Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhạc Việt

Nguyễn Xuân Diện & Đinh Thanh Hiếu :Phát hiện mới nhất về lễ nhạc thời Lê (Phần II):

 Dưới đây là phần phiên âm và chú giải năm bản nhạc chương Nôm đời Lê do TS. Nguyễn Xuân Diện (Viện Hán Nôm) và Thạc sĩ Đinh Thanh Hiếu (Đại học Quốc gia, HN) thực hiện với cố gắng cao nhất:

Phát hiện mới nhất về lễ nhạc thời Lê (Phần II):
Thứ hai, 18/2/2008, 07:00 GMT+7


>>Phát hiện mới nhất về lễ nhạc thời Lê (Phần I)
>>"Đối xử với chữ Nôm": Cưỡi ngựa xem hoa, hoa chẳng nở!
>>Làm sống lại chữ Nôm: Không khó!
>>Chữ Nôm và Linh khí ngút ngàn Đại Việt
>>Bí mật sách... dịch của NXB Hội Nhà văn (2)
>>“Máu” đã nhuộm đỏ cuốn “Những nền văn minh thế giới”

 

 

 

 




























Bài 2: Lương Mục Vương

 Thụy Trạch hầu Nguyễn Hoãn phụng soạn

Nền nhân nẻo trước triệu bồi[xxiv]

 


Lễ hội Triều Khúc.

Cây giồng lá ngọc, sông khơi dòng vàng

Cung xuân[xxv] trong tiết thanh thương[xxvi]

Hồng tinh dãi bóng[xxvii], thiên hương nức mùi

Duệ thông[xxviii] nối đấng thượng tài

Còn tuần mông dưỡng [xxix]doành ngôi quốc trừ[xxx]

Một phen xuất các mai sơ[xxxi]

Cầm quyền Đô phủ, dựng cờ Tả dinh[xxxii]

Vui hôm lo sớm cung đình

Kính thừa đạo Vũ[xxxiii], hiếu thành lòng Văn[xxxiv]

Ngóng trông đâu đấy muôn dân

Ca câu tam thiện[xxxv], tụng văn tứ trùng[xxxvi]

Xưa sau thế đích nối dòng

Sẵn nền kiến đốc[xxxvii], rạng công cấu đường[xxxviii]

Phúc nhà truyền dõi ngôi vương

Nhân dường lân chỉ[xxxix], thịnh dường chung ty (tư)[xl]

Tòa rồng ứng tượng quang nghi[xli]

Hiệu dâng sách ngọc[xlii], dấu ghi đỉnh vàng[xliii]

Thăng ca tấu dịp sênh hoàng[xliv]

Mượn thơ Trường phát[xlv] một chương nối vần

 

 

 


























(Còn nữa)

TS. Nguyễn Xuân Diện (Viện Hán Nôm) và

Thạc sĩ Đinh Thanh Hiếu
(Đại học Quốc gia, HN)


[i] ) Dương khai: tức Tam dương khai thái. ý nói vào tháng Giêng (Tam dương) mùa xuân thì muôn vật có điều kiện sinh sôi nảy nở, phát triển thịnh vượng.

[ii] Năm Dậu tháng Mùi: chúa Trịnh Căn sinh vào tháng Mùi (tháng 6) năm Quý Dậu (1633).

[iii] Xích thất: nhà đỏ, tức ánh sáng đỏ đầy nhà. Khi những đấng phi thường sinh ra thì có những điềm kỳ lạ như dao quang quán nguyệt, cầu vồng, ánh đỏ đầy nhà...Sách Lam Sơn thực lục cũng có chép khi Lê Thái Tổ sinh có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương lạ khắp xóm...

[iv] Kim chi: cành vàng, chỉ con cháu, dòng dõi đế vương.

[v] Cung xanh: tức thanh cung, cung của Thái tử. Theo sách Thần dị kinh thì: Phương đông có cung điện tường bằng đá xanh, cửa bằng bạc, đề rằng: “Thiên địa trưởng nam chi cung” (Cung của con trưởng trời đất). Vì thế mới gọi cung của Thái tử là Đông cung hay Thanh cung. Câu này nói về lúc Trịnh Căn còn làm Thế tử.

[vi] Trùng huy: hai lần sáng, ý nói nối được đức sáng, sự nghiệp vẻ vang của cha. Tượng truyện quẻ Ly, Kinh Dịch viết: “Minh lưỡng tác, Ly, đại nhân dĩ kế minh chiếu hồ tứ phương” (Sự sáng hai lần đấy là quẻ Ly, đấng đại nhân coi đó mà kế tiếp sáng soi bốn phương).

