Một cụ già, cụ Sáu Châu, chúng tôi thường gặp ở một nơi gọi là Mười Tám Thôn Vườn Trầu, vùng ngoại ô Sài Gòn, vốn là bạn của ông Cao Văn Hoai (con của nhạc sĩ cổ nhạc Cao Văn Lầu, tác giả bài nhạc bất hủ “Dạ cổ hoài lang”).
![]() |
| Một ban cổ nhạc Bạc Liêu đầu thế kỷ XX. |
Thường Chủ Nhật nào chúng tôi cũng tới cái quán cà phê miệt vườn trầu này, mấy cụ già Nam bộ, trong đó có cụ Sáu Châu, sáng sáng tụ tập uống cà phê, nói chuyện xưa rổn rảng. Cụ Sáu Châu vốn người Bạc Liêu, từng là thành viên trẻ tuổi nhất của một ban nhạc tài tử Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ hai mươi, hiện còn khỏe mạnh, sáng suốt, hiểu nhiều biết rộng. Cụ Sáu Châu nói rằng, người ta vẫn cho là bài “Dạ cổ hoài lang” do Cao Văn Lầu sáng tác từ hoàn cảnh đặc biệt, phải sống xa cách nhau của vợ chồng ông. Nhưng thật ra, “Dạ cổ hoài lang” cũng theo tinh thần “Chinh phụ vọng chinh phu” thời chiến tranh chống thực dân Pháp. Cụ Sáu Châu kể tận tường chuyện này, rằng trường phái cổ nhạc Bạc Liêu mượn tích xưa nói chuyện nay, nỗi lòng của những người vợ xa chồng, cha xa con, gia đình ly tán thời chiến tranh. Những nỗi đoạn trường có thật lúc đó, trong lòng người dân Nam Kỳ, đầu thế kỷ trước.
Và câu chuyện chính, chúng tôi hân hạnh được nghe cụ Sáu Châu nói tới, là người thầy đích thực của những nhạc sĩ cổ nhạc Nam Kỳ, trường phái Bạc Liêu, trong đó có Cao Văn Lầu, là nhạc sư Nhạc Khị. Chúng tôi ngạc nhiên, hỏi sao tên gọi nghe kỳ cục, cụ Sáu Châu cho biết: “Hồi đó người Bạc Liêu hổng kêu mấy ổng là nhạc sĩ, nhạc sư chi hết, chỉ kêu vắn tắt là ‘Nhạc’, với cái tên đi liền sau: Nhạc Khị. Tên trong khai sanh của ổng là Lê Tài Khí, tên ngoài kêu là Hai Khị, bởi vậy mới có cái tên là Nhạc Khị.” Hỏi chuyện nhiều lần cụ Sáu Châu, chúng tôi được biết cả một tiểu sử người thầy cùng một lịch sử của trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, trường phái này đã ảnh hưởng sâu rộng khắp Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ hai mươi.
Nhạc Khị sinh năm Canh Ngọ, tức năm 1870, mất năm Mậu Tý, tức năm 1948. Suốt đời Nhạc Khị ở nơi sinh ra, tại ấp Láng Giài, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Ông lấy vợ là người cùng xóm, có hai người con, người con trai tên là Lê Văn Túc, tức nhạc sĩ Ba Chột, nổi tiếng cùng thời Cao Văn Lầu.
Nhạc Khị là người rất đặc biệt. Sinh ra, ông đã bị thong manh (không nhìn thấy, dù hai con mắt vẫn như bình thường). Hai cánh tay bị cong, người ta gọi là tay cán dá, hai bàn tay nhỏ tóp. Lúc nhỏ, Nhạc Khị lại bị trúng bệnh nằm một chỗ mấy năm khiến một chân bị liệt. Vậy mà ông trở thành một nhạc sư, được giới cổ nhạc Bạc Liêu tôn xưng là hậu tổ, không những được tôn là hậu tổ của trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, mà ảnh hưởng của Nhạc Khị còn sâu rộng khắp Nam Kỳ.
