Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nghệ sĩ từ trần

PHAN ANH DŨNG : Nắng Chiều - Tưởng nhớ nhạc sĩ LÊ TRỌNG NGUYỄN

 Mấy hôm đầu năm tôi vẫn lấy thêm ngày nghỉ, vì biết thứ hai mùng 7 đặt chân vào sở thì công việc sẽ ngập đầu! Trong lúc đang "nghỉ dưỡng sức" thì một buổi sáng đẹp trời, nhưng lạnh kinh khủng, nhận được email của bà quả phụ Lê Trọng Nguyễn, tức chị Nguyễn Thị Nga. Chị yêu cầu tôi lấy mấy bài nhạc Nắng Chiều và Sao Đêm từ CD Nhạc Lê Trọng Nguyễn để gởi cho anh Nguyễn Đức Nam làm một chương trình nhạc trên Đài Phát Thanh,Truyền Hình vùng Hoa Thịnh Đốn. Nhân dịp này, tôi nghe lại toàn bộ 2 CD Lê trọng Nguyễn Collection Volume 1 & 2. Rât thích thú với những khám phá mới về giai điệu và lời của những bài ít phổ biến như: Cát Biển, Tìm Nơi Em, Sóng Nước Viễn Phương, Màu Tím Hoàng Hôn, Nhớ Thu Hà Nội v v Tôi cũng bỏ thì giờ xem lại các bài viết về Lê Trọng Nguyễn tôi thu thập trong máy computer. Tình cờ biết ngày giỗ thứ 4 của Ông sắp tới: ngày 9 tháng 1.

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=546&Itemid=47

NẮNG CHIỀU - TƯỞNG NHỚ NHẠC SĨ LÊ TRỌNG NGUYỄN - Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

 

Về các bản nhạc của Ông, Tâm Hảo thích và đã hát bài Lá Rơi Bên Thềm trong nhiều cuộc họp mặt thân hữu. Riêng tôi thì thích nhất bài Sao Đêm vì giai điệu lạ, có âm hưởng jazz, lời cũng đẹp, đầy trăng sao, mơ mộng! Được biết Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn ưng ý nhất tác phẩm này về mặt nghệ thuật. Cách đây mấy tuần, tôi có dịp hát tại nhà ca sĩ Hoàng Tiếp và bàn về lời của bài hát này với một số thân hữu, trong đó có thi họa gia Vũ Hối, người cùng quê với Lê Trọng Nguyễn.

Tuy chưa gặp mặt nhưng tôi đã có đọc nhiều bài viết ngợi khen các cá tính điềm đạm, nhân hậu và khiêm nhường của Ông. Các Đặc San của Hội Quảng Nam-Đà Nẵng mọi nơi cũng có đăng những bài viết của Ông và của bạn bè kể lại những kỷ niệm vui buồn trước 1975 ...

Tháng 6 năm 2006 tôi có dịp gặp chị Nga trong đêm nhạc Chiều Nhớ do Câu Lạc Bộ Văn Học Nghệ Thuật vùng Hoa Thịnh Đốn tổ chức. Tháng 8 sau đó lại gặp chị ở Quận Cam Cali. Thỉnh thoảng chị vẫn hỏi thăm và thông báo các buổi tổ chức giới thiêu CD của Lê Trọng Nguyễn, như kỳ chị đến Paris tháng 11 vừa qua.

Trong lúc rảnh rỗi này tôi bèn khởi sự sưu tầm các bài viết, chương trình phát thanh, chương trình kỷ niệm về Lê Trọng Nguyễn và được sự hợp tác nhanh chóng của mọi người: chị Nga, anh Trần Quang Hải, anh Thanh Trang, Mộng Trang ... Xin thành thật cám ơn tất cả. 

Quý vị nào có bài viết, hình ảnh, kỷ niệm với Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn, xin vui lòng gởi về email của tôi: dathphan@comcast.net This email address is being protected from spam bots, you need Javascript enabled to view it  

Phan Anh Dũng (Richmond, Virginia - 4 tháng 1 năm 2008)

                                          TIỂU SỬ: 

                                                              

Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn sinh ngày 1 tháng 5 năm 1926 tại Điện Bàn, Quảng Nam. Cha mất sớm, mẹ ông nuôi hai con đến tuổi trưởng thành. Em gái lập gia đình và sớm qua đời, Lê Trọng Nguyễn và mẹ nuôi ba đứa cháu nhỏ.

Ông từng học ở Hà Nội trong khoảng 1942 đến 1945, thời gian đó ông có làm bạn với nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Trước 1954, Lê Trọng Nguyễn từng phụ trách âm nhạc cho toàn thể Liên khu Năm (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên), nhưng sau đó ông rời bỏ và về cư trú tại Hội An.

Lê Trọng Nguyễn có dạy âm nhạc tại trường trung học Nguyễn Duy Hiệu. Sau khi theo học hàm thụ trường Ecole Universelle của Pháp, ông tốt nghiệp và trở thành hội viên của S.A.C.E.M. - Hội Nhạc Sĩ Pháp (La Société des auteurs, compositeurs et éditeurs de musique) với một số tác phẩm, trong đó được biết đến nhiều hơn cả là bản Sóng Đà Giang.

