Suối Nguồn (SN) : Trong khung cảnh của bài phỏng vấn, xin Giáo sư cho biết về những hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu hát đồng song thanh và âm nhạc nói chung


Suối Nguồn (SN) : Trong khung cảnh của bài phỏng vấn, xin Giáo sư cho biết hiệu quả của hát đồng song thanh trong việc dùng để điều trị bịnh tâm thần như thế nào ?
Gs Trần Quang Hải (TQH) :Trong vấn đề trị bịnh, có nhiều phương pháp trị bịnh thần kinh. Tôi đã phát triển một vài phương pháp trị bịnh qua cách hát đồng song thanh trong ngành âm nhạc điều trị học (music therapy), tâm lý điều trị học (psychotherapy). Tôi đã dùng cách phát âm của hát đồng song thanh để có thể đoán được người hát là một người nhát, hay cứng cỏi, người hát có bản lỉnh hay nhu nhược. Qua cách tập luyện giọng hát đồng song thanh, tôi có thể sửa đổi con người, mang lại cho họ một niềm tin vững chắc, một sức tập trung tư tưởng mạnh, một nghị lực cao cường. Qua cách tập luyện hát đồng song thanh, tôi có thể trị người bị cà lăm bớt cà lăm hay có thể hết cà lăm. Dĩ nhiên là cần phải có sự cộng tác của " bịnh nhân ". Từ 35 năm nay, tôi đã đi dạy hát đồng song thanh tại 60 quốc gia, có trên 8000 người theo học với tôi, và có trên 20 người đã trở thành thầy để dạy kỹ thuật hát đồng song thanh nàỵ
SN : Thưa Giáo Sư, hát đồng song thanh được áp dụng như thế nào trong nhạc đương đại ?
Gs TQH : Trong lĩnh vực sáng tạo âm nhạc, ngoài nhà soạn nhạc trứ danh K. Stockhausen đã viết một nhạc phẩm để đời " STIMMUNG " ( Giọng Hát) vào năm 1968 cho 6 giọng với bồi âm (overtones / harmonics), tôi là người soạn nhạc đầu tiên sử dụng hát đồng song thanh trong loại nhạc điện thanh (Electro-acoustical music) vào năm 1975 khi cùng nhà soạn nhạc Nguyễn Văn Tường cùng viết một nhạc phẩm " Về Nguồn " với nhạc thu băng, và nhạc sống trên sân khấu với đàn môi, hát đồng song thanh, đàn tranh, và muỗng. Bản nhạc dài 75 phút lần đầu trình diễn trên thế giới tại trường âm nhạc thành phố Champigny (ngoại ô Paris) vào tháng 2, 1975. Và lần trình diễn thứ nhì tại Musee Guimet, Paris vào ngày 10 tháng 4, 1975 với sự hiện diện của nhà soạn nhạc sáng lập nhạc điện thanh Pierre Schaeffer, và hầu hết các nhà dân tộc nhạc học Pháp và các nhà viế t nhạc đương đại thời đó. Tôi đã dùng hát đồng song thanh đầu tiên cho nhạc phim thương mại (như phim DIVA của Pháp vào đầu thập niên 1980, và một số phim khác ), cũng như tôi cũng là người đầu tiên dùng hát đồng song thanh trong nhạc Free Jazz (chung với nhạc sĩ Jazz Misha Lobko trong dĩ hát " SHAMAN " do hãng Didjeridou Records phát hành tại Paris vào năm 1983. Năm 1994 một nhà soạn nhạc Hòa Lan đã dùng hát đồng song thanh trong nhạc Opera Tây phương.

Năm 1997 tôi đã đưa hát đồng song thanh vào nhạc đàn môi (nghe CD " Jew's Harps of the World " do hãng Playasound PS 69009, do tôi trình diễn phối hợp đàn môi với hát đồng song thanh) và tôi đã sáng tạo trong việc hòa hợp âm thanh của Didjeridu, đàn ống thổ dân Úc châu do nhạc sĩ Philip Peris thổi cùng với âm thanh của hát đồng song thanh do tôi trình diễn. Kết quả của những cuộc sáng tạo âm thanh đã mang lại cho thế giới âm nhạc nói chung những tác phẩm với các ca sĩ Tây phương hiện có tiếng tăm trong thế giới đồng song thanh như David Hykes, Steve Sklar, Rollin Rachele, Thomas Clements của Hoa Kỳ, Bernard Dubreuil của Canada, Mark Van Tongeren của Hòa Lan, Demetrio Stratos, Roberto Laneri của Ý đại lợi, Michael Vetter, Christian Bollmann của Đức, nhóm Les Voix Diphoniques của Pháp, Sarah Hopkins, Lê Tuấn Hùng của Úc Đại Lợi, Tôi có thể đại diện cho Việt Nam và Pháp và hiện tôi là người đã mang lại cho loại hát đồng song thanh một chỗ đứng tốt trong vườn hoa âm nhạc thế giới.
