Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhạc Việt

Nguyễn Trương Quí : Đến Việt Nam qua khe cửa hẹp - Hành trình âm nhạc Việt Nam của một người Mỹ

 Để đến được Việt Nam, những nhà nghiên cứu nước ngoài đã gặp phải nhiều khó khăn từ bối cảnh: sự bất đồng ngôn ngữ, lối sống và cách tiếp cận những vấn đề văn hoá. Đó là yếu tố “hẹp” đầu tiên và khách quan. Tuy nhiên, với phẩm chất, kỹ năng và đạo đức khoa học của những người làm nghiên cứu, họ đã vượt qua được cả yếu tố “hẹp” mang tính chủ quan.

Đến Việt Nam qua khe cửa hẹp - Hành trình âm nhạc Việt Nam của một người Mỹ
Nguyễn Trương Quí

E-mail: quynt@yahoo.com
 
        
1. Con đường đến Việt Nam
 
 Lý do họ đến vớí đề tài Việt Nam có thể là truyền thống khám phá những “nơi  tận cùng của thế giới” của người Tây phương, có thể là sự khôn ngoan khi chọn một lối đi hẹp để dễ làm người “đầu ngành” khi tiếp cận những đề tài chưa mấy người cày xới, nhưng điều những người đọc trong nước phải thừa nhận là sản phẩm nghiên cứu của họ mang một chất lượng nhất định. Nhưng cũng có những người đã theo đuổi việc nghiên cứu văn hoá Việt Nam với một sự quan tâm mà nếu chỉ bằng sự tính toán thực dụng chưa chắc đã vượt qua vô số những trở ngại vốn đã rất khó khăn cho người Việt.
 
Một trong những người như thế là Jason Gibbs, một nhà nghiên cứu về âm nhạc và văn hoá Việt Nam. Tham luận sẽ đề cập đến những một số bài viết về âm nhạc và ngôn ngữ Việt Nam của Gibbs, vừa thể hiện khả năng hiểu biết sâu sắc vốn văn hoá Việt Nam, vừa có tính khách quan khoa học trong phương pháp tiếp cận của anh. Những bài viết của Jason Gibbs trong hơn 10 năm qua đã xây dựng nên một chân dung âm nhạc Việt Nam nhiều chiều, phong phú và gợi mở nhiều vấn đề mới mẻ.
 
Từ đây, có những bài học về cách tiếp cận văn hoá Việt từ bên ngoài: không khuôn sáo mà vẫn bài bản, không khô khan mà đúng mực, và không rơi vào lối thi vị hoá như nhiều tác giả viết có tính du lịch bóng bẩy. Nghĩa là vượt qua được yếu tố “hẹp” có tính chủ quan.
 
Jason Gibbs, sinh năm 1960 nhà soạn nhạc, nghệ sĩ trình tấu kèn basson, tiến sĩ khoa lí thuyết âm nhạc và sáng tác của Đại học Pittsburgh, bang Massachusset, Hoa Kỳ.  Đến Việt Nam lần đầu vào năm 1993, từ đó anh đã có những công trình nghiên cứu đều đặn về âm nhạc Việt Nam trước và sau thời thuộc địa, về những ảnh hưởng phương Tây trong nền ca khúc tân nhạc, cũng như công trình giới thiệu và dịch thơ Tản Đà cho độc giả tiếng Anh.
 
Trong những bài viết, tác giả với chuyên môn âm nhạc của mình, phân tích tỉ mỉ những cấu trúc âm nhạc để chỉ ra được đúng bản chất của tác phẩm. Với khả năng hiểu biết tiếng Việt, anh tiếp cận văn bản Việt ngữ khá hiệu quả. Với công việc của một thủ thư lưu trữ ở thư viện lớn, anh có kinh nghiệm xử lý dữ liệu chính xác. Nhưng trên hết, là một tinh thần và thái độ làm việc cực kỳ nghiêm túc. Việc có một chân dung âm nhạc được nhận diện như thế rất có ý nghĩa khi Việt Nam giao lưu với thế giới, những tinh hoa và giá trị của nghệ thuật Việt Nam có cơ hội được cộng đồng nghiên cứu thế giới biết đến nhiều hơn. Ngược lại, bạn đọc Việt Nam vừa khám phá được một nhãn quan bên ngoài, vừa biết được những câu chuyện âm nhạc mà do hạn chế tư liệu đã không biết đến.
 
Các bài viết này có thể chia làm 3 mảng:
 
-         Nghiên cứu về sự tiếp nhận, giao thoa và những ảnh hưởng của âm nhạc và sân khấu phương Tây trong đời sống âm nhạc cũng như sân khấu Việt Nam. Tác giả đã nghiên cứu cặn kẽ những bước đầu của nền ca khúc tân nhạc với những tư liệu quý giá. Bên cạnh đó cung cấp những câu chuyện sống động về thời kỳ đầu của nền sân khấu phổ thông của Việt Nam.
-         Những tác động của lịch sử đến ca khúc Việt Nam: chiến tranh, sự khác biệt giữa môi trường âm nhạc hai miền Nam Bắc, từ đó sinh ra những dòng nhạc có mặt trong đời sống của người nghe như ca khúc cách mạng, nhạc vàng,… đến nay vẫn còn cần được giải mã.
-         Những câu chuyện về những nhân vật sáng tạo cụ thể, hành trình của họ qua dòng lịch sử như Nguyễn Xuân Khoát, Phạm Duy, Đoàn Chuẩn, Trần Tiến hay những hiện tượng văn hoá gần đây như Đặng Thuỳ Trâm cũng được phản ánh trong âm nhạc. Trong các bài viết của mình, J.Gibbs đã đề cập tới hàng trăm tác giả, những gương mặt văn hoá văn nghệ Việt Nam. Bản thân anh đã tìm gặp rất nhiều người trong đó. Vì thế có thể coi đây là một bức tranh khá toàn diện về văn hoá và âm nhạc Việt Nam từ góc độ một người nước ngoài với đầy đủ tài liệu và sự tỉnh táo cần thiết.
 