Tuy là một nhạc sĩ, nhưng Lê Trọng Nguyễn không sống bằng âm nhạc. Năm 1965, ông làm Giám Đốc Công Ty Centra Co., một công ty thương mại của Pháp. Từ năm 1968, ông là Giám Đốc Điều Hành của Công Ty Sealand tại Đà Nẵng. Năm 1970 sau khi lập gia đình với bà Nguyễn Thị Nga, ông từ bỏ chức vụ Giám đốc công ty SeaLand về sống tại Sài Gòn. Năm 1973, ông làm Giám Đốc Nhà Máy Dầu Hỏa Cửu Long. Sau biến cố 1975, ông mở lớp dạy nhạc tại nhà và tự chế tạo các loại đàn do chính tay ông làm để sinh sống.

Lê Trọng Nguyễn đến Hoa Kỳ vào tháng 3 năm 1983, định cư tại Rosemead, California cùng vợ và bốn người con. Ông mất ngày 9 tháng 1 năm 2004 tại bệnh viện City of Hope, Rosemead, California vì bệnh ung thư phổi.

Lê Trọng Nguyễn viết ca khúc đầu tay Ngày Mai Trời Lại Sáng năm 1946. Ông sáng tác không nhiều, nhưng các nhạc phẩm của ông đều giá trị nghệ thuật cao, với giai điệu và lời ca trau truốt, nhiều hình ảnh đẹp. Trong những tác phẩm của Lê Trọng Nguyễn, nổi tiếng và phổ biến rộng rãi hơn cả là bản Nắng Chiều, được ông sáng tác vào năm 1952. Nhạc phẩm này không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà nó còn được biết tới nhiều ở Nhật Bản, Đài Loan và ở Hồng Kông với tên Bản Tình ca Việt Nam. Nắng Chiều cũng là ca khúc trong bộ phim cùng tên năm 1971 của đạo diễn Lê Mộng Hoàng với sự tham gia diễn xuất của diễn viên nổi tiếng Thanh Nga. Trong một cuộc phỏng vấn, Lê Trọng Nguyễn đã nói: "Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành... Tâm sự tôi trong bài Nắng Chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 3 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!"

Năm 2003, ông viết xong "Nghệ Thuật Viết Nhạc", sẽ được gia đình cho xuất bản trong tương lai.

"Lê Trọng Nguyễn không chỉ là một nhạc sĩ có tài, ông còn là một học giả uyên bác về âm nhạc mà tôi thường bàn luận trong nhiều dịp sáng tác ..." như lời nhận xét của Phạm Đình Chương, người bạn thân của ông.

                                                       

Tác Phẩm:

Bến Giang đầu (Nắng chiều 2)           Cánh nhạn bay qua              Cát biển (Hoàng hôn trên biển cả)         Chiều bên giáo đường
Chim chiều không tổ                         Cung điện buồn                   Dạ khúc                                                 Đêm mưa bão
Đừng quên nhau                               Hương một đêm trăng         Khi bóng đêm về                                   Lá rơi bên thềm
Let's come closer                               Lời việt nữ                           Màu tím hoàng hôn                               Màu tím cuộc đời
Mộ khúc                                            Nắng chiều                           Ngày mai trời lại sáng                            Nguyện cầu
Nhìn biển bơ vơ                                 Nhớ thu Hà Nội                     Sao đêm                                               Sóng Đà Giang
Sóng nước viễn phương                    Thuyền lãng tử                    Tìm nơi em                                            Tình vui thôn trang
Trăng lại sáng                                    Vầng trán đau buồn
 

Ghi chú:
Cát Biển (sáng tác chung với Y Vân); Lá Rơi Bên Thềm (lời: Nguyễn Hiền); Sóng Nước Viễn Phương (lời: Thẩm Oánh); Trăng Lại Sáng (lời: Hồ Văn Thiết); Màu Tím Hoàng Hôn (lời: Nguyễn Hiền)

                            

                                        Tập Nhạc với thủ bút của Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn trên trang bìa

               

                                                           NHẠC LÊ TRỌNG NGUYỄN - CD COLLECTION VOLUME 1

                

                                                     NHẠC LÊ TRỌNG NGUYỄN -  CD COLLECTION VOLUME 2       

      Mời quý vị nghe: NẮNG CHIỀU - tiếng hát: Thái Sơn   NẮNG CHIỀU - tiếng hát: Hạnh Nguyễn (lời Nhật)     NẮNG CHIỀU (lời Hoa)

                  CHIỀU BÊN GIÁO ĐƯỜNG - tiếng hát: Kim Tước      CÁT BIỂN - (viết chung với Y Vân) - tiếng hát: Quang Tuấn

                 BẾN GIANG ĐẦU - tiếng hát: Xuân Thu   NGÀY MAI TRỜI LẠI SÁNG - tiếng hát: Quang Minh

 