Năm 2004 tôi cùng Gs Luc Souvet thực hiện một DVD có tên là « le Chant diphonique » (Hát đồng song thanh) do trung tâm địa phương tài liệu sư phạm (Centre régional de documentation pédagogique – CRDP và trường đại học đảo La Reunion thực hiện . Đây là phương pháp dạy hát đồng song thanh cho trẻ em trung học . DVD được dùng trong chương trình giáo dục âm nhạc ở Pháp . Ngoài ra có hai cuốn DVD « Le Chant des Harmoniques » (xuất bản năm 2005) và « The Song of Harmonics » (bản tiếng Anh xuất bản năm 2006) do trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research / Centre National de Recherche Scientifique – CNRS) của Pháp phát hành do tôi là đồng tác giả, diễn viên chánh và người sáng tác nhạc nền cho phim . Năm 2006 có một DVD khác mang tên là « LA VOIX » (Giọng hát) do anh Patrick Kersalé thực hiện với sự cọng tác của tôi và do nhà xuất bản Lugdivine phát hành tại Lyon (Pháp) để giới thiệu các loại giọng hát từ nhạc cổ điển Tây phương tới các loại giọng nhạc cổ truyền thế giới .
SN : Muốn tìm tài liệu về hát đồng song thanh thì làm cách nào , và có thể tìm ở đâu ?
Gs TQH : Tôi đã có hai mạng lưới chuyên về hát đồng song thanh. Trên thế giới hiện nay có trên 50 mạng lưới về hát đồng song thanh. Ngay cả YahooClub cũng có làm một mạng lưới để cho tất cả những ai thích về hát đồng song thanh có thể liên lạc với nhau qua thư điện trên mạng lưới.
Nếu các bạn muốn tìm những mạng lưới, các bạn có thể kiểm trên internet qua http://google.com để tra kiếm trên mạng lưới có bao nhiêu trang nhà về hát đồng song thanh. Nếu các bạn gõ các chữ sau đây như " OVERTONES ", " THROAT SINGING " "KHOOMEI ", " CHANT DIPHONIQUE ", hay " TRAN QUANG HAI " thì các bạn có thể tìm thấy cả mấy trăm ngàn trang về hát đồng song thanh. Ngoài ra bạn có thể tìm kiếm nhiều đoạn phim ảnh về hát đồng song thanh trên http://youtube.com . Tôi có 10 đoạn phim về cách biểu diễn hát đồng song thanh, đàn môi và gõ muỗng . Chỉ cần gõ tên Tran Quang Hai chỗ « tìm kiếm » (search) ở http://youtube.com là thấy tôi biểu diễn các bộ môn vừa kể .
Tốt hơn hết, các bạn có thể viếng trang nhà của tôi : http://tranquanghai.info , và http://tranquanghai.multiply.com thì các bạn có thể đọc một số bài viết của tôi bằng tiếng Anh, Pháp, Ý, Việt về hát đồng song thanh, đồng thời các bạn có thể có một danh sách các mạng lưới có liên hệ tới hát đồng song thanh. Từ đó, các bạn có thể bấm vào trang nhà nào thích thì có thể biết rõ về hát đồng song thanh, các dĩa CD, các bài viết về loại hát này, vv & vv.
