Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Âm nhạc cổ truyền

Nguyễn Xuân Diện : Đằng sau “Điệu múa cổ Bài bông thời Trần”

Câu chuyện phục hồi điệu múa cổ Bài Bông “thời Trần” của nhóm Tràng An đã ít nhiều gây chú ý trong dư luận. Đằng sau đó là những vấn đề không nhỏ về thái độ và cách ứng xử của chúng ta đối với vốn văn hoá cổ truyền - phục hồi cái gì, dựa trên cơ sở nào để phục hồi, và phục hồi ra sao? Vậy đằng sau điệu múa cổ là gì?

 

 

Đằng sau “Điệu múa cổ Bài bông thời Trần”

 


Tại sao lại trình diễn trên non thiêng Yên Tử

 

Theo bài viết “Điệu múa cổ thời Trần hồi sinh” của Uyên Ly trên báo Tuổi Trẻ Tết Mậu Tý thì sau khi nghe nghệ sĩ Kim Đức kể về điệu múa bài bông, Trần Ngọc Linh - một thành viên nhóm ca trù Tràng An đến viết bài về khu di tích Yên Tử, tình cờ gặp đại đức Thích Thanh Quyết - trụ trì các chùa thuộc khu di tích Yên Tử. Ông đã bộc lộ với anh ý định tổ chức một đội nhạc lễ cho nhà chùa. Trần Ngọc Linh bèn giới thiệu với Đại đức về điệu múa Bài bông thời Trần 700 năm tuổi và nhóm Tràng An. Đại đức lập tức mời bà Kim Đức “người duy nhất giữ được điệu múa cổ này” phục dựng điệu múa cho kịp ra mắt vào dịp khai hội xuân Yên Tử 2008.

 

Điệu múa mà nhóm Tràng An gọi là múa Bài bông đã được nhà chùa hoan hỷ góp công góp của để “phục dựng” và đã được trình diễn trong đêm giỗ Trần Nhân Tông, tại khu di tích Yên Tử. Bài báo viết: “Sau khi điệu múa kết thúc, bà Kim Đức nhận được rất nhiều lời cảm ơn từ người xem. Bà Kim Đức chia sẻ: “Tôi không ngờ rằng sẽ có lúc múa bài bông được dựng lại. Được như thế này đã là quá sức tưởng tượng của tôi”.

 

Cái “điệu múa 700 năm tuổi” ấy chỉ được thấy trong sách Tuyển tập thơ ca trù với lời khẳng định của nhà thơ, nhà nghiên cứu Ngô Linh Ngọc: Múa bài bông do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật dựng nên. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Ngô Linh Ngọc khẳng định như vậy mà không đưa ra được một dẫn chứng nào. Đấy là căn cứ duy nhất của Trần Ngọc Linh và nhóm Tràng An.

 

Điệu múa được nhóm  Tràng An “chắp nhặt” từ đâu?

 

Theo Trần Ngọc Linh, khi phục dựng điệu múa Bài Bông “trong tay nhóm Tràng An lúc bấy giờ có đúng một số cuốn sách: Việt Nam Ca trù Biên Khảo; Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam (Đỗ Bằng Đoàn & Đỗ Trọng Huề); Tuyển tập thơ Ca trù(Ngô Linh Ngọc); Một số sách và bài viết về Ca trù đầu thế kỷ 20 của các tác giả; Một số ảnh chụp múa Bài Bông đầu thế kỷ 20 do những công chức người Pháp đã từng làm việc ở Đông Dương chụp và quan trọng nhất là trí nhớ tuyệt vời của nghệ sĩ Kim Đức”(VNnet). Tư liệu chỉ có vậy, chủ yếu dựa trên trí nhớ của Nghệ sỹ Kim Đức khi bà được múa điệu này vào năm bà 14 tuổi cách đây đã 63 năm.

 

Do vậy nhóm Tràng An đã phải chắp nối từ nhiều nguồn là đương nhiên. Điều này được chính tác giả Trần Ngọc Linh minh chứng trong các phần viết về quá trình phục dựng như một lao tâm khổ tứ. Nhóm đã cử người đi Huế, gặp các nghệ nhân múa cung đình còn lại để chắp nối. Hình đèn hoa sen trên vai của các vũ công là “học” từ Huế để chứng tỏ tính chất cung đình của điệu múa mà họ “phục hiện”.