                                          Một Chuyến "Dinh Tê" - Lê Trọng Nguyễn

Lòng tôi đau như cắt, luôn luôn trước mắt cái cảnh hai người thương nhất đời mình là mẹ và em gái phải chịu khốn khổ, gầy mòn đau ốm mà không có lấy một viên thuốc dưới bầu trời bom đạn. Nên, cho dù đã biết kháng chiến chống Pháp có đẹp bao nhiêu, tôi cũng xin cúi đầu quay mặt tạ từ.
    Năm 1952, tôi rời Bồng Sơn (Bình Định) ra Tam Kỳ (Quảng Nam) cùng với một người bạn dựng một trại mộc làm đàn mandoline và guitare. Vào khoảng tháng 6, tôi gặp một số học sinh có ý định về thành để tiếp tục con đường học vấn. Có bốn cậu: Tạ Ký, Nguyễn Sung, Nguyễn Viết Tường và một cậu nữa mà tôi quên mất tên, cùng với tôi hẹn sẽ thực hiện ý đồ về thành.
   Rồi đến một đêm tối trời, chúng tôi lặng lẽ gặp nhau tại sân vận động Tam Kỳ, thì thầm bàn tính đường đi nước bước. Tạ Ký và Nguyễn Sum đề nghị sẽ đi về nhà Tạ Ký ở Trung Phước thuộc huyện Quế Sơn, nghỉ đêm tại  đó đến mờ sáng ngày hôm sau sẽ đi xuống ngã Phường Rạch và tiếp tục đi đến Xuân Đài. Tôi không biết đường xá gì cả nên cùng với tất cả đồng ý.
   Sáng hôm đó chúng tôi đi xuống đến Gò Nổi, qua khúc sông cạn, vào đồn Xuân Đài. Trước tôi cứ tưởng sẽ gặp lính Pháp nhưng lại toàn là lính Việt. Một vị sĩ quan tên là Triệu, đồn trưởng bảo chúng tôi lên xe và đưa chúng tôi đến căn cứ Phòng 2 đóng ở Vĩnh Điện. Khi còn ở trong vùng kháng chiến, tôi đã nghe nói về căn cứ này. "Khó thoát khỏi bị tra khảo”. Tôi nhận xét các cậu học sinh rất thản nhiên, còn có vẻ vui. Riêng tôi, thật tình mà nói, sợ quá. Qua vị sĩ quan Triệu, tôi được biết đồn Xuân Đài chỉ chờ đón mấy cậu học sinh, không ngờ có một người cầm đàn, cán bộ văn nghệ, là tôi. Như vậy, tôi nghi có thể có một sự liên lạc nào trước đấy. Vừa xuống xe, tôi gặp ngay họa sĩ Duy Liêm. (Xin nói qua về ông bạn này. Cách đây mấy tháng, khi tôi còn ngồi tại Hội Văn nghệ Liên Khu 5, Duy Liêm gặp tôi và bảo xoay cho anh ta một giấy công tác vùng bị chiếm. Tôi lấy một bổn đánh máy sẵn, điền tên anh ta vào, đóng dấu Hội và ký “liều” với tư cách thường vụ. Giấy đó qua mặt được tất cả những điếm công an địa phương, nên anh ta đi thoát được). Gặp Duy Liêm tôi mừng thầm, tưởng rằng anh ta là nhân viên phòng 2, hy vọng được giúp đỡ. Nhưng thật ra anh ta chỉ bị giữ lại đó từ mấy tháng nay. Sau một vài giờ khai thác, mấy cậu học sinh được thả, tự do ra bến xe Vĩnh Điện đi Đà Nẵng. Nguyễn Viết Tường có cho phòng 2 biết họ sẽ về tại địa chỉ của người chị ở Đà Nẵng. Còn tôi phải ở lại. Trước khi chia tay, Nguyễn Sum hỏi tôi sẽ về đâu và có tiền không. Tôi nói sẽ đi Đà Nẵng tìm người bà con, tôi chưa dám về Hội An, hà khắc lắm; còn tiền thì tôi không có, chỉ còn mấy tờ tín phiếu quên để lại trong kia. (tín phiếu là loại tiền cụ Hồ in và chỉ được phát hành tại Liên Khu 5). Sum cầm đưa cho tôi một chiếc nhẫn mấy phân vàng và bảo tôi giữ lấy để tiêu dụng lúc ban đầu. Tôi nhận lấy và vô cùng cảm động (đến bây giờ tôi vẫn chưa trả được cái ơn này).
    Vị Đại úy Pháp cho gọi tôi lên văn phòng ông ta. Trên bức tường sau lưng ông ta có căng một lá cờ đỏ sao vàng. Ông ta hỏi:
  - Trong tạp chí văn nghệ Liên Khu 5 có đăng danh sách ban chấp hành Hội Văn Nghệ Liên Khu 5 có tên anh phải không?
  - Thưa phải.
 - Anh có chức vụ gì trong đó? 
 - Tôi là chi đoàn trưởng chi đoàn ca nhạc.
 Ông ta cầm cây bút chì gõ gõ trên tập hồ sơ trước mặt và nghiêm mặt nói:
 - Nhưng tại sao lại có báo cáo anh đã có về hoạt động tại nội thành Đà Nẳng?
 Tôi kinh ngạc trả lời:
 - Thưa không có, trong suốt gần tám năm tản cư vào ở Bồng Sơn, tôi chưa hề về lại Quảng Nam. Nếu có hoạt động ở một vùng bị chiếm nào ngoài Đà Nẵng, tôi xin chịu đứt đầu. 
  Ông ta cười và nói:
 - Anh ngồi ở đây, cái đầu hiện đang ở trên cổ anh có thể nó sẽ không còn là của anh nữa.
 Tôi tái mặt, toàn thân lạnh toát mồ hôi. Tay chân rụng rời, gần như đứng không vững trên mặt đất.
 Ông nhìn thẳng vào mặt tôi, cười lớn rồi xuống giọng, ông nói:
 - Xin lỗi, xin lỗi, tôi nói đùa đấy anh Nguyễn. Duy Liêm có nói nhiều về anh. Và trong mấy người thông dịch ở đây có một người là bạn học của anh cũng có nói về anh. Thôi, uống cốc nước rồi xuống viết tờ khai cho tôi. Anh cầm phiếu này xuống câu lạc bộ ăn cơm tối.
 Tôi vào câu lạc bộ gặp một người Pháp, tôi không biết cấp bực của ông ta vì ông mặc chemise “chim cò”, quần thì là quần lính, râu xám, vóc người to lớn nặng nề. Ông ta nói:
 - Sắp đóng cửa, mày là người sau cùng trong ngày.
 Thức ăn là một dĩa thịt bò hầm, một ổ bánh mì nhỏ và một ly rượu vang đỏ nhạt.Tôi đang ăn, lão ta ngồi trước mặt. Lão hỏi:
 - Mày là phản động ở trong bưng ra phải không?
 Có chút ít rượu vào, nỗi sợ hãi lúc ở văn phòng vị đại úy không còn nữa, tôi trả lời có ý muốn vừa lòng người Pháp này:
 - Không phải. Tôi là kháng chiến cũng như các ông trong thời kỳ Đức chiếm nước Pháp.
 Lão ta cười có vẻ châm biếm:
 - Ở trong đó mày ở ngành nào?
- Âm nhạc.
- À! Mày là nhạc sĩ. (Lão dùng chữ compositeur)
- Không, tôi chỉ viết ca khúc thôi. (Tôi dùng chữ melodiste).
Lão ta cười to và nói:
- Rồi cũng đến đó thôi, nếu mầy có học.
- Thế mày có biết mấy đại nhạc sĩ Đức không?
   (Nguyên văn les titans de la musique Allemande)
- Hẳn nhiên. Tôi biết qua tiểu sử và tác phẩm của họ.
- Thế mày  thích của ai nhất?
- Beethoven.
- À, con người khốn khổ! (Lão dùng chữ le miserable)
- Nhưng rất là vinh hiển. (Tôi dùng chữ glorieux)
- Phải, phải.
Từ đó không khí có vẻ thân thiện dần dần. Lão vỗ vai tôi rồi cười lớn và nói:
- Tao là người Đức, lính Lê Dương của Pháp. Ngạc nhiên? Mày gọi gọn tên tao là Hans cho dễ nhớ. Còn tên mày?
- Ông gọi tôi là Nguyễn. Sao ông lại vào lính Pháp?
- Có lý do riêng, mày không cần phải biết.
- Tôi xin lỗi.
Ăn xong, tôi chào ông ta và nói phải về phòng an ninh để viết tờ khai. Ông ta bảo:
- Mày cứ ở đây viết, có giấy mực đó. Tao sẽ lên phòng an ninh nói sẽ chịu trách nhiệm giữ mày ở đây để “khai thác”...(ông cười). Viết xong, mày ngủ ở phòng tao.
- Còn ông?
- Đừng lo cho tao.
Căn phòng nhỏ, chỉ có một cái giuờng, thật ra là một tấm ván kích thước có thể vừa vóc người to lớn của ông ta. Trên có nệm mỏng và chăn lính, dưới được kê lót toàn là sách. Mới vào nhìn, tôi tưởng là gạch hay những khối gỗ vuông nhỏ.
- Trước chiến tranh ông làm gì?
- Tao dạy ở đại học Bá Linh.
- Môn gì?
- Triết lý. Thôi, đừng hỏi lôi thôi nữa. Lo viết tờ khai đi. Tao đi lên phòng an ninh đây.
Tôi ở lại, ngồi viết tờ khai mà đầu óc không tập trung được, cái thân phận nghịch cảnh của ông Hans cứ lảng vảng trong đầu. Cuối cùng đã viết xong tờ khai. Tôi ngủ một giấc đến gần sáng, mở mắt, thấy ông Hans đứng ngay trước cửa phòng. Tôi hỏi:
- Ông đi đâu suốt đêm?
- Ra ngoài, ở nhà một con điếm.
Ông cười và chúc tôi buổi sáng. Ông hỏi tôi đã viết xong tờ khai chưa và bảo đưa cho tôi đem lên phòng an ninh.
Vào khoảng 9 giờ sáng, ông đại úy cho gọi tôi lên văn phòng.
- Sao, ông giáo sư Hans có vẻ thích anh đấy. Hôm nay anh có thể về. Anh dự định đi về đâu?
- Thưa tôi sẽ về Đà Nẵng.
Nét mặt ông ta có vẻ lạnh lùng khó hiểu.
- Anh là người Hội An kia mà?
- Thưa tôi phải đi Đà Nẵng tìm người bà con để tạm trú trong những ngày chờ đợi gia đình tôi về Hội An.
- Thôi được, sáng nay có xe sở đi Đà Nẳng, anh có thể theo xe, và đây là giấy chu lưu, anh có thể tự do đi lại.
 Tôi cảm ơn ông ta và xin nhận lại cây guitare. Ông ta nói:
- Không được, nó là vật bằng chứng (piece à conviction), tôi phải giữ nó ở đây. Anh cứ yên chí mà đi Đà Nẵng.
Tôi chào ông ta, bước ra khởi cửa địa ngục mà lòng buồn tiếc cây Nazareth vô cùng.
Trên quãng đường 20 cây số từ Vĩnh Điện đi Đà Nẵng, tôi suy nghĩ: “Mình là người Hội An, mà sao lại xin về Đà Nẵng. Có thể ông ta nghi mình đi Đà Nẵng để móc nốc cơ sở hoạt động nội thành”. Nếu có gì cũng đành chịu thôi.
Tôi đến Đà Nẵng gặp lại bốn cậu học sinh và ở tạm lại với họ tại nhà người chị của Tường. Qua ba bốn ngày vui và tính chuyện ngày mai, tôi lại nhận giấy gọi đến Phòng 2 Đà Nẵng. Lại có chuyện gì đây. Thật là “họa vô đơn chí”.
Tôi đến, gặp một trung úy người Việt tên là Độ.
Ông ta nói:
- Anh khai báo không rõ, Phòng 2 ở Vĩnh Điện muốn giữ anh lại. Đây, anh đọc lại lời khai của anh.
Ông đưa tôi bản Pháp văn, trong đó có bút phê của sĩ quan Phòng 2 Vĩnh Điện: gạch đít chữ NAGÉ  và ngoài lề có viết AVEC SA GUITARE có dấu hỏi, cuối bản khai có phê FAUX RALLTÉ (Hồi chính giả). Tôi bình tỉnh nói:
- Thưa Trung úy, bản khai của tôi bằng Việt Văn. Có lẽ bản dịch ra Pháp văn làm cho Vĩnh Điện nghi ngờ. Tôi khai là LỘI QUA SÔNG chứ không phải là BƠI QUA SÔNG. Người dịch có thể nghĩ BƠI LỘI QUA SÔNG nên dùng chữ NAGER. Đáng lẽ tôi phải thêm chữ CẠN vào sau mấy chữ LỘI QUA SÔNG thì người dịch sẽ dùng chữ TRAVERSER À GUÉ.
Câu chuyện chỉ thiếu đi một chữ mà rắc rối quá. Ông Trung úy Độ tỏ ra rất dễ chịu và hiểu biết. Ông ta bảo tôi về và hứa sẽ trả lời cho Vĩnh Điện rõ.
Đến ngày 12 tháng 7 tôi nhận được giấy gọi của phòng 2 Vĩnh Điện. Không biết chuyến này sẽ ra sao đây. Chuẩn bị ăn đòn, chắc chết quá. Tôi đến Vĩnh Điện, có một trung sĩ Pháp đón tôi tại bến xe. Tôi hỏi ông ta:
- Có việc gì mà ông phải ra tận bến xe đón tôi?
- Tao không biết, tao chỉ được lệnh tìm mày ở bến xe.
Ông trung sĩ đưa thẳng tôi lên văn phòng . Ông đại úy bước ra đưa tay bắt tay tôi và hỏi:
- Có mất tinh thần không? Đà Nẵng có gì lạ? Đã gặp được người bà con chưa?
Tôi chưa trả lời thì ông ta nói tiếp.
- Đừng lo, lão Hans có y muốn giúp anh về sách âm nhạc. Tôi gọi anh về đây chỉ có một chuyện vui là nhờ anh đệm đàn trong ban nhạc có mấy cây kèn và một vài giọng hát để giúp vui trong ngày lễ 14/7 của chúng tôi.
Tôi mừng thầm, nhưng vẫn tự hỏi không biết ông đại úy phòng 2 rất “chính trị” này còn có trò gì nữa không!
 Xong ngày lễ, ông trả cây guitare lại cho tôi và nói:
- Khi nào rảnh vào Vĩnh Điện chơi. Tôi có nhờ người tìm hỏi thử gia đình anh đã về Hội An chưa.
Tôi cảm ơn và chào ông ra về. Trước khi ra khỏi căn cứ, tôi tạt vào câu lạc bộ, thấy những chai chai rượu không ngổn ngang trên sàn nhà. Ông Hans nằm ngủ trong phòng, có lẽ ông đã say mèm rồi. Tôi nhìn ông, không muốn đánh thức ông, rồi lặng lẽ bước ra.