Bên cạnh đó, cấu trúc thời gian của tập hợp bài viết cũng có thể thấy rất rõ. Từ những buổi ban đầu của nghệ thuật sân khấu âm nhạc Việt Nam đầu thế kỷ 20, những xu hướng nghệ thuật trong tân nhạc qua hai cuộc kháng chiến, cho đến những trào lưu âm nhạc gần đây, tác giả đã có cái nhìn hệ thống về tiến trình lịch sử âm nhạc. Vì thế cái nhìn đối với những hiện tượng âm nhạc của Gibbs có phẩm chất của người viết sử.
 
Lối viết giản dị, khoa học, dẫn chứng cố gắng chính xác tuyệt đối, là những phẩm chất đáng tin cậy đối với những bài viết này. Đây chắc chắn là một trong số những tác phẩm nghiên cứu mang tính công phu nhất của phê bình nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam. Đa số bài viết đã được tác giả thuyết trình tại các hội thảo nghiên cứu âm nhạc uy tín trên thế giới và trên một số tập san chuyên ngành của Mỹ.
 
Bên cạnh đó, những hình ảnh minh hoạ được tác giả tìm tòi trong thư viện, trên các sách báo qua các thời kỳ là nguồn tư liệu quý giá và thú vị. Điều này làm cho các bài viết rất hấp dẫn và dễ đọc.
 
2. Nhìn Việt Nam như một thế giới dị biệt nhưng có quy luật
 
Với phạm vi ảnh hưởng chỉ trong cộng đồng ngôn ngữ của mình - giữa người Việt Nam với nhau, cộng thêm yếu tố ca khúc phát triển mạnh hơn các thể loại âm nhạc có nguồn gốc Tây phương khác - đời sống âm nhạc Việt Nam vẫn chỉ là một sản phẩm mang tính địa phương. Do đó, khi tiếp cận âm nhạc Việt Nam, các nhà nghiên cứu phương Tây như A. Reyes, Eric Henry, vv… vẫn thường nhìn nhận đối tượng  này trong phép chiếu của ảnh hưởng chính trị, xã hội và lịch sử. Đó là điều xảy ra không chỉ với âm nhạc mà với văn học, mỹ thuật hay những ngành văn hoá được người nước ngoài tiếp cận. Đến với sản phẩm âm nhạc Việt Nam, nhất là những sản phẩm có ảnh hưởng rộng rãi như ca khúc phổ thông, nhà nghiên cứu như Gibbs phải có một thao tác làm việc liên văn bản. Chẳng hạn khi nói đến “nhạc đỏ”, tức những ca khúc tuyên truyền trong kháng chiến, người phương Tây dễ mang một định kiến về âm nhạc phục vụ đời sống chính trị xã hội rõ nét trong những giai đoạn lịch sử và xung đột. Gibbs đồng ý với những yếu tố chi phối đó. Nhưng không chỉ có vậy, với sự phân tích văn bản học cũng như tôn trọng giá trị nghệ thuật tự thân của tác phẩm, nhà nghiên cứu này đã làm được việc ít người nước ngoài có được là cảm thụ được đời sống của ca khúc với cái hay và sức hấp dẫn của chúng như chúng đã hấp dẫn hàng triệu người Việt, lý giải những giá trị từng thúc đẩy nhiều thế hệ đi theo lý tưởng của mình.
 
Để nhìn ra được quy luật, cách tiếp cận của tác giả này là đặt dòng chảy văn hoá, ở đây là âm nhạc và văn hoá liên văn bản như vấn đề ngôn ngữ trong tương quan chung với thế giới, những trào lưu và những tác động bên ngoài đối với sự phát triển của âm nhạc Việt Nam.
 
Đi tìm nguồn gốc của sự hình thành tân nhạc Việt Nam trong ca khúc viết theo lối âm nhạc Tây phương, tác giả đã nhìn nhận hiện tượng tiếp biến văn hoá này được “thực hiện trong sự kết nối với những truyền thống âm nhạc Việt Nam và phản ánh sự cần thiết của việc thích ứng với bối cảnh đương thời. Sự hấp thụ hình thức âm nhạc nước ngoài trở thành bước mở đầu cho một quá trình giao thoa giữa truyền thống và những yếu tố Tây phương còn tiếp diễn đến ngày nay” (“Bài Tây, bài Ta: sự có mặt của ca khúc phổ thông Tây phương ở Việt Nam”, 2003).
 
Cùng một đối tượng là nhạc cải cách, Gibbs đã phân tích sự biến đổi đa dạng của chúng từ việc đặt lời ta cho điệu Tây ở mức còn rất thô sơ, non nớt cho đến những bài hát nhuần nhuyễn theo cấu trúc âm nhạc Tây phương, và xa hơn, những “sự kháng cự” đối với âm nhạc thực dân để hình thành một bài hát Việt Nam, làm chủ những nguyên tắc nhạc lý vốn ban đầu không được người Pháp - những kẻ đem vào - coi như để dạy cho người Việt.
 