SN : Thưa giáo sư, Hát Đồng Song Thanh có một nền tảng dựa trên "kỹ thuật" (sự rèn luyện hơi thở nội lực) và "tâm thức" (sự tập trung tri thức), hay Hát Đồng Song Thanh cần một nền tảng kiến thức âm nhạc hơn? Và nhân tiện đây, xin giáo sư cho đọc giả SN vài nét đặc trưng cuả Hát Đồng Song Thanh nàỵ
Gs TQH: Hát đồng song thanh tạo cho mình một nội lực rất công hiệu. Tôi đã dạy cho nhiều người tập khí công (Qi Kong ) hay Yoga giúp cho họ cách điều khiển hơi thở nội lực. Với phương pháp hát đồng song thanh, tôi có thể hát gần 90 giây không cần lấy hơi. Do đó, tôi thường biểu diễn trên sân khấu hay trong khi dạy khi tôi hát bài " The Ode of Joy " (Hymne a la Joie, trích Giao hưởng số 9 của Ludwig Von Beethoven) một hơi trọn cả bài đó. Cách hát này giúp cho ngưới hát tập trung ý chí rất hiệu nghiệm giống như học Thiền. Tôi đã cho thấy rằng khi hát một bồi âm không thay đổi cao độ trong vòng 30 giây là đủ cho thấy sức mạnh của tập trung ý chí vì chỉ cần nhích miệng một ly là thay đổi cao độ của bồi âm ngay tức khắc. Từ 10 năm nay, tôi có nhiều học trò từ các môn phái Khí công, Yoga, Thái cực quyền, Thiền tới học với tôi để làm tăng cường nội lực trong người. Học hát đồng song thanh không cần phải có một kiến thức âm nhạc hay một kỹ thuật giọng hát cao. Bất cứ ai có thể phát âm ra giọng là có thể hát đồng song thanh. Vì tất cả những bồi âm phía trên của giọng hát chánh là phát xuất từ giọng chánh. Không có giọng chánh là không thể tạo thành những bồi âm phía trên. Cho nên những người tới học với tôi chỉ cần một chút giọng, dù giọng có thì thào cũng có thể tạo bồi âm.
Thế nào là đặc trưng của hát đồng song thanh?
Hát Đồng Song Thanh là hát cùng một lúc ra hai giọng ở hai cao độ khác nhau : một giọng trầm tức là giọng chánh thoát ra từ cổ họng từ đó mới có thể tạo những bồi âm phía trên, và một giọng bổng thoát ra từ sự lựa chọn cao độ bồi âm. Mỗi cao độ bồi âm mang một số chỉ định thứ tự cao độ.
Đặc trưng thứ nhì là giữ không thay đổi cao độ của giọng trầm, trong khi đó có thể tạo thành bài bản với bồi âm. Đặc biệt người Mông cổ, người Tu-va dùng thang âm ngũ cung được cấu tạo bởi các bồi âm theo thứ tự số 6, 7, 8, 9, 10 và 12. Nếu hát cao độ của giọng chánh là DO chẳng hạn, thì cao độ của các bồi âm 6 là SOL, 7 là SIB, 8 là DO, 9 là RE, 10 là MI và 12 là SOL. Do đó với cách hát theo kiểu Mông cổ và Tu-va, người hát có thể hát bất cứ bài hát nào dựa trên âm giai ngũ cung (Sol-La-Đo-Re-Mi-Sol) từ bài " Cò lả " tới các bài ngũ cung như " Amazing Grace ".
Đặc trưng thứ ba là cách hãm giọng chánh cho nhỏ lại và làm giọng tiếng sáo phía trên mạnh hơn. Như vậy khi hát, phải gồng phùng bụng cho cứng, gồng gân cổ, mặt đỏ lòm để hãm hơi cho hơi bớt thoát ra. Cách hát ém hơi thoát từ trong bụng làm cho giọng nghe nhỏ lại trong khi hai dây thanh quản đang khép thật cứng cổ họng được nới ra một chút, hé một khoảng thật nhỏ để cho một ít hơi thoát ra vào trong miệng . Âm thanh thoát ra nghe rất nhỏ , trong khi đó miẽng thay đổi dạng, thể tích bằng cách phát âm các nguyên âm : « u, ô, ơ, a, ê, e, i ». Đôi môi , lưỡi, miệng, và dây thanh quản đóng một vai trò rất quan trọng trong việc chọn lọc các bồi âm để tạo một giai điệu nào đó .
SN : Được biết giáo sư có sáng tạo ra một cây đàn mang tên Cây Đàn Trần Quang Hải, thưa giáo sư, cây đàn TQH được hình thành trong hoàn cảnh nào, và cách sử dụng cây đàn TQH được thể hiện ra sao?