                                                

 Tôi về lại Đà Nẵng, không gặp lại mấy cậu học sinh. Họ đã đi, chẳng biết họ đi đâu. Tôi đến nhà Bác Lý, người bà con ở đường Thành Thái. Ở đó gần một tuần thì một buổi sáng ông bạn Hà Thúc Cần đến thăm. Chúng tôi đang chuyện trò, công an đến bắt tôi đi. Họ đưa tôi về Ty Công An Đà Nẵng, không có ai cho biết về lý do bắt tôi, liền tống tôi vào lao Con Gà. Ở đó mấy hôm cũng không có ai đến khai thác. Hằng ngày, cứ buổi sáng bị cắt đi quét đường phố. Đến một buổi sáng tôi nhìn thấy mẹ tôi đứng khóc bên kia lề đường, cùng với bà Lý cũng khóc. Mẹ tôi nói vọng qua: Mẹ và em con về bình an và đang ở Hội An...
                                                         *
 Sau này tôi quen trung úy Độ, ông ta đã giải ngũ, và được biết ông là nhà thơ Anh Độ. Ông ta nói không biết vì sao hồ sơ về tôi của Phòng 2 Vĩnh Điện mà công an quốc gia lại có. Có lẽ vì mấy chữ FAUX RALLTÉ mà phải vào lao Con Gà.