Một vấn đề nữa là mức độ ảnh hưởng của nguồn thông tin nhà nghiên cứu tiếp nhận và cách xử lý thông tin của họ. Với tư cách người trong cuộc,  những người viết Việt Nam thường có sẵn một thái độ và thiên kiến về đối tượng văn bản, hiện tượng hoặc trào lưu âm nhạc. Diễn biến của những cuộc tranh luận thường nằm trong một khuôn khổ ý thức hệ, dưới tiêu chí đúng-sai, phải-trái, tốt-xấu. Hoặc để an toàn, họ chọn những khu vực âm nhạc có màu sắc ổn định và khuôn sáo, như rất nhiều bài viết ca ngợi nhạc tiền chiến cho thấy. Nhận xét sau của một tác giả chỉ ra rất rõ nét lối cảm thụ này:
 
“Đối với họ nhạc tiền chiến là thời kỳ vàng son, là đỉnh cao của nghệ thuật nhạc Việt Nam, nhạc bây giờ không thể "hay hơn" được nhạc tiền chiến. Nhạc sĩ tiền chiến được coi như những siêu nhân, những Mozart và Beethoven của Việt Nam.” (Phạm Quang Tuấn, “Một cái nhìn về âm nhạc Việt Nam hải ngoại”).
 
Những nhà nghiên cứu nước ngoài tiếp cận với văn bản và thông tin của Việt Nam đương nhiên tìm đến những nguồn này. Vượt qua được trở ngại ngôn ngữ chỉ là bước đầu tiên. Sa vào những câu chuyện có tính lạ, hương xa (exotic) như những cây bút du lịch, hoặc ghép chúng theo cách xã hội học văn hoá-chính trị theo phong cách thông tấn, khai thác việc mô tả xung đột văn hoá hay ý thức hệ là những lối phổ biến khi viết về Việt Nam. Trong một chừng mực nào đó, bản thân Gibbs cũng gặp những vấn đề này. Song với cái nhìn mang tính lịch sử của tác giả, mỗi câu chuyện mở ra một khả năng tư duy xâu chuỗi, có sự phát triển chứ không là những lát cắt kiểu ký sự. Với công việc của một quản thủ thư viện và biết ít nhất 40 000 bài hát  trong kho lưu trữ, trong đó dĩ nhiên có ca khúc Việt Nam, Gibbs có thuận lợi trong việc bình thẩm các đối tượng nghệ thuật được tiếp cận. Anh có sự đối chiếu giữa văn bản trong và ngoài nước, giữa văn bản và phỏng vấn, giữa thư viện và đời sống, tỉ lệ tham gia của mỗi phần trong việc vẽ nên chân dung âm nhạc được dùng tính toán để những chân dung này có một sự phản ánh trung thực và thuyết phục nhất. Một yếu tố thứ yếu song cũng có thể nói lên đôi điều, đó là tỉ lệ trang thư mục tham khảo cho mỗi bài viết thường chiếm từ 1/5 đến 1/10 tổng số trang, nghĩa là sự công phu trong việc sử dụng tài liệu của tác giả.
 
Trong việc dùng những tài liệu có tính lịch sử, có thể thấy cái nhìn mang tính phê phán đối với những nhận định thực dân của những người Pháp thời kỳ cai trị Việt Nam, cũng như đề cao phẩm chất tự thân của văn hoá bản địa:
 
“…người ta có thể hình dung những điều nghịch lý trước cảnh người nghe Việt Nam tiếp nhận thông điệp của lời bài “Đăng đàn cung” - lời ca ca ngợi sự định đoạt của Thượng đế và vẻ đẹp của đất nước vào lúc đất nước bị mất chủ quyền và bị ngoại bang thống trị.
         
“Người Pháp thì hài lòng với vẻ bí ẩn và xa xôi của lễ tế [Nam Giao]. Trong một bản ghi chép, người kể chuyện ấn tượng mạnh trước sự tương phản giữa “đám rước cổ xưa” với cây cầu hiện đại do Pháp thiết kế mà đám rước đi qua sông Hương. Mặc dù ông ta nhận thấy âm nhạc không “có giai điệu nghe được dù là tối thiểu với lỗ tai người châu Âu”, ông ta vẫn ấn tượng với khung cảnh ban đầu thu nhận được từ đám lễ và từ tất cả đám trang phục lễ hội (De Rotalier 1942).” (“Quốc nhạc Việt Nam: Trước và sau thời kỳ thực dân,” 2006)
 