Gs TQH: Cây đàn môi " Trần Quang Hải " dựa theo hình thù cây đàn môi của người Mông, một sắc tộc vùng Việt Bắc (miền Bắc), làm bằng một chất đồng pha thau và vàng. Tôi có ý nghĩ này cách đây vài năm. Tình cờ một hôm gặp em Hồ Bách Nghĩa, ở gần nhà, lại làm nghề thợ bạc ở Việt Nam lúc trước. Nghĩa khéo tay và bằng lòng góp công vào việc sáng tạo cây đàn môi "Trần Quang Hải ".

Lúc đầu Nghĩa không tìm ra giải pháp làm sao có thể cắt thật mỏng lưỡi gà bên trong khung đàn. Mỗi lần làm là mỗi lần bị gẫy khung vì bị bào mỏng quá. Tới một hôm, Nghĩa thành công với chiếc đàn đầu tiên, nhưng chỉ đàn được có 2 phút rồi cũng gẫy. Hai tháng sau, Nghĩa thành công với cây đàn có âm thanh trong trẻo. Hai tháng nữa, Nghĩa mang lại cho tôi một cây đàn hoàn hảo hơn với hình thù đẹp hơn cây đàn môi của người Mông. Tôi nghĩ là cây đàn này khi không có đàn thì có thể ghim vào tóc làm một nữ trang coi đẹp. Sau cùng, đúng một năm sau, tôi hoàn thành cây đàn môi " Trần Quang Hải " vào năm 1997 với 10 cây đàn môi duy nhứt. Tôi phải bỏ ra gần 20.000 quan Pháp (lúc đó tương đương với 3000 dollars US). Tôi có trình diễn vài lần cây đàn này trên sân khấu. Tôi có tặng một cây đàn môi cho viện bảo tàng xứ Nam Phi, một cây đàn cho viện bảo tàng đàn môi của thành phố Molln (Áo quốc). Tiếng đàn môi nghe êm, nhẹ, ngân vang. Đây là bước đầu của giai đoạn thể nghiệm. Tôi không có điều kiện để tiếp tục, đành phải gián đoạn, mà không biết tới lúc nào tôi mới có điều kiện để tiếp tục việc thể nghiệm nàỵ
Dù thế nào đi nữa, cây đàn môi " Trần Quang Hải " đã chào đời tại Pháp vào năm 1997, trong ngôi nhà của tôi ở thành phố nhỏ bé Limeil Brevannes, cách Paris độ 20km. Tôi có thu tiếng đàn môi này trong dĩa CD " Guimbardes du Monde / Trân Quang Hai " phát hành nàm 1997 để lưu lại cho hậu thế.
SN: Thưa giáo sư, ngoài 2 nghiên cứu về Hát Đồng Song Thanh và Cây Đàn TQH, giáo sư còn có những nghiên cứu thành công nào khác mà đọc giả SN chưa được biết không ạ? SN rất mong được biết sự chia sẻ kinh nghiệm này cuả giáo sư.
Gs TQH: Có hai công trình nghiên cứu mới nhất của tôi chưa được công bố chánh thức. Công trình thứ nhứt là việc tôi nghiên cứu làm sao có thể hát thấp hơn cao độ chánh của giọng thoát từ cổ họng. Tôi đã bỏ ra 30 năm để nghiên cứu những bồi âm phía trên giọng chánh. Bây giờ tôi nghĩ biết đâu mình có thể hát thấp hơn giọng mình dùng để nói chuyện. Sau nhiều tháng suy nghĩ, tôi thử nhiều cách nhưng không thấy có kết quả.
Một hôm tôi tằng hắng vì bị ngứa cổ. Bỗng tôi nghe có một giọng trầm một bát độ thấp hơn giọng chánh của tôi. Tôi thử đi thử lại nhiều lần. Tôi có cảm giác là có một cái gì khác trong cổ thêm vào âm thanh của giọng của tôi. Sau cùng tôi gọi điện thoại cho một người bạn bác sĩ chuyên về giọng, BS Jean Abitbol để ông ấy xem bên trong cổ họng của tôi có gì thay đổi khi hát như vậy không? Ông Abitbol dùng naso-fribroscopy với một cái ống dài 25cm thọt vô lỗ mũi bên trái đi sâu vào bên trong cuống họng. Khi gần tới dây thanh quản, ông ấy ngừng lại và quan sát trong khi tôi hát theo giọng khào khào.