[vii] Nam Hà: chỉ miền đất từ sông Gianh trở vào Nam, do các chúa Nguyễn cai quản thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Dương Vương Trịnh Tạc (cha Trịnh Căn) từng sai Trịnh Căn vào Nghệ An cùng với Ninh quốc công Trịnh Toàn đánh Đàng Trong và cai trị ở Nghệ An, ở đó được sáu năm, đánh thắng được tướng của chúa Nguyễn, thu lại được bảy huyện.

[viii] Bắc chinh: đánh phía Bắc, chỉ việc đánh dẹp các cuộc nổi dậy ở Bắc Hà - Đàng Ngoài - miền đất từ sông Gianh trở ra Bắc do Lê - Trịnh cai quản.

[ix] Giang Hán: tên bài thơ trong phần Đại nhã - Kinh Thi, nội dung ca ngợi công nghiệp đánh dẹp Hoài Di của Mục công Thiệu Hổ đời Chu Tuyên Vương. Đây dùng để ca ngợi vũ công của Trịnh Căn.

[x] Vũ thành: vũ công đã hoàn thành. Đây cũng là tên một thiên trong phần Chu thư - Kinh Thư nội dung nói về thắng lợi của Chu Vũ Vương trong việc đánh Trụ diệt nhà Thương.

[xi] Túi quẩy cung tên: ý nói vũ công đã hoàn thành, cung tên không còn phải dùng đến nữa, cất vào trong túi.

[xii] Văn công: Sự nghiệp văn trị.

[xiii] Điềm thái bình vẫn nghiệm thấy khi xem trời (trời ở đây còn chỉ chúa Trịnh).

[xiv] Đường thông lời tượng: Có lẽ là nhắc điển “Khang cù kích nhưỡng”, chỉ cảnh cực trị. Đời Đế Nghiêu, vua Nghiêu mặc thường phục đi vi hành ở khang cù (đường thông) thấy ông lão gõ cái Nhưỡng (một thứ nhạc khí thời cổ) hát rằng: “Mặt trời mọc thì ta làm, mặt trời lặn thì ta nghỉ, đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn, sức vua đối với ta có gì đâu” (Nhật xuất nhi tác, nhật nhập nhi tức, tạc tỉnh nhi ẩm, canh điền nhi thực, đế lực hà hữu ư ngã tai). ý nói trị đạo cực thịnh, dân được sống thảnh thơi, sung sướng, tự nhiên, tưởng như không phải nhờ vào vua nữa.

[xv] Chằm êm tiếng hồng : ở đầm không có tiếng chim hồng kêu, ý nói không còn giặc giã. Đây lấy chữ từ thơ Hồng nhạn ở phần Tiểu nhã - Kinh Thi: “Hồng nhạn vu phi, tập vu trung trạch... Hồng nhạn vu phi, ai minh ngao ngao...” (Hồng nhạn bay, đậu ở giữa đầm... hồng nhạn bay, cất tiếng kêu đau buồn...) hình tượng dân chúng vất vả khổ sở kêu than vào thời nhà Chu suy.

[xvi] Doành Phong bao kỷ: cây kỷ ở sông Phong. Đây lấy chữ từ thơ Văn Vương hữu thanh phần Đại nhã - Kinh Thi: “Phong thủy hữu kỷ, Vũ Vương khởi bất sĩ, di quyết tôn mưu, dĩ yến dực tử, Vũ Vương chưng tai” (Sông Phong có cây kỷ, Vũ Vương há không có việc gì sao ? Để lại mưu cho cháu để giúp cho con được yên, Vũ Vương thực xứng đáng làm vua). Đây dùng điển này ý nói mưu tính lâu dài cho con cháu đời sau.

[xvii] Cẩn lòng bao tang: lòng cẩn thận buộc vào cây dâu rậm. Đây lấy chữ từ quẻ Bĩ - Kinh Dịch. Lời hào từ hào Cửu ngũ quẻ Bĩ rằng: “Hưu bĩ, đại nhân cát - Kỳ vong, kỳ vong, hệ vu bao tang” (Nghỉ bĩ, đấng đại nhân tốt. Này mất, này mất, buộc vào cây dâu rậm). Hào Cửu ngũ dương cương trung chính lại ở cuối thời bĩ nên có thể tắt nghỉ sự bĩ nhưng vẫn chưa hết thời bĩ nên có câu răn “Này mất, này mất, buộc vào cây dâu rậm”, ý nói răn dè cẩn thận tìm cách giữ yên ổn vững chắc như buộc vào cây dâu rậm vậy.

[xviii] Tộ: vận nước, phúc nước, ngôi vua.

[xix] Dặc dặc: lâu dài mãi mãi (từ cổ).