Khác với lối đi an toàn khi đa số nhà nghiên cứu khoanh vùng âm nhạc cổ truyền hoặc tân nhạc như một thứ bảo tàng đồ cổ, Gibbs đã đề cập đến những câu chuyện âm nhạc nhiều nhạy cảm trong đời sống ca khúc đương thời. Đời sống này, một mặt như những gì đang có, là những chuyện mang tính thị trường, cung cấp thông tin cho người yêu nhạc mức phổ thông, được giới trẻ hay người hâm mộ yêu thích một cách cảm tính và hồn nhiên, một mặt bị những nhà nghiên cứu hàn lâm đặt cái nhìn có hàm ý phê phán và đánh giá thấp. Tuy nhiên, ngay cả khi những nhà âm nhạc kinh viện đánh giá những ca khúc phổ thông, họ cũng chưa có cách lý giải và phân tích chúng như những đối tượng thẩm mỹ hay sản phẩm nghệ thuật. Đối với một dòng ca khúc nhiều nhà nghiên cứu chọn là nhạc tiền chiến, đa phần cách nhìn vẫn là một sự cảm thụ mượt mà hơn là cách nhìn nhận sự dụng công hoặc kỹ thuật âm nhạc nào để gây ra được tác dụng nghệ thuật. Với một vị trí của người nước ngoài, Gibbs có thể đã khách quan hơn khi không bị yếu tố câu chữ, lời ca cũng như bối cảnh ảnh hưởng – là những đặc tính trội bật của ca khúc tiền chiến - khi nghe và thẩm âm một ca khúc. Khi phân tích ca khúc, lấy ví dụ một người viết và cũng là người trong cuộc như nhạc sĩ Phạm Duy, ông có cách nhìn nặng về diễn tả cảm xúc từ chương. Nhiều tác giả khác cũng vậy. Điều này có thể thấy qua phân tích của nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc-Tuấn khi ông cho rằng sức hấp dẫn của ca từ “nằm trong sự truyền cảm trực tiếp qua trung gian cái quen thuộc và đầy khuôn sáo của lời ca với sự hỗ trợ của những giai điệu dễ nhớ” (“Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20,” trả lời phỏng vấn Radio Australia 1/2001). Vượt ra khỏi cách cảm “bùi tai” đối với hệ thống thẩm mỹ ca khúc “ngọt miệng” là điều không phải bây giờ mới đặt ra. Ngoài giá trị là “những khúc du dương” (đây cũng là tên của những tập lời ca theo điệu Tây được in ra vào những năm 1920 được Gibbs tìm thấy trong thư viện để minh hoạ cho bài viết công phu “Bài Tây, bài Ta: khúc dạo đầu và chuyển thể của ca khúc Tây phương ở Việt Nam trước 1940”), ca khúc Việt Nam có giá trị nghệ thuật ra sao, bên cạnh giá trị lịch sử phản ánh những thời kỳ xã hội? Đi tìm những giá trị đó giữa sự ảnh hưởng toàn diện của âm nhạc mang phong cách Tây phương, Gibbs ngay từ những nghiên cứu đầu tiên đã ghi nhận: “âm nhạc theo phong cách Tây phương… cũng có tác dụng thúc đẩy người Việt Nam có một sự quan tâm và nhận thức trở lại đối với âm nhạc truyền thống của họ” và “lời nhắc nhở duy trì một “đặc điểm Việt Nam” trong ca khúc đã trở thành mối quan tâm của nhạc sĩ Việt Nam cho đến tận thời hiện nay”. Với  phong cách của mình, phân tích của Gibbs luôn đi đối với dẫn chứng. Để minh hoạ cho nhận định vừa trích dẫn, khi viết về hai nhân vật tiêu biểu cho những người đầu tiên trăn trở tìm ra một dáng vóc cho ca khúc Việt Nam, Gibbs đã chỉ ra những nét nhạc khai thác nhạc đoạn Nói sử ghé rầu của vở chèo  Lưu Bình – Dương Lễ trong ca khúc Mây cao bay của Nguyễn Xuân Khoát và chuyển biên của điệu Nam Bình / Nam Ai trong ca khúc Đêm tàn Bến Ngự của Dương Thiệu Tước.  Đoạn phân tích không quá dài, cũng như vài nét về con đường khai phá không chịu dừng ở những mô thức khuôn sáo của nhạc nhảy hay cấu trúc hai đoạn nhạc theo cách phổ thông,  đồng thời cho biết quan niệm về âm nhạc của hai nhân vật mở đường trên:
 
“Nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng những nhạc sĩ như Nguyễn Xuân Khoát và Dương Thiệu Tước không cố gắng tạo ra “nhạc phổ thông” mà tạo ra nhạc Việt Nam. Họ băn khoăn suy nghĩ về việc âm nhạc của đất nước mình không tiến lên sẽ có thể một ngày bị mất đi. Đây là thế hệ nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên đã rất tận tâm với việc bảo tồn và nghiên cứu âm nhạc truyền thống, nhưng cùng lúc đó, như Dương Thiệu Tước đã nêu lên, họ “muốn cho nền âm nhạc Việt Nam được thể tiến bộ và thoát khỏi cái khuôn khổ cổ xưa chật hẹp” của nó; họ muốn “đặt những viên gạch đầu tiên trong công cuộc xây dựng và đổi mới lại một nền quốc nhạc” (Dương Thiệu Tước 1948b: 4). Vừa đồng thời bị cuốn hút vừa lo ngại về sự xâm thực của âm nhạc phương Tây, họ tự xem mình như những người Việt Nam hiện đại tạo ra âm nhạc Việt Nam mang giá trị ảnh hưởng từ truyền thống và đã gặp được những đòi hỏi cấp bách thay đổi thế giới của chính họ” (“Cải cách và truyền thống trong ca khúc phổ thông Việt Nam thời kỳ đầu,” 11/1996).
 