Ông ta bỗng la lên : " Úi chà ! có một bộ phận khác rung động phân nửa tốc độ ! ".
Tôi cũng vừa giựt mình vừa khoái chí. Tôi hỏi : " Cái gì rung động vậy, Jean? ".
Jean đáp : " Arythenoides rung ! Ít khi thấy chuyện này ! "
Kể từ ngày đó (năm 1996) tôi khám phá là tôi có thể dùng một bộ phận khác trong cổ họng để hát. Sau nhiều tháng, tôi khắc phục kỹ thuật dùng bộ phận gọi là " arythenoides " nằm phía trên dây thanh quản để làm cho nó rung và có thể phát ra một âm thanh không đẹp lắm nhưng đủ sức mạnh để có thể rõ cao độ của nó. Một năm sau, tôi trình bày thành quả đầu tiên tại một hội nghị quốc tế ở Philadelphia (Hoa Kỳ ) chuyên về giọng. Cho tới ngày hôm nay tôi có thể hát dưới cao độ của giọng nói của tôi tới hơn hai bát độ Và tôi bắt đầu thể nghiệm cho việc dùng kỹ thuật này để giúp cho những người mất giọng có thể nói chuyện trở lại được. Kết quả chưa có công bố chánh thức nhưng rất phấn khởi trong việc thí nghiệm nàỵ
Công trình thứ hai là thể nghiệm những nguyên âm của Yoga để xem cách dùng Yoga để hát các nguyên âm mà từ trước tới nay các người thầy vẫn dạy mà không hiểu làm thế nào để có thể tạo âm thanh cao theo đúng thứ tự của 7 điểm mạch gọi là CHAKRA. Tôi mới đi hỏi thăm các thầy dạy Yoga những nguyên âm nào. Tôi đọc thử, thấy không có hiệu quả gì. Tôi biết là có 7 chakras:
1. muladhara (giữa xương khu và hậu môn),
2. svadhisthana (ngay bộ phận sinh dục),
3. manipura (rún)
4. anahata (trái tim),
5. vishuđha (cổ họng ),
6. ajna (chính giữa hai con mắt), và
7. sahasrara (trên đỉnh đầu ).
Sau nhiều tháng thử thách, tôi khám phá ra là cao độ của giọng chánh rất quan trọng. Tôi không thể hát cao quá hay thấp quá. Chỉ khoảng nốt FA 2 hay MI 2 là có thể tạo những bồi âm cố định với các nguyên âm sau đây : 1. U ; 2. Ô ; 3. Ơ ; 4. A ; 5. Ê ; 6. E ; 7. I. Trong khi tôi hát với cao độ của nốt FA2 tương đương với 170 Hz, cái đầu lưỡi đụng vào đốc giọng. Trong khi tôi đọc các nguyên âm U, Ô, Ơ thì bồi âm số 4, 5, 6 thoát ra. Sau đó tôi tập với các nguyên âm khác A, Ê, E thi ` các bồi âm 8, 9, 10 thoát ra. Sau cùng chữ I cho ra bồi âm 12. Vào tháng 3 năm 2002, tôi tham dự đại hội quốc tế Yoga.
Tôi đã trình bày kết quả sơ khai tôi vừa thể nghiệm gần đây. Có thể trong vài tháng nữa, tôi sẽ khắc phục kỹ thuật này để có thể làm thành một lý thuyết mới cho cách học hát Yoga. Đó là hai công trình nghiên cứu của tôi mà cộng đồng Việt Nam chưa biết. Ai cũng nghĩ tôi là nhạc sĩ đàn tranh, hát dân ca, hay đánh muỗng, hát đồng song thanh hay đàn môi trên sân khấu. Khía cạnh của nhà nghiên cứu về giọng không có công bố ra ngoài và ít khi tôi đề cập tới vấn đề này vì quá chuyên môn.
SN: Trong trào lưu cuả Âm Nhạc Hải Ngoại thời này, thưa giáo sư, việc nghiên cứu thành công cuả giáo sư sẽ được xem là một sáng tạo như thế nào (theo giáo sư)? Và nhân dịp nói về Sáng Tạo trên lãnh vực Âm Nhạc Hải Ngoại, Suối Nguồn rất mong được đón nhận những nhận xét và lời nhắn nhủ của giáo sư.