LÊ TRỌNG NGUYỄN

                    Tưởng nhớ Lê Trọng Nguyễn - Thanh Trang
                                                     (Bài viết sau ngày Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn qua đời)


                                         

                                                    Từ trái: Thanh Trang, Lê Trọng Nguyễn 

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn vừa mất ngày 9 tháng 1 vừa qua. Nếu đọc qua báo chí họặc nghe các đài phát thanh đưa tin thì thể nào muời lần như một ta cũng thấy nêu tên bài hát “Nắng Chiều” đi kèm với tên nguời vừa qua đời. Ngày nhạc sĩ Văn Cao mất thì dù không cần phải nhắc đến “Văn Cao tác giả của Thiên Thai” phần lớn ai cũng biết. Hoặc đối với Trịnh Công Sơn thì cũng vậy. Nhưng những tác giả như Lâm Tuyền, Ngọc Bích, ... khi qua đời mà không ai nhắc đến những bài hát của các vị ấy thì có lẽ rất nhiều nguời ở lứa tuổi duới 50 đều không biết đến. Kể cả khi nhắc lại tựa đề những bài hát nổi tiếng một thời -vì hay- của họ. Nhắc đến “Lâm Tuyền-tác-giả-của-“Lặng Lẽ“” thì mấy ai biết ? Hoặc ngay cả “Lâm Tuyền-“Tiếng Thời Gian””, đối với lứa duới 50! Với Ngọc Bích thì họa chăng phải nhắc đến bài Tango “Mộng Chiều Xuân” thiên hạ mới như sực nhớ ra một điều gì! Còn nếu nhắc “Trở Về Bến Mơ“, “Lời Hẹn Xưa”, “Khúc Nhạc Chiều Mơ”, những bài hát có giai điệu thật đẹp, thật trữ tình, thì e cũng lại hiếm nguời nhớ đến.

Tôi nêu những điều ở trên là bởi chúng có liên quan trực tiếp đến Lê Trọng Nguyễn với bài “Nắng Chiều” của ông! Trong một cuộc nói chuyện với Nguyễn Phúc của Đài BBC truớc đây, nhạc sĩ LTN có nói rằng ông không khoái cái bài “Nắng Chiều” cho lắm, tuy ngày viết xong bài hát đó thì -vì một lẽ riêng- ông rất hài lòng! Có cái gì đấy mâu thuẫn chăng? Không! Ông giải thích, qua buổi “nói chuyện” đó, là nguời ta thay nhau hát bài NC, theo nhau nhắc đến bài NC thời ấy mà  chả biết “cái con nguời tên Nguyễn đó là ai cả“ ! Lại cũng một truờng hợp, khá phổ biến, khi mà “tác phẩm nổi tiếng hơn tác giả “! Mà cũng vì nguời thuởng ngọan chung chung, bình thuờng ngoài đời chỉ quen với “Nắng Chiều” cho nên tác giả của nó lại thiệt thòi thêm một phen ở chỗ là ít mấy ai biết đến, nhớ đến “Lá Rơi Bên Thềm (chung với Nguyễn Hiền), “Sao Đêm”, “Bến Giang Đầu”, “Cát Biển” (chung với Y Vân), “Chiều Bên Giáo Đuờng”, “Nhớ Thu Hà-Nội“, “Tìm Nơi Em “, v.v…

Trở lại truờng hợp của Văn Cao, Trịnh Công Sơn là những tác giả có lợi thế hơn về mặt “name recognition” (dễ nhận danh), nói theo kiểu nguời Mỹ! Phải chăng chỉ do giá trị nơi các bài hát? Không hẳn! Văn Cao không có những vụ như “Nhân Văn”, “Giai Phẩm”; Trịnh Công Sơn không có những ý kiến đối chọi của nguời thương kẻ ghét về mặt quan điểm hay lập truờng này nọ trong suốt hơn 35 năm thì chửa chắc họ đã dễ có đuợc “hào quang” như nguời đời vẫn gán cho! Bằng chứng hiển nhiên là cố Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tuớc há chẳng phải là một cây đại thụ trong Tân Nhạc VN, với những tác phẩm làm say đắm lòng nguời một thời, khi những nhạc sĩ lứa TCS vẫn còn ở tuổi học trò ? Nhạc sĩ DTT mất đi, mấy ai nhắc đến, nhớ đến? Thời nay, ngoài chợ nhạc với đầy rẫy các CD, mấy ai thấy những bài hát của DTT ? Trong Văn Học Nghệ Thuật, có thực tài là một chuyện, lại còn phải có ma lực của “quảng cáo” duới nhiều dạng, trong đó thị hiếu cùng các biến cố xoay quanh và gắn liền với cuộc đời của các tác giả là dạng then chốt, và thuờng thì các tác giả cũng không có can dự trực tiếp vào quá trình tạo nên cái “hào quang“ cho chính mình! Cứ tạm coi như “phần số“ của mỗi nguời nó như thế! Có tài nhưng không sinh vào cái “giờ“ để đuợc nổi danh thì cố mà chịu vậy!

