngồi trên ghế hay đứng kéo, vừa đi vừa kéo (có dây buộc ngang qua thắt lưng).
Kỹ thuật diễn tấu : Các ngón kỹ thuật diễn tấu nói chung đều rất ít dùng cung ngắt, mà thường dùng cung vĩ rời, cung vĩ liền. Những ngón chạy nhanh, nhảy xa cần hạn chế. Những ngón bấm nên tránh là ngón láy rền, ngón vuốt xa. Ðặc biệt các ngón bật dây có tác dụng tốt.
Kỹ thuật tay trái
Ngón rung : làm tiếng đàn ngân vang mà không khô, cứng. Ngón rung là ngón tay bấm, nhấn nhẹ liên tiếp ở một âm nào đó khiến âm thanh phát ra như làn sóng nhỏ. Ngón rung sử dụng ở hầu hết các âm có độ ngân dài. Người ta có thể rung cả ở dây buông bằng cách dùng ngón tay cái nhấn nhẹ liên tiếp vào khuyết đàn (cữ đàn), cần chú ý không để khuyết đàn tụt xuống sẽ ảnh hưởng đến độ cao của dây đàn.
Ngón vuốt : là cách di chuyển ngón trên dây đàn từ dưới lên trên hay từ trên xuống dưới. Âm vuốt làm tiếng đàn thêm mềm mại, uyển chuyển, gần giống giọng hát, giọng nói dân tộc. Có hai lối vuốt
- Vuốt để chuyển thế tay, lối vuốt này nên tiến hành nhanh và chỉ nên chạm ngón rất nhẹ trên dây, hết sức tránh âm thanh phát ra nghe nhõng nhẽo. Vuốt để chuyển thế tay không cần ghi ký hiệu mà chỉ cần ghi thế tay và ngón bấm.
- Vuốt làm âm thanh dịu ngọt, mềm mại, ký hiệu ngón vuốt như gạch nối giữa các nốt nhạc, đặt trước hoặc sau một nốt nhạc tùy theo từng trường hợp.
Ngón luyến : (cung vĩ liền) là cách dùng mỗi đường cung vĩ kéo hay đẩy để tấu nhiều âm. Sử dụng cung vĩ liền, âm thanh phát ra luyến với nhau, do đó còn gọi là cung luyến. Ngày nay các nghệ sĩ đã sử dụng cung vĩ liền với số âm nhiều hơn trong một cung vĩ. Ký hiệu để ghi cung vĩ liền là dấu luyến đặt trên các nốt nhạc. Khi tấu hết các nốt nhạc đặt trong dấu luyến, đường cung vĩ mới đổi hướng. Trong khi cung vĩ rời biểu hiện những âm thanh khoẻ, dứt khoát, nhẹ nhàng, tình cảm chan chứa, triền miên, có khi bay bổng phơi phới...
Ngón láy rền : đây là kiểu láy nhưng láy nhanh hơn để âm chính và âm cao liền bậc (hay cách bậc) phát ra như làn sóng rền.
Kỹ thuật tay phải
Ngón vê : (cung vĩ rung) cũng là một thứ cung vĩ rời nhỏ tiến hành với tốc độ rất nhanh trên một âm nào đó, dùng cổ tay điều khiển cung vĩ (thường là đầu cung) kéo, đẩy liên tiếp thật nhanh để phát ra nhiều lần một âm nào đó, cung vĩ rung nghe như tiếng Vê ở các đàn gảy dây, thực hiện cung vĩ rung ở các nốt nhạc kéo dài hoặc ở các nốt nhạc ngân ngắn. Ở các nốt nhạc khẩn trương, cao trào hay làm nền trong hòa tấu đều được vì nó diễn tả nhiều tình cảm, nhiều hình tượng khác nhau. Ký hiệu đặt 3 gạch chéo ở đuôi nốt, nếu là nốt không có đuôi thì đặt 3 gạch chéo ở dưới hay ở trên.
Ngón giật : (cung vĩ ngắt rời) là lối đánh ngắt từng âm, mỗi âm do một đường cung vĩ hay kéo ngắn gọn, vĩ không nhấc khỏi dây đàn. Có thể dùng phần đầu, phần giữa hay phần cuối cùng vĩ để đánh ngắt rời, nhưng thường là dùng phần đầu để đánh hơn. Âm thanh cung vĩ ngắt rời phát ra dứt khoát, gọn, nhanh. Thực tế sắc thái của những âm thanh này lại dịu, nhẹ hơn là mạnh mẽ. Thường dùng trong nhịp độ nhanh vừa trở lên. Ký hiệu dấu chỉ cung vĩ ngắt rời là một chấm nhỏ ghi trên hay dưới nốt nhạc.
Vị trí Ðàn Hồ trong các Dàn nhạc
Đàn Hồ tham gia trong Dàn Nhã nhạc, Phường Bát âm, Dàn nhạc Sân khấu Tuồng, Chèo. Ðàn Hồ giữ vai trò quan trọng trong ban nhạc Xẩm, đệm cho các giọng thổ (trung, trầm). Ðàn Hồ không thấy có mặt trong các biên chế Dàn nhạc cung đình ngày trước, cũng như trong Dàn nhạc Tài tử miền Nam, đó là điểm duy nhất mà nó khác với Ðàn Nhị. Nhưng nói chung Ðàn Hồ luôn cặp kè chung với đàn Nhị trong các Dàn nhạc Sân khấu cổ truyền, Cải lương và trong phe văn Dàn nhạc Lễ.
(Theo Giai điệu xanh)