Gs TQH: Trong việc nghiên cứu của tôi, có thể nói là một con đường mới trong địa hạt nghiên cứu. Theo thói thông thường, dấn thân vào nghiên cứu có hai con đường. Con đường 1 là nghiên cứu bên ngoài, tức là chỉ cần mang máy móc tới một thành phố, một làng mạc rồi thu thanh, quay phim, chụp hình. Sau đó về nhà, nghe lại, phân tách và hoặc viết bài, làm dĩa hát, làm phim, vv...không cần phải biết ngôn ngữ của sắc tộc nghiên cứu. Con đường 2 là học thật kỹ tiếng nói, phong tục, truyền thống của sắc tộc nghiên cứu, sống một thời gian với dân tộc đó, và làm một luận án thật nghiêm túc. Có thể lập gia đình với sắc dân đó. Có thể học hát, học đờn của sắc tộc đó, và có bổn phận bảo vệ sự sống còn của sắc tộc đó. Con đường 3 tôi đi hoàn toàn mới vì chỉ thể nghiệm thôi, chứ không phải bắt chước. Việc lựa chọn hướng đi nghiên cứu của tôi trên thế giới này rất hiếm có người thực hiện được . Bởi lẽ tôi trở thành « vật thí nghiệm » (cobaye) của chính tôi. Cách nghiên cứu này gọi là « recherche introspective / introspective research » . Tôi nghe một tài liệu về giọng chẳng hạn . Sau đó tôi tự bắt chước để làm hát giống như giọng của tài liệu đó . Đôi khi phải mất hàng tháng , hát khan cả cổ. Kết quả có khi thành công , có khi cũng thất bại . Nhờ có máy đo tầng số các bồi âm cho thấy hình ảnh của từng loại giọng nghiên cứu mà tôi đạt kết quả mau hơn. Khi luyện tập đàn môi , lúc đầu tôi tập kỹ thuật căn bản . Sau đó nghe tài liệu thu thanh qua dĩa hát các loại đàn môi trên thế giới . Vừa nghe vừa tập theo cho tới khi thấm nhuần . Rồi tự phân tách qua máy đo tầng số bồi âm (máy Sonagraph, bây giờ có rất nhiều phần mềm về đo tầng số - logiciels pour l’analyse des fréquences / softwares for frequency analyses như Frequency Analyzer 1.0 hay 2.0, Gram 6, hay Overtone Analyzer dùng cho máy vi tính PC hay Audio Sculpt cho máy vi tính Macintoch.
Tôi đã học căn bản hát đồng song thanh, kỹ thuật đàn môi, kỹ thuật gõ muỗng, kỹ thuật khảy đàn tranh, v.v... Sau đó tôi pha trộn các kỹ thuật của mỗi bộ môn để tìm một hướng đi, một sáng tạo. Sáng tạo của tôi chỉ được áp dụng trong thế giới Tây phương và trong các công trình sáng tạo đương đại, từ nhạc điện thanh (Elecro-acoustical music) đến nhạc techno, nhạc tùy hứng (Improvized music), Trong thế giới tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại, việc sáng tạo về giai điệu (melody) được tìm thấy qua các nhạc phẩm mới như đã tìm thấy trong Nhóm Nhạc Việt gồm có 80 hội viên sau gần 7 năm thành lập. Nhờ có một nơi quy tụ những người dùng âm nhạc để tiêu khiển mà có thể phát sinh ra những nhạc phẩm mới, có màu sắc mới, có một luồng gió mới thổi vào rùng hoa tân nhạc Việt Nam. Về nhạc đương đại theo chiều hướng nhạc cổ điển Tây phương đương đại, tôi thấy ít có lối đi vì rất ít người Việt có đủ khả năng dấn thân vào con đường khó khăn này. Chỉ tại Hoa Kỳ em Phan Quang Phục đã thành công và hiện được xứ Mỹ xem là một trong 6 người nhạc sĩ trẻ của xứ Mỹ có tài năng ngoại hạng. Em Phục được giải thưởng Prix de Rome, một giải thưởng rất quý và xứng đáng cho một tài năng đặc biệt. Phan Quang Phục đậu tiến sĩ âm nhạc về địa hát sáng tác (composition). Hiện là Associate Professor về âm nhạc mới của Indiana University, Hoa Kỳ. Ở Úc châu có Hoàng Ngọc Tuấn đang viết luận án tiến sĩ âm nhạc, cũng có ý canh tân hóa dân ca theo cách hòa âm đương đại. Lê Tuấn Hùng, Đặng Kim Hiền cũng có sáng tác nhiều nhạc phẩm pha trộn giữa nhạc cổ truyền Việt Nam và nhạc đương đại quốc tế.