Mấy tuần truớc đây, có dịp chuyện vãn với Quỳnh Giao thì cô ấy cho biết đã dự tính hát một loạt các bài của Lê Trọng Nguyễn và Lâm Tuyền. Hai anh em trao đổi với nhau là bài nào nên chọn. Chẳng hạn như cô ấy nhắc đến “Lá Rơi Bên Thềm” của LTN và “Hình Ảnh Một Buổi Chiều” của LT. Hôm đó thì chỉ có Lâm Tuyền đã là nguời thiên cổ. Nay đến phiên Lê Trọng Nguyễn cũng từ giã cõi đời này luôn! Ta còn lại đuợc những ai nào? Ta còn các nhạc sĩ lớp tiền bối như Văn Giảng (tức Thông Đạt của ”Ai về sông Tương), Đan Thọ (“Chiều tím”, “Tình quê hương”), Nguyễn Hiền (“Ý Nhạc chiều”, “Về đây anh”, “Anh cho em mùa Xuân“, “Hoa buớm ngày xưa”, “Tìm đâu”, “Lá thư gửi Mẹ“( Thơ của Thái Thủy), “Nhật Bằng” (“Thuyền trăng”, “Bóng quê xưa” (chung với Xuân Tiên ), “Chiều tà”,  “Sau lũy tre xanh”, “Thu ly hương” (chung với Đãn Thọ), Phạm Duy, Trịnh Văn Ngân (“Chiến sĩ của lòng em”, “Nguời đưa thư đã đi qua”) …và ở bên nhà: Hoàng Giác (“Ngày về“, “Mơ Hoa”, “Lỡ cũng đàn”), Dzõan Mẫn (“Biệt Ly”, “Gió xa khơi”, “Hương cố nhân”), Nguyễn Thiện Tơ (“Nhắn gió chiều”, “Trên đuờng về“) … Nhớ đến đâu ghi đến đó; các vị nào tôi quên nhắc tới xin niệm tình luợng thứ! Một số vị, tôi phải nhắc đến cả một lô bài hát bởi tôi nhắm chừng là cũng chửa dễ gì nguời đọc còn nhớ hết! Nhắc lại với lòng biết ơn, bởi cuộc đời chúng ta, hay ít ra cũng đối với nguời yêu nhạc, không có những bài hát mà chúng ta từng yêu thích thì cũng đã mất đi “hương vị“ không ít! Có thể nói không sợ sai là không có các vị ấy trên đời này thì ta cũng đã mất đi không ít cái thú vị, niềm vui trong cuộc sống.

Chỉ mới năm truớc đây thôi, gặp lại ông Lê Trọng Nguyễn ở nhà một nguời bạn chung; thấy ông vẫn còn khỏe. Vẫn phi phèo điếu thuốc lá khi cùng nhau chuyện trò ngoài sân. Vào đến trong nhà, tôi ngồi vào cây đàn piano, dạo một đọan của bài “Lá rơi bên thềm, hỏi đưa ông:”Có nhớ gì không đấy?” Ông lim dim dim nói: “cũng nhớ nhớ ..!” Tôi dạo một đọan bài “Nhớ Thu Hà-Nội”, cũng lại hỏi câu y như vừa lúc nãy. Ông cũng lại lim dim trả lời tương tự! Làm tôi nhớ một đêm cách đây cũng đã trên muời năm, Ông Nguyễn Hiền ông ấy gọi phone hỏi:” Này, “toa” có nhớ phần lời bài “Đừng quên” ngày xưa của “moa” không nhỉ ?” Hồi ấy ông đang rục rịch cho ra tuyển tập “Hoa buớm ngày xưa“! Những  lúc như vậy, sao mà tôi thương -theo cái nghĩa trìu mến- các vị ấy như thế! Có cái ngậm ngùi gì đấy len lỏi, mà chỉ những ai về già, đã qua cái lứa 55-60 mới cảm nghiệm đuợc khi nhìn lại những chỗ thân quen với mình!

Lại một buổi trưa, cách đây không lâu lắm, đang ngồi ở tiệm phở gà Nguyễn Huệ trên đuờng Bolsa (1st Street) duới vùng Westminster - Santa Ana thì một nguời luống tuổi ở ngoài buớc vào, ngồi đối diện với mình! Ông ta nhìn luớt qua tôi, và tôi cũng chỉ nhìn luớt qua ông. Đến khi nhìn lại lần thứ hai thì tôi cẩn thận lấy cặp kính đeo lên mắt, và nhận ra chẳng ai khác hơn là ông “Nắng chiều”! Tôi nói:” Ông ơi! Ông làm ơn đeo kính lên cho con nhờ với !” Bên kia nhìn kỹ lại nguời đối diện và nở nụ cười rất tươi ! Tôi hỏi:”Sao mà bà đầm nhà ông lại để ông đi đâu một mình thế này?” Đáp:” Hai vợ chồng xuống đây thăm đứa con gái mới sanh; bà ấy còn ở đang đó, tôi đi kiếm ăn một mình”. Kế đó là vừa ăn phở vừa chuyện trò linh tinh. Lúc chia tay thì tất nhiên là vẫn theo thông lệ, hẹn gặp lại nhau một ngày đẹp giời nào đấy ở San Gabriel nơi ông cư ngụ hoặc ở Covina nơi tôi thuờng trú! Đấy là lần cuối cùng tôi gặp lại ông Lê Trọng Nguyễn. Chả có triệu chứng gì, xét về mặt ngọai hình nơi ông ngày hôm đó, báo hiệu là ngày hôm nay ông đã qua đời ! (Có ai gặp một nguời trong tiệm phở, ăn tô phở một cách mạnh dạn và ngon lành, mà lại có thể hình dung là chỉ không lâu nữa sẽ không còn bao giờ gặp lại vì bệnh chứ không vì tai nạn?)