 

Đồng thời khi làm trang phục họ có căn cứ trên những bức ảnh người Pháp chụp. Đây chính là những bức ảnh mà tôi lần đầu tiên giới thiệu tại cuộc họp triển khai xây dựng hồ sơ ca trù trình UNESCO do Bộ VHTT tổ chức vào năm 2005. Nhưng tiếc rằng họ đã “chế biến” mà không làm đúng theo những cứ liệu đó. Ví dụ đèn vuông thì họ làm đèn cánh sen (theo kiểu múa cung đình Huế), quần áo trang phục cũng khác với hình chụp năm 1885 (Trần Ngọc Linh do chưa đọc kỹ phần giới thiệu của trang web nên đã loan tin rằng nó là bức ảnh được chụp vào đầu thế kỷ 20). Điều này, khiến cho một số nghệ nhân ca trù khi xem giới thiệu trên truyền hình (VTV2, sáng mùng 4 Tết) thì cho rằng nó đã bị làm sai về trang phục (cả màu sắc, phụ trang) và trông rất giống cảnh lên đồng hầu bóng; còn công chúng thì cho rằng nó giống múa cung đình Huế mà họ thường thấy trên truyền hình.

 

Còn lời ca, và vũ điệu, theo Trần Ngọc Linh thì “Múa Bài Bông gồm 9 màn nhưng trên thực tế chỉ diễn 6 màn theo thứ tự: Một bài hát Kéo ra (Tựa như màn giáo đầu) – Bài hát Xuân (Ca ngợi cảnh sắc tươi vui đất nước trong vào mùa Xuân, tương tự như vậy có các bài Hạ - Thu – Đông, khi diễn xướng mà linh hoạt tùy theo tiết mùa mà đổi bài hát) – Sau bài hát Xuân đến bài hát Khách – Tiếp vào bài Thời Hồ (Tức là Đào viên kết nghĩa) – Tiếp tục là một bài hát Khách và kết thúc là bài Kéo vào. Múa đủ 6 màn hết gần một tiếng”(VNnet). Tại sao nhóm Tràng An lại nói “thực tế chỉ diễn 6 màn”. Đó là “thực tế” nào vậy? Trong khi theo Trần Ngọc Linh thì thế kỷ XX chỉ có hai lần diễn năm 1924 và 1945. Còn 3 màn kia thì sao?

 

Nghệ sỹ ưu tú Nguyễn Văn Khuê (nhóm Thái Hà) cho biết rằng nhóm Tràng An chỉ có một bài Xuân mà cũng không đầy đủ. Và chính ông, trong dịp Liên hoan ca trù tổ chức tại Nhà hát lớn đã phải đọc cho họ nghe một số đoạn. 

 

Còn về âm nhạc, nhóm Tràng An đã dựa vào một đoạn nhạc ngắn làm nền của phim tư liệu Hát Cửa đình Lỗ Khê (Trung tâm Nghe nhìn thực hiện năm 1984) để “sáng tạo” tiếp. Đó là đoạn nhạc có đủ bát âm. VCD tư liệu này không ai còn giữ được và bà Kim Đức cùng nhóm Tràng An biết rõ điều này. Tôi may mắn được cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Lưu (Viện XH học Hà Lan) về nước trao tặng vào năm 2002. Sau đó tôi đưa cho Trần Ngọc Linh sao lại  và đưa cho nhóm Tràng An và nhiều nhà nghiên cứu khác.

 

Với cách làm trên, ta không thể gọi điệu múa mà nghệ sĩ Kim Đức phục hiện là điệu múa thời Trần với 700 năm tuổi, cũng không thể gọi nó là điệu Bát Bài bông (hoặc Bát Bài hoa) của nghệ thuật ca trù. Đương nhiên, cũng không thể gọi là sản phẩm “gia truyền” được. Nó chỉ là điệu múa do Bà Kim Đức và nhóm Tràng An “sáng tác” đúng như nhạc sĩ Đặng Hoành Loan đã thận trọng nhận định.

 

Ai đang giữ bí mật của điệu múa Bát bài hoa đích thực của ca trù?

 

Bài báo có nói rằng bà Kim Đức chủ yếu dựa trên trí nhớ của bà để phục dựng điệu múa này. Theo lời bà thì năm 1945, bà cùng một số đào hát đã trình diễn nhiều tiết mục văn nghệ, trong đó có điệu múa Bài bông tại Nhà hát lớn Hà Nội để lấy tiền cứu đói cho đồng bào.