Việt Nam và âm nhạc Việt Nam, ở đây tập trung vào ca khúc phổ thông, trong hệ thống bài viết của Gibbs, luôn có một đời sống tương đối tự sản tự tiêu, phản ánh xu hướng vận động của xã hội. Những du nhập bên ngoài sau lần đầu mới lạ và đột biến so với các thể tài cổ truyền những năm 1930, không có nhiều tác động lớn về sau. Ca khúc tuyên truyền của miền Bắc XHCN và nhạc vàng của miền Nam sau này, là những hình thức có yếu tố nội sinh chủ yếu. Ca khúc Việt Nam, ưu thế thuộc về những bản ballad ngắn, giai điệu dễ nhớ, dễ thuộc, ra đời nhanh, đã là một công cụ đáp ứng việc chuyển tải cảm xúc cá nhân cũng như thông điệp xã hội. Vì thế đây là loại hình văn hoá có sức sống và sức phổ biến rộng rãi. Gibbs nhìn nhận ở chúng một đời sống văn hoá phong phú và thú vị, có rất nhiều bài học soi rọi từ đây. Bằng việc khơi lại bối cảnh xã hội, Gibbs đã có những kết quả nghiên cứu giá trị: Trần Ngọc Quang, tác giả những ca khúc Việt Nam đầu tiên và sự liên quan đến Hội kịch Bắc Kỳ, đoàn kịch kinh doanh đầu tiên ở Việt Nam, mà gần như không được giới nghiên cứu chính thống nhắc đến. Trong khi dẫn lại những tài liệu, Gibbs đã cho thấy đây là những dấu ấn mang khát vọng của một tầng lớp thanh niên Hà Nội, những khát vọng chinh phục thế giới không thành còn kéo dài đến nay (“Kịch nói, Hội kịch Bắc Kỳ và bài hát tân nhạc Việt Nam đầu tiên,” Tạp chí Âm nhạc Á châu, 2000). Hay nhạc vàng, thực chất là một sự hôn phối của không gian văn hoá đô thị thời chiến tranh ở miền Nam với giai điệu Latin, song mang tâm trạng kế thừa vốn cải lương bản địa. Nhạc vàng, hay nhạc sến, dưới con mắt của Gibbs, là một sự thích nghi của con người trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt, là “âm nhạc bình dân, âm nhạc của sự trỗi dậy những tâm trạng băn khoăn bất an của tuổi trẻ” (“Nhạc vàng ‘hoá vàng’,” 2004). Viết về nhạc kỷ niệm trong những ca khúc viết về đề tài chiến tranh chống Mỹ sau 1975, bên cạnh những điều dễ thấy như yếu tố tuyên truyền, Gibbs cũng chia sẻ những cảm xúc hậu chiến, với những tâm trạng nhân văn, gắn kết những bài hát ấy với những hiện tượng như Đặng Thuỳ Trâm (“Những biểu tượng của cuộc chiến tranh chống Mỹ trong ca khúc Việt Nam sau 1975,” 2005). Gibbs cũng là người quan tâm đến giới sáng tác ca khúc, những nhạc sĩ có ảnh hưởng đến đời sống âm nhạc như Phạm Duy (“Phạm Duy - hành trình qua dòng lịch sử,” 1998), Đoàn Chuẩn (“Hồi ức của tình yêu trong bài ca,” 2001), Trần Tiến (“Trần Tiến, người hát rong của thời Đổi Mới,” 2006) cùng rất nhiều những chân dung phác thảo rải rác trong các bài viết như Văn Cao, Lưu Hữu Phước (“Quốc nhạc Việt Nam: Trước và sau thời kỳ thực dân,” 2006), Nguyễn Xuân Khoát, Dương Thiệu Tước (bài đã dẫn), hay những người tham gia hoạt động văn nghệ liên quan như diễn viên Ái Liên, ngôi sao sân khấu đa năng, hai viên chức ôm mộng kinh doanh phim ảnh sân khấu Nguyễn Vinh Lan, Lê Vũ Thái cùng hàng chục người sống quanh khung cảnh náo động của Hội kịch Bắc Kỳ những năm 1930 (bài đã dẫn). Đặc biệt, viết về những chân dung này, Gibbs có những dẫn chứng thú vị và ít nhiều có cái nhìn hóm hỉnh:
 
“Một sáng tạo trong vở kịch là sự thêm vào của một bài hát “điệu tây Thiếu-niên” có tên “Sầm Sơn”. Bài này được làm theo kiểu mà dẫn đến việc gọi là “bài ta theo điệu Tây” – kết hợp lời Việt và những nốt ngữ âm học của nó với đường nét của giai điệu được lựa chọn (Gibbs 2003-2004). Được hát trong lúc giải lao ngắn của vở kịch, bài hát tán dương cảnh đẹp và cuộc vui vẻ có được ở bãi biển Sầm Sơn.

”Lời một phần bài hát “Sầm Sơn” (1934):
 
Sầm-sơn ấy chốn thiên thai,
Sầm-sơn lắm thú vui chơi,
Hễ cùng nhau dan tay hát mừng.
Thú vui cảnh tiên non bồng...

Rắt tay nhau hát dăm ba,
Mấy ai có thú như ta,
Bể khơi đua bơi tắm mát.
Song (xong - ND), dan tay rắt nhau hát mừng.

”Lời lẽ thảnh thơi vẽ ra chân dung một bối cảnh rất Tây, rất hợp thời. Bài hát theo nhịp hành khúc đã được hát theo giai điệu Những chàng thủy thủ (“Les gars de la marine”) từ một nghệ sĩ mặc theo kiểu Maurice Chevalier, do Heymann và Boyer sáng tác trong bộ phim năm 1933 Thuyền trưởng Craddock.” (“Kịch nói, Hội kịch Bắc Kỳ và bài hát tân nhạc Việt Nam đầu tiên”, bài đã dẫn).
 
Hoặc những bức tranh châm biếm của các báo năm 1934 về phong trào khiêu vũ được tác giả trích dẫn như tranh trên tờ Ngọ báo, 10/5/1934:
 
“Hai nhân vật đầy tớ trong nhà kho - người phục vụ và đầu bếp - sửng sốt nhòm trộm cảnh ông bà chủ khiêu vũ:
 
Thằng Bếp: "Này Sen ơi, có lẽ cậu mợ bất-bình gì, tao thấy đang đánh vựt nhau"
 
“Lời bình ngầm thực ra là người thành thị tự hỏi nhau: “Thật là buồn cười làm sao nếu dân nhà quê và người ở cũng tập tọng nhảy nhót.” (“Điệu Rumba trên dòng Cửu Long: Bolero - một dạng ca khúc phổ thông Việt Nam”, bài đã dẫn).
 
Có thể nói, điều hay nhất của những nghiên cứu này là đã dựng lên được không khí của cả một thời kỳ. Chúng không còn là những bài nghiên cứu rời rạc, tầm chương trích cú, mà những câu chuyện, những nhân vật trong đó được tác giả gắn kết thành một chân dung có đời sống. Người đọc hình dung ra khung cảnh của một xã hội giao thời song đã chuyển biến rất mau lẹ, với những phản ứng đa dạng, thông qua cái nhìn hôm nay, khung cảnh đó không quá đỗi xa lạ và sự non nớt của buổi khởi đầu đã mang dáng vóc của sự chuẩn bị lớn lao.
 