Nhưng nói gì thì nói, nhắc về một nhạc sĩ có thực tài mà không nói đến chính những bài hát của nguời ta thì cũng như không. Nhưng đề cập đến một bài hát mà không có bài hát đó do một ai đấy hát lên - ít nhất cũng qua một cái CD - thì cũng lại như không ! Chẳng lẽ lại cứ cái kiểu dùng chữ nghĩa tương đối cụ thể để nói về những cái trừu tuợng mà khi nghe thì mỗi nguời nhất thiết đều nghe theo một cách, qua những tình cảm cùng kỷ niệm riêng tư của chính mình? Chả lẽ vẫn quanh quẩn với, kiểu như: những bài hát của LTN là theo phơng cách xưa (“Tôi là một nguời xưa lắm anh à”, lời của LTN nói với phóng viên Nguyễn Phúc của Đài BBC), khi nói về tình yêu thì chủ yếu là nói về tình nguời, về chữ TÌNH nhiều hơn là chính nguời yêu cụ thể nào đấy của mình, mà tất cả là lồng trong khung cảnh của thiên nhiên, của đời sống chung ? Nguời đọc nào xưa giờ vẫn có lòng yêu thích những bài hát của Lê Trọng Nguyễn thì tốt nhất là nên tìm nghe lại những bài hát của ông! Những bài khác kìa, chứ không phải chỉ có bài “Nắng chiều”, lạy Trời! Những bài thật hay khác nữa kìa! Tìm nghe bài “Tìm nơi em”, chẳng hạn, trong CD “Một đời tôi hát” của Anh Ngọc để thấy nét nhạc và lời ca như thể đã từ một thế giới nào khác vọng về, (như một bài Thánh ca), chứ không còn thuộc về thế giới có một bến sông, có một ngõ ngách đưa về một chốn làng quê, có tí nắng chiều, và tất nhiên là có dáng “gầy gầy” của ai đấy đang đứng đón bên thềm ...

Nhạc của Lê Trọng Nguyễn đẹp về giai điệu. Lời hát đẹp ở cái dung dị của nó; không cầu kỳ bí hiểm, không có cái kiểu làm duyên làm dáng! Phải chăng vì bình sinh ông vốn dĩ là một nguời hiền hòa, thẳng thắn, giản dị và rất khiêm tốn? Trong một lần ông chuyện vãn với tôi, đang nói vu vơ về một đề tài gì đấy, chợt có câu này:“Tôi ngại nguời khác gọi tôi là nhạc sĩ lắm! Cứ xem nơi các tác phẩm của nguời khác, trong lãnh vực âm nhạc Cổ Điển chẳng hạn, thấy mình chưa là cái gì cả !” (Lần đó tôi có nói là tôi không đồng ý với ông! Tôi nói rằng âm nhạc thuộc phạm trù Văn Hóa, mà Văn Hóa thì đi đôi với từng dân tộc. Là nguời làm văn học nghệ thuật thì nếu như ông tạo dựng cái hay cái đẹp cho những con nguời có gốc gác nơi cùng quê hương đất nuớc với ông thì cái đó mới đáng kể. Bảo nhạc Cổ Điển Tây Phương là chuẩn mực của Nghệ Thuật Âm Nhạc thì, đối với nguời Việt Nam đúng là nguời Việt Nam, chẳng khác gì như bảo rằng đĩa bánh bèo không quy mô, ngon lành như một đĩa “Pizza” của Ý! Lần đó nghe tôi nói thế thì ông toét miệng cuời, cái cuời dân giã và đôn hậu mà những ai có dịp gần ông hẳn phải biết !)

Cũng trong buổi “nói chuyện” với Nguyễn Phúc của Đài BBC ông có nói đại ý thế này: “Khi tập tễnh sáng tác thì mình viết lách câu nhạc sao cho ra vẻ cầu kỳ phức tạp, thế nhưng có học hỏi thêm rồi có sáng tác thêm thì mới nhìn ra sự thể là làm sao cho hay nhưng cho thật giản dị thì mới là điều khó “!

Thuở nay tôi yêu thích những bài hát của Lê Trọng Nguyễn thì cũng không ngoài những chuẩn mực do chính ông đã tự đề ra cho mình như vừa nhắc lại ở trên!

Còn gì nữa ? Ngoài trời sao úa rồi ...!” (“Sao Đêm” của Lê Trọng Nguyễn)

Thanh Trang (Nam California, mùa Đông 2004)

                                   &n

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4812442