[xx] Chấn quang bách phúc: khởi phát rạng rỡ, hưởng trăm phúc.

[xxi] Chưng thường thiên thu: hưởng tế lễ nghìn năm. Chưng là tế mùa đông, thường là tế mùa thu (theo Kinh Lễ). Dùng chữ chưng thường chỉ tế lễ.

[xxii] Tượng thuở đản phù: hợp với điềm tốt.

[xxiii] Miếu Chu thơ Vũ, sân Ngu dịp Thiều: tấu thơ Vũ ở tông miếu nhà Chu, tấu nhạc Thiều ở sân nhà Ngu. Vũ là nhạc do Chu Vũ Vương làm ra, Thiều là nhạc do vua Thuấn nhà Ngu chế ra. Đức Khổng Tử khen nhạc Thiều là tận thiện tận mỹ, nhạc Vũ là tận mỹ.

[xxiv] Triệu bồi : tạo dựng, vun đắp.

[xxv] Cung xuân: tức cung của Thái tử – cũng như chữ Thanh cung, Đông cung (xem chú thích 5). Phương đông thuộc hành mộc, ứng với màu là màu xanh, ứng với mùa là mùa xuân nên Đông cung, Thanh cung hay Xuân cung là như nhau. Đây chỉ cung của Thế tử.

[xxvi] Thanh thương: trong trẻo.

[xxvii] Hồng tinh dãi bóng: dãi bóng cầu vồng. Bà mẹ vua Thiếu Hạo là bà Loa Tổ khi ra bến Hoa thấy có ngôi sao cực lớn, sáng như cầu vồng sa xuống, cảm điềm ấy mà có thai sinh ra vua Thiếu Hạo. Đây chỉ điềm lành sinh đấng phi thường.

[xxviii] Duệ thông: sáng suốt, sâu sắc.

[xxix] Mông dưỡng: nuôi sự chính từ khi còn tuổi trẻ. Đây lấy chữ từ Kinh Dịch. Thoán truyện quẻ Mông – Kinh Dịch có câu: “Mông dĩ dưỡng chính, thánh công dã” (Trẻ thơ nuôi sự chính, đó là công làm nên bậc thánh vậy). ý nói từ khi tuổi trẻ đã nuôi dưỡng sự chính, là cách để có thể trở nên bậc thánh. Câu này nói Lương Mục Vương khi còn tuổi trẻ.

[xxx] Quốc trừ: người sẽ sau này nối ngôi.

[xxxi] Xuất các mai sơ: bắt đầu ra gác – ý nói bắt đầu tham gia việc chính sự.

[xxxii] Đô phủ, Tả dinh: chức vị và nơi làm việc của Lương Mục Vương khi đó.

[xxxiii] Kính thừa đạo Vũ: theo đạo của vua Vũ kính cẩn thuận thừa. Thiên Đại Vũ mô - Kinh Thư có câu “Chi thừa vu đế” (Kính cẩn thuận thừa đế Thuấn). Vũ đây là vua Đại Vũ, mở đầu nhà Hạ, được vua Thuấn nhường ngôi cho.

[xxxiv] Hiếu thành lòng Văn: lòng như Văn Vương thành tâm hiếu kính. Chu Văn Vương khi còn làm Thế tử hết lòng trọn vẹn đạo hiếu đối với cha là Vương Quý, hàng ngày ba lần yết kiến thăm hỏi (xem thiên Văn Vương thế tử - Kinh Lễ).

[xxxv] Tam thiện: chữ trong thiên Văn Vương thế tử - Kinh Lễ. Sau thường dùng để ca tụng đức độ của Thái tử hay Thế tử. Tam thiện (ba điều thiện) là: thân người thân, tôn vua, kính người tôn trưởng.

[xxxvi] Tứ trùng: đây đọc hiệp vận, chính xác phải là Tứ trọng (Bốn điều trọng): Lời nói thận trọng thì có phép, nết thận trọng thì có đức, dáng mặt thận trọng thì có oai, sự ưa thích thận trọng thì có sự trông vào (Pháp ngôn).

[xxxvii] Kiến đốc: gây dựng, dốc sức. Đây lấy chữ từ thiên Vũ thành phần Chu thư - Kinh Thư: “... Duy tiên vương kiến bang khải thổ, Công Lưu khắc đốc tiền liệt...” (Các tiên vương (nhà Chu) dựng nước mở đất, đến Công Lưu dốc sức nối noi sự nghiệp trước...). “Sẵn nền kiến đốc” ý nói sẵn cơ nghiệp của tổ tiên đã gây dựng.