3. Chọn một lối đi không hẹp
 
Về phương pháp nghiên cứu, Gibbs đặt các yếu tố phân tích trong môi trường văn hoá đa ngành, giữa văn và nhạc, giữa nghệ thuật và đời sống. Điều này làm cho các luận điểm hàn lâm mang tính tươi tắn với thái độ thận trọng khi đặt ra. Lối viết giản dị, khoa học, dẫn chứng cố gắng chính xác tuyệt đối, là những phẩm chất đáng tin cậy đối với những bài viết này.
 
Nhận diện được bản chất tác phẩm âm nhạc là điều rất khó khi dùng ngôn ngữ của loại thể tiểu luận nghiên cứu. Điều ít người nghiên cứu âm nhạc Việt Nam làm được là mô tả được bằng lời những kỹ thuật xử lý văn bản nhạc sao cho sáng sủa và khoa học. Có thể đọc được qua cách Gibbs phân tích bản ký âm của bản nhạc ca khúc đầu tiên Lời thề trong vở Kịch trường vạn tuế năm 1934 (“Kịch nói, Hội kịch Bắc kỳ và bài hát tân nhạc Việt Nam đầu tiên,” bài đã dẫn) cũng như nhận xét tinh vi qua đoạn sau:
 
“Ông [Thẩm Oánh] viết rằng khi viết lời Việt cho giai điệu nhạc Tây thì người viết phải chú ý đến “vần” của ca từ. Lời mang vần điệu là một vấn đề ngữ âm học đa dạng và thú vị. Ông còn cảnh báo thêm về việc dùng bài hát có nhịp điệu quá nhanh, như thế lời của chúng sẽ trở nên quá khó để nghe khi chuyển thể sang tiếng Việt.
 
“Lời của Nguyễn Gia Thắng đặt cho Marinella minh hoạ chính xác cho những rào cản này. Khổ thơ bốn câu mở đầu bài được đặt lời khá tự nhiên vì giai điệu nguyên thuỷ có đường nét đổi chiều và pha trộn nhịp điệu giữa các trường độ dài và ngắn. Đoạn hai của khổ lời được viết cho một giọng nhanh liến thoắng với các nốt móc lặp lại trên những độ cao không thay đổi, khi hát bằng tiếng Việt vừa khó hát vừa khó nghe. Nguyễn Gia Thắng xoay xở một cách khôn ngoan khi dùng một chuỗi 29 từ liên tiếp cùng một thanh, một kết quả cho việc loại trừ những từ dùng năm thanh còn lại của tiếng Việt. Với việc dùng đơn thanh như thế, kết quả lời thơ không thể như ý và đưa đến ấn tượng quá đà về một trò chơi chữ.” (“Bài Tây, bài Ta: Khúc dạo đầu và chuyển thể của ca khúc phổ thông Tây phương ở Việt Nam trước 1940,” Tạp chí Âm nhạc Á châu, số Thu Đông 2003/2004) .

Trong những phân tích văn bản nhạc và nhất là lời ca của bài hát, Gibbs cho thấy sự sắc sảo trong bình giá, song luôn với thái độ tỉnh táo của người nghiên cứu, hiếm khi mắc bệnh cảm tính của người trong cuộc như những người Việt dễ đề cao một bài hát nào đó thường nặng về mượn bài hát để giãi bày tâm trạng (điều này là một yếu tính không chỉ trong nghiên cứu âm nhạc mà còn có mặt trong mỹ thuật, văn học). Những phân tích này không bị tác giả lạm dụng, phần lớn Gibbs chú ý đến tương quan của ca khúc trong bối cảnh xã hội của nó, và nhà nghiên cứu có một cái nhìn xâu chuỗi. Điều này đương nhiên tác giả phải có một trường hiểu biết rộng lớn và toàn diện, cũng như sự công phu trong đối chứng và trích dẫn.
 
Cách phân tích, đánh giá của Gibbs vốn rất quen thuộc với công thức: hiện tượng – phân tích – đối chứng - kết luận, song với cách nghĩ luôn cố gắng khách quan và thận trọng, bằng chính những thông tin viện dẫn được kiểm chứng, cho đến việc chọn lọc dẫn chứng, những kết luận của tác giả rất thuyết phục. Ví dụ để có được một nhận xét về sự tương đồng trong diễn tả tình cảm của ca khúc hai miền, của người tập kết ra Bắc và di cư vào Nam từ 1954 đến 1957, Gibbs đã dùng phương pháp so sánh, lập bảng các từ diễn tả tâm trạng và bối cảnh chia tay, điều mà người Việt dễ quy vào trường cảm xúc hay một tấm phông quy ước đã có. Những câu hỏi nảy ra là: Tại sao ca khúc của người tập kết lại có vẻ ít bi luỵ hơn người di cư? Tại sao sức nặng của ca từ lại chi phối giá trị của những ca khúc này chứ không hẳn là cấu trúc giai điệu? Trong cách nhìn của người hậu thế và có chỗ đứng khách quan, việc làm có vẻ tỉ mẩn là bóc tách ca từ để phân tích lại là điều thông minh nhất (xem “Tình yêu và khát vọng nơi ranh giới: những ca khúc ở hai bờ vĩ tuyến 17,” 2004). Việc cân đối sự trích dẫn và diễn đạt ngắn gọn khiến cho văn bản có sự mềm mại, không cầu kỳ khó đọc, và cấu trúc có sự rành mạch, cho dù phân tích về những vấn đề ngồn ngộn thông tin.
 