Bà Kim Đức sinh năm 1931. Năm 1945 bà mới 14 tuổi, đứng trong đội múa này. Sau năm 1945 sinh hoạt ca trù trở thành một thứ sinh hoạt bị cả xã hội thành kiến. Lần hồi kiếm sống, đến năm 1960, bà Kim Đức mới vào làm việc ở đội Chèo Đài Tiếng nói Việt Nam và trở thành nghệ sỹ ưu tú ngành chèo rồi về hưu vào năm 1986. 14 tuổi tham gia đội múa để rồi đến tuổi gần 80 mới dựng lại một điệu múa cổ thì thật là một điều phi thường. Chính vì hiểu được điều này nên bà đã trả lời phỏng vấn VTV2 rằng bà dựng lại không được 100 %, mà chỉ được 70 -80 %. Như thế, thì theo bà đó là 70 -80 % so với 100 % của trí nhớ non nớt của cô bé 14 tuổi về cái lần diễn ở Nhà hát Lớn năm ấy.

 

Trần Ngọc Linh cho biết nghệ sĩ Kim Đức kể rằng “có học được điệu múa Bài Bông từ bà cô là cụ Phó Thị Yến, cụ Phó Thị Yến trước theo học Ca trù ở Thanh Hóa sau lấy ông Trưởng Bảy bên ấp Thái Hà nên mọi người vẫn hay gọi là bà cụ Trưởng Bảy”(VNnet). Như thế thì ngay cái gọi là “gia truyền” của bà Kim Đức cũng là sản phẩm chắp nhặt rồi.

 

Theo ông Nguyễn Văn Mùi (nhóm Thái Hà), cuộc biểu diễn quyên góp tiền cứu đói đồng bào năm 1945, là do bà Nhạn và bà Mộng Hoàn khởi xướng. Trong số họ có bà Trần Thị Ngọ và giáo phường Thái Hà của bà. Bà Trần Thị Ngọ đã được các vị trong dòng họ dạy cho tất cả các bí quyết và thể thức ca trù được truyền từ nhiều đời trước. Rất may mắn là trước khi mất, bà Trần Thị Ngọ là bà cô bên họ ngoại đã truyền dạy lại toàn bộ vũ điệu, trang phục và lời hát cũng như thể thức của vũ điệu Bài Bài hoa của nghệ thuật ca trù cho ông Nguyễn Văn Mùi và các con ông là Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Văn Tiến. Nhóm này mang tên Thái Hà, là nhóm ca trù đầu tiên của Việt Nam được mời đi biểu diễn nghệ thuật ca trù tại nhiều nước trên thế giới.

 

Đây là một gia đình đã gìn giữ ca trù qua 7 đời, kể từ cụ Thủ khoa Cử nhân Nguyễn Đức Ý với 8 bài ca trù hiện còn lưu giữ tại kho thư tịch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Trải các đời dòng họ này đều có các danh ca danh cầm được biết bao tao nhân mặc khách nghiêng mình nể phục, trở thành những nhân vật trong trong các tác phẩm bất hủ của Nguyễn Tuân. Đó là ông Trưởng Bảy và vợ là Phó Thị Yến; là Nguyễn Thị Tuyết (bà Phán Chí); là cụ Nguyễn Văn Xuân (ông Trưởng Xuân) vô địch đàn Đáy Bắc Hà và Phán Huy (tức bà Phẩm - từng được tôn vinh là Đệ Nhất Phách ca trù)…Nay, dòng họ này có hai tay đàn Nguyễn Văn Khuê (Nghệ sỹ ưu tú duy nhất của ngành ca trù Việt Nam hiện nay) và Nguyễn Văn Tiến với tiếng đàn mỗi người một vẻ, cùng phô vẻ đẹp thanh kỳ của tiếng đàn đáy ca trù.  

 

Kho báu ca trù là ở đó chăng? Mà vũ điệu Bát Bài bông sang trọng, cao quý của nghệ thuật ca trù đích thực cũng ở đấy chăng ?

 

 

Nhóm Thái Hà đã từng gìn giữ nghệ thuật ca trù qua biết bao biến động của thời cuộc. Đã truyền được 7 đời với hiện vật và dấu tích còn đấy! Nhất định vũ điệu Bài bông (bát bài hoa) sẽ có ngày được Thái Hà đem ra giới thiệu. Khi ấy, các nhà nghiên cứu và đông đảo công chúng sẽ có dịp thẩm định, bình phẩm, đối chiếu và thưởng ngoạn.

Đó là điều mà tôi cũng chờ đợi đã lâu.

 

TS. Nguyễn Xuân Diện

(Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

 

 

 

 

 

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4812709