Bậc kỳ tài này vốn chỉ được học từ người cha, là một thầy đàn bình thường, cùng vài thầy đàn khác ở quanh vùng. Cái chính là ông mày mò tự học, tự tìm hiểu, luyện tập, dù tay chân yếu ớt, mắt không thấy đường. Nhạc Khị có thính giác rất nhạy bén với âm nhạc (cụ Sáu Châu nói tiếng Pháp: Oreille musical), và có một trí nhớ lạ lùng, nghe bất cứ bài nhạc nào đó chỉ một, hai lần, là ông có thể diễn tấu lại hệt như vậy một cách sống động. Nhạc Khị sử dụng thành thạo 4 nhạc khí, lại chỉ một mình ông mà tấu lên được cả 4 nhạc khí đó một cách tài tình. Ông lại sáng tác nhạc nữa. Những bài nhạc do Nhạc Khị sáng tác đã phổ biến khắp Nam Kỳ ở đầu thế kỷ XX. Ðặc biệt 4 bài nhạc được giới cổ nhạc gọi là “tứ bửu”: Minh Hoàng thưởng nguyệt, Ngự giá đăng lâu, Phò mã giao duyên, Ái tử kê. Bốn bài nhạc này đều nói lên nỗi đau xót thương cảm của cảnh loạn lạc chiến tranh. Bài “Ái tử kê” vốn được Nhạc Khị đặt tên là “Ai tử kê”, tác giả nêu cảnh gà con mất mẹ, như cảnh dân ta nước mất nhà tan. Người Bạc Liêu đọc “Ai tử kê” thành “Ái tử kê” riết rồi quen, quên tên bài nhạc lúc đầu.
Nhạc Khị đã cải biên bài Nam Ai: Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn, tạo thành một chủ đề quan trọng trong thời thế lúc đó, làm xúc động lòng người, cảm thương với lòng người chinh phụ vọng người chinh phu. Ông cải biên bài nhạc Nam Ai như vậy trong khi đào tạo, hướng dẫn các học trò, không chỉ dạy đàn, ông còn dạy họ sáng tác. Nên trong số học trò của Nhạc Khị, đã sáng tác những bài nhạc bất hủ, như Cao Văn Lầu với “Dạ cổ hoài lang”, Ba Chột với “Tam quan nguyệt”, Trịnh Thiên Tư với “Sầu chinh phụ”...
Những buổi sáng, uống cà phê ở một quán bình dân có bàn ghế tre, chõng tre của vùng Mười Tám Thôn Vườn Trầu, nghe cụ Sáu Châu nghệ sĩ và thông thái nói chuyện, trong đó có nói chuyện kỹ về hậu tổ cải lương Bạc Liêu: Nhạc Khị, quả là những thời gian diễm ảo. Nó ảo vì đã qua rồi, có mà thành không, biền biệt...
Chúng tôi lại gặp trong quyển hồi ký 50 năm mê hát của Vương Hồng Sển, Nhạc Khị - ông Hai Khị ở Bạc Liêu: “...Ông Hai Khị đau cổ xạ, ngón tay co rút và ngo ngoe rất khó, thế mà ông có tài riêng không ai bắt chước được... Ban đầu ông giở mùng cho xem, chỉ thấy trống kèn, chụp chỏa trơ trơ ở trong ấy, thế rồi khách ra ngồi salon, ông Khị chun vô mùng một mình ên rồi bỗng nghe trọn bộ cổ nhạc khua động có tiết tấu nhịp nhàng y như có cả bốn năm người hòa tấu: trống xổ, kèn thổi, đờn kéo ò e, chụp chỏa lùng tùng xòa, các việc đều do Nhạc Khị một mình điều khiển.” Trong cuốn sách Bạc Liêu xưa và nay, tác giả Huỳnh Minh cũng ghi nhận nhạc sư Hai Khị rất mực tài hoa, một mình sử dụng các nhạc khí cùng một lúc rất tài tình điêu luyện...
tancogiaoduyen (Theo Nguyễn Đạt - NV)