[xxxviii] Cấu đường: dựng nhà. Đây lấy chữ từ thiên Đại cáo phần Chu thư - Kinh Thư : “... nhược khảo tác thất, ký để pháp, quyết tử nãi phất khẳng đường, thẩn khẳng cấu...” (... Như cha xây nhà, đã đặt ra quy mô, thế mà con lại không đắp nền, huống chi là xây nhà...). Từ đó chữ “cấu đường” thường dùng để chỉ con cháu nối tiếp và phát huy sự nghiệp của cha ông. Câu “Sẵn nền kiến đốc rạng công cấu đường” ý nói đã sẵn cơ nghiệp của cha ông gây dựng, nay nối tiếp và phát triển hơn lên.

[xxxix] Lân chỉ: chân con lân. Con lân là một loài thú có nhân đức, khi kỳ lân xuất hiện là điềm có thánh nhân ra đời. Kinh Thi phần Chu nam có thơ Lân chỉ: “Lân chi chỉ, chân chân công tử, hu ta lân hề...” (Chân con lân, công tử nhân đức, ôi chao con lân...) ca ngợi công tử, công tôn, công tộc nhân đức như con lân vậy.

[xl] Chung tư: chung tư là gọi con giọt sành, thuộc loài côn trùng. Chung tư là tên bài thơ trong phần Chu nam – Kinh Thi ca ngợi bà Hậu phi của Chu Văn Vương có nhân đức nên được con cháu đông đúc thịnh vượng (như loài chung tư).

[xli] Tượng quang nghi: vẻ uy nghiêm rực rỡ.

[xlii] Sách ngọc: khi xưa phong, tặng tước vị tôn quý thì ban cho sách ngọc hay sách vàng, sách bạc, trong sách có ghi lời chế văn phong, tặng.

[xliii] Dấu ghi đỉnh vàng: ý nói tên tuổi sự nghiệp được đúc vào đỉnh báu truyền lại lâu dài.

[xliv] Sênh hoàng: sênh, hoàng là hai loại nhạc khí thời cổ.

[xlv] Trường phát: tên bài thơ trong phần Thương tụng - Kinh Thi ca ngợi các tiên vương nhà Thương: “Tuấn triết duy Thương, trường phát kỳ tường...” (Nhà Thương nối đời có các vị vua sáng suốt, điềm lành đã phát từ rất lâu rồi...).

[xlvi] Đoài cung: tây cung. Đoài là tên một quẻ trong bát quái phương vị ở về chính Tây.

[xlvii] Kim canh: cũng chỉ phương Tây. Hành Kim phương vị về chính Tây, ứng với thiên can thì hành Kim thuộc Canh, Tân. Vậy nên Kim, Canh đều chỉ phương Tây.

[xlviii] Bến Hoa: Xem chú thích 27.

[xlix] Dao tinh vẻ lồng: bà Xương Bộc là vợ của Xương ý (con Hoàng Đế) cảm điềm Dao quang quán nguyệt (ánh sáng Dao tinh xuyên mặt trăng) mà có thai sinh ra vua Chuyên Húc. Đây cũng chỉ điềm sinh đấng phi thường.

[l] Đản di: đến tuần sinh nở, ngày sinh.

[li] Thiên trung: tiết chính trung, đúng giữa (đây có lẽ là giữa tháng).

[lii] Phong nghi đĩnh dị: phong thái dung mạo khác lạ.

[liii] Chấn văn vừa nảy hào dương: ý nói sinh con trai trưởng. Quẻ Chấn tượng trưởng nam, có một hào dương ở dưới.

[liv] Đan thư sớm đã tỏ tường điềm Chu: “Đan thư” là Sách đỏ. Theo sách Lã thị Xuân thu, vào thời Văn Vương nhà Chu có con chim mỏ đỏ (xích điểu) ngậm đan thư đậu ở nền xã nhà Chu. Văn Vương nói: “Hỏa khí mạnh”, nên chuộng màu đỏ. Đó là điềm lành trời ban cho Chu Văn Vương.

[lv] Cung xuân: xem chú thích 25.

[lvi] Huân đào: hun đúc, rèn giũa.

[lvii] Cơ công: có lẽ chỉ Cơ Đán, tức Chu Công, em Vũ Vương, chú của Thành Vương nhà Chu. Chu Công phụ chính thời Thành Vương còn nhỏ, sau khi Thành Vương lớn, ông trao lại chính quyền cho Thành Vương. Câu này có lẽ ý nói Thế tử còn nhỏ, phải rèn giũa, bồi dưỡng để sau này trao cơ đồ cho.

[lviii] Dưỡng mông: xem chú thích 29.

[lix] Thuở suối trong: ý nói tuổi thơ rất thuần khiết, trong sạch, phải bồi dưỡng, rèn giũa sự chính từ lúc