Thông thường, với cách triển khai diễn dịch, quy nạp hay tổng-phân-hợp, người viết Việt Nam thường đặt sẵn một luận đề ngay từ đầu hay bằng chính tiêu đề, và kết quả là đoạn phân tích hay cả bài viết đọc có thể rất thông, song cũng gạt đi nhiều khả năng mở của vấn đề. Với chỗ đứng của một người nghiên cứu ngoại quốc, mặc dù có hiểu biết sâu về đời sống Việt Nam, thái độ của Gibbs là tìm cách khơi gợi các ngóc ngách để đào sâu vấn đề, để ngỏ những khả năng đi tiếp chứ không gò vào một định đề để làm cho ra đúng-sai. Nhưng như thế không có nghĩa là các bài nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức độ khảo cứu, tổng hợp và đưa ra hiện tượng như một bài viết salon vô thưởng vô phạt của những tác giả mang phong cách đi tham quan, mà có thể thấy khá nhiều trong số các bài viết của người nước ngoài về Việt Nam. Dưới mắt họ, Việt Nam là xứ sở lạ lùng, nhiều điều “nói ngược” và cứ thăm thú đi, kể lại đi là đủ vui, vv… Gibbs là một nhà phê bình thực tế và đứng ở góc độ nào cũng mang phong cách một “người sử dụng”, và ngay từ những bài viết đầu, Gibbs đã chứng tỏ mình không chỉ dừng lại ở vai trò một du khách có học tiếng Việt. Vì vậy, mỗi bài viết là một vấn đề đặt ra không chỉ bó hẹp ở câu chuyện nghệ thuật âm nhạc hay ca từ, mà nó vẽ ra cả một chân dung đời sống tinh thần. Cũng như có những bộ phim giới thiệu về Việt Nam theo lối mòn, có tính nhởn nhơ của người đi du lịch, nhưng cũng có những bộ phim nhìn thấy xã hội ở góc cạnh ta chưa bao giờ nhìn. Sức nặng của vấn đề đặt ra trong những bài viết được trải rộng, từ khát vọng canh tân của người Việt đầu thế kỷ 20 thông qua những phương tiện văn hoá ngoại lai, cho đến cách ứng xử của trí thức Việt Nam thông qua sự thay đổi về cách dùng âm nhạc của xã hội.
 
Người Việt trong bài viết của Gibbs là những con người thiết thực, giàu tình cảm và có hiểu biết sâu sắc về thế giới mình đang sống. Ở đây, sự sai lạc giữa nhà nghiên cứu và hiện thực được cố gắng giảm thiểu. Không phải lúc nào tác giả cũng chấp nhận những điều “người Việt Nam cho là bình thường” nhưng cách thức tiếp cận con người trên khía cạnh nhân văn và chung nhất như thế là điều đem lại sự hứng thú cho chính tác giả trong việc theo đuổi đề tài này cho đến nay.
 
Bằng những kỹ thuật và nhạc lý hoặc phương pháp phê bình khoa học, nhà nghiên cứu đã có được những yếu tố cần để hoàn thành công việc của mình. Song điều đó dễ mang lại những kết quả khô khan, hoặc rơi vào diễn giải mô tả, hoặc chỉ là ghi chép ở mức luận văn tốt nghiệp đơn thuần. Một trong những điều khiến công việc của Gibbs có kết quả tốt theo như chính ý của anh, là hiện thực âm nhạc Việt Nam có một sự phong phú và hấp dẫn đặc biệt. Bên cạnh truyền thống nghiên cứu những địa hạt hẹp và mới của học giả Tây phương nhiều thế kỷ qua, hướng đến những “nơi tận cùng của thế giới”, Gibbs có một tình cảm nhất định với Việt Nam. Có một tình cảm mang yếu tố cá nhân ở đây, nhưng cũng có sự say mê của tác giả đối với một đất nước có đời sống âm nhạc dù chỉ đủ sức sinh tồn trong phạm vi cộng đồng ngôn ngữ tiếng Việt nhưng lại bao chứa đa dạng những ảnh hưởng bên ngoài. Rõ ràng, nếu chỉ để khám phá một nơi tận cùng của thế giới, một chốn hẻo lánh và chưa ai khai phá thì hẳn Gibbs đã nhầm. Điều đáng nói là vẫn với cách đi bài bản và hệ thống như thế, tác giả đã phát hiện được rất nhiều điều mà bình thường chúng ta sống bên cạnh bấy lâu nhưng không nhìn ra được.
 
4. Kết luận:
 
Hẹp là một tính từ mang ý nghĩa tương đối, song từ này có thể phản ánh đúng thực trạng giao lưu văn hoá ở Việt Nam. Tuy nhiên, bằng việc làm của mình, cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác, J.Gibbs đã làm cho cánh cửa đến Việt Nam mở rộng hơn ra. Đặt ra vấn đề giao lưu là để tạo ra những lối vào rộng hơn, những môi trường văn hoá có tác động đa chiều hơn, trực tiếp với đời sống thực tại của Việt Nam.
 
Có một số vấn đề tồn tại mà chúng ta không hẳn không thể giải quyết được, ít nhiều phản ánh qua công việc của một nhà nghiên cứu độc lập như J.Gibbs. Đó là những thao tác văn bản, việc lưu trữ dữ liệu cũng như quản lý chúng. Bên cạnh việc một người làm công việc của cả một thư viện thì việc tìm ra một cách trình bày chúng, làm sống chúng thông qua những bài viết nghiên cứu là điều đáng quan tâm. Mặc dù không có cơ quan chuyên môn đứng đằng sau, Gibbs tham dự những hội thảo và đi về Việt Nam với sự vận động mang tính cá nhân. Được hỏi về những lợi ích cụ thể của việc này và đối với nơi làm việc là Thư viện công cộng San Francisco, Gibbs đã trả lời: “Ích lợi cụ thể nào đó thì không. Tôi bắt đầu tìm hiểu vì yêu thích, nay chẳng lẽ lại bỏ lửng, thế thì phí hoài mất bao nhiêu năm. Chỉ có một vài đồng nghiệp của tôi biết thôi, vì nghiên cứu nói chung là một công việc độc lập của cá nhân, không được tài trợ của ai cả. Chỉ vì thỉnh thoảng, tôi lại được mời tham gia các hội thảo quốc tế về âm nhạc nên có đồng nghiệp nào biết, họ cũng nể nang tôi một chút.” (Trả lời phỏng vấn báo Thể thao & Văn hoá, 1/11/2005).
 