Bên Pháp có Nguyên Lê, một nhạc sĩ trẻ Việt Nam chuyên về Jazz đã phối hợp dân ca Việt Nam với Jazz. Vấn đề của Việt Nam là phải có một chương trình giáo dục âm nhạc hẳn hòi ở Việt Nam để cho những thế hệ sau có đầy đủ căn bản âm nhạc thì lúc đó việc phát triển nhạc mới có hiệu quả. Chứ còn như hiện nay, trong xứ nhạc không có đường lối, không có hướng dẫn thiết thực, mạnh ai nấy đi, không có đường hướng rõ rệt. Một nhạc sĩ sáng tác trẻ ở Việt Nam tên là Vũ Nhật Tân, vừa là giáo sư dạy sáng tác của âm nhạc viện Hà nội, vừa là nhà sáng tác nhạc đương đại và trình diễn đạt được nhiều kết quả thành công trong xứ và hải ngoại .
Ở hải ngoại, cũng không hơn gì. Đa số chỉ thích nhạc mới, nhạc trẻ, dễ nghe, hay nhạc tiền chiến để nhớ lại một giai đoạn nào đó trong cuộc đời. Tôi chỉ ước mong sao các trẻ em Việt Nam ở hải ngoại nên thừa dịp ở xứ người để hấp thụ âm nhạc và hiểu rõ vai trò âm nhạc cổ truyền Việt Nam như thế nào để có thể tự hào. UNESCO đã ban tặng nhạc cung đình Huế vào năm 2003 và nhạc cồng chiêng Tây nguyên vào năm 2005 danh hiệu « kiệt tác văn hóa phi vật thể của nhân loại ». Năm 2007, Việt Nam chuẩn bị hai hồ sơ « Ca Trù » và « Quan Họ » để hy vọng được UNESCO chú ý tới và chấp nhận cho vào danh sách « kiệt tác văn hóa phi vật thể ». Như vậy cho thấy nhạc dân tộc có nhiều sắc thái rất độc đáo. Nhạc Việt có nhiều loại nhạc rất đặc trưng như « Ca Trù », « Quan Họ », « Chèo », « Chầu Văn », « Hát Xẩm », « Múa, rối nước », « Nhã nhạc », « Ca Huế », « Đàn tài tử », « Cải lương ». Về phía nhạc cụ, xứ Việt Nam đã đóng góp vào gia tài nhạc cụ thế giới với nhiều nhạc cụ độc đáo chỉ có duy nhất tại Việt Nam và do người Việt sáng tạo như « Đàn đáy », « Đàn bầu », « Sinh tiền », «Kơ ní » (của sắc tộc Gia Rai). Ngoài ra các em nên học hỏi thêm về nhạc cổ điển Tây phương để có thể hiểu một phần nào cái hay đẹp của nhạc hòa tấu (musique symphonique / symphonic music), của hát opera, của nhạc thính phòng (musique de chambre / chamber music). Hiểu được nhạc xứ mình, thấm nhuần nhạc xứ người, mình trở thành người giàu về văn hóa âm nhạc hơn người Tây phương và từ đó các em tự nhiên sẽ thấy tự hào mình là người Việt, tự hào về văn hóa Việt .Đó là vai lời nhắn nhủ của tôi đối với thế hệ trẻ Việt Nam ở hải ngoại SN: Xin cám ơn giáo sư đã bỏ ra rất nhiều thời gian cho cuộc phỏng vấn nàỵ Là một trong những người trẻ lớn lên lại hải Ngoại, Thơ thơ cũng như ban biên tập Suối Nguồn hy vọng những nghiên cứu của giáo sư sẽ có thêm nhiều tâm hồn yêu âm nhạc bước và noi theọ Những sáng tạo, khám phá này sẽ mãi mãi vang vọng, sáng chói trong nền âm nhạc Việt Nam và thế giới. Xin cảm ơn giáo sư thật nhiều.
http://www.ledinh.sitesled.com/Bai%20Le%20Dinh%20Quang%20Hai%202.html