 
 
Nguyễn Trương Quý
E-mail: quynt@yahoo.com

 

Phụ lục

Những bài viết của Jason Gibbs được sử dụng:
·        “Bài Tây, bài Ta: sự có mặt của ca khúc phổ thông Tây phương ở Việt Nam” (The West's Songs, Our Songs: The Introduction and Adaptation of Western Popular Song in Vietnam before 1940), Tạp chí Âm nhạc Á châu (Asian Music), Volume XXXV, Number 1, Fall/Winter 2003/2004.
·        “Nhạc Tiền Chiến: nguồn gốc của ca khúc phổ thông Việt Nam” (Nhac Tien Chien: The Origins of Vietnamese Popular Song), Hội thảo Hội âm nhạc dân tộc học (Society for Ethnomusicology), Northern California Chapter, Davis, California, tháng 2, 1996.
·        “Cải cách và truyền thống trong tân nhạc Việt Nam”), Nhac Viet: The Journal of Vietnamese Music, Fall 1997.
·        “Kịch nói, Hội kịch Bắc Kỳ và bài hát tân nhạc Việt Nam đầu tiên” (Spoken Theater, La Scène Tonkinoise, and the First Modern Vietnamese Song), Asian Music, volume XXXI, số 1, Thu/Đông 1999/2000
·        “Tình yêu và khát vọng nơi ranh giới: Những ca khúc ở hai bờ vĩ tuyến 17” (Love and Longing at the Border: Songs on Both Sides of the 17th parallel), Hội thảo Hội Văn hoá Đại chúng (Popular Culture Association) 2004, San Antonio, Texas.
·        “Nhạc vàng hoá ‘vàng’” (Yellow Music Turns Golden), Hội thảo Hội Văn hoá đại chúng (Popular Culture Association), tháng 3/2005) tại San Diego, California.
·        “Điệu Rumba trên dòng Cửu Long – Bolero, một dạng ca khúc phổ thông Việt Nam” (Rumba on the Mekong: Bolero as a Vietnamese Popular Song Form), Hội thảo Hội nghiên cứu Âm nhạc Phổ thông Quốc tế (International Association for the Study of Popular Music), Los Angeles, California, 21/9/2003.
·        “Hồi ức tình yêu trong bài ca” (Love's memories in song), Vietnamese Studies, 11/2003.
·        “Giai điệu của thi ca: tiếng Việt và âm nhạc,” Văn hóa Nghệ thuật 1, 83-88, 2001.
·        “Truyền thống và tiếp biến trong hình thành âm nhạc xã hội Việt Nam” (Tradition and Continuities in Vietnamese Social Music Making), The Conference of International Musicological Society (IMS), July 11-16, 2004.
·        “Bài ca không quên: dấu ấn của cuộc chiến tranh chống Mỹ trong ca khúc Việt Nam sau 1975” (An Unforgotten Song: Representations of the American War in Vietnamese Song after 1975, hội thảo “Ba mươi năm sau: văn học và điện ảnh về chiến tranh Việt Nam” (Thirty Years After: Literature and Film of the Vietnam War), University of Hawaii, 9 tháng 11, 2005. http://www.english.hawaii.edu/events/festival2005.html
- “Trần Tiến – Người hát rong của thời Đổi Mới” (Trần Tiến: Vietnam’s Troubador of Perestroika), Hội thảo Hội Văn hoá Phổ thông (Popular Culture Association), Atlanta, Mỹ, 13/4/2006.
- “Quốc nhạc Việt Nam: Trước và sau thời kỳ thực dân” (The Music of Nation in Vietnam: Before and After Colonialism), sắp đăng.
- Tản Đà – nhà thơ hiện đại đầu tiên của Việt Nam (Tan Da – Vietnam’s First Modern Poet), ThingAsian 1/1/2000).
Những bài viết của Jason Gibbs được sử dụng với sự đồng ý của tác giả. Những bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Trương Quý thuộc bản quyền của dịch giả.
 
Tài liệu tham khảo
Dương Viết Á, (1987) “Về cái ‘đời thường’ trong âm nhạc”, báo Văn Nghệ số 31, 1/8/1987.
Phạm Duy, (2006) Tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu, Nhà xuất bản Trẻ, Tp.HCM.
Phạm Duy, (2006) Nhớ, Nhà xuất bản Trẻ, Tp.HCM.
Eric Henry, (2005) “Phạm Duy and Modern Vietnamese History”, Southeast Review of Asian Studies 27. Phố Tịnh dịch, “Phạm Duy và lịch sử Việt Nam hiện đại”, talawas.org 22/11/2005.
Hoàng Ngọc-Tuấn, (2001) “Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam thế kỷ 20”, trả lời phỏng vấn Radio Australia, dẫn theo tienve.org.
(2005) “Vấn đề nâng cấp và cách tân ca từ”, tienve.org.
Lê Hoàng Long, (1995) Chuyện tình các nhạc sĩ tiền chiến, Nhà xuất bản Trẻ, Tp.HCM.
Nhiều tác giả, (1996) Văn Cao, cuộc đời và tác phẩm, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội.
Phạm Quang Tuấn, (2003) “Một cái nhìn về âm nhạc Việt Nam hải ngoại,” Đỗ Minh Tuấn phỏng vấn, dẫn theo tienve.org.
Nguyễn Văn Tý, (2005) Tự hoạ, hồi ký, Nhà xuất bản Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

 http://www.vienvanhoc.org.vn/reader/?id=70&menu=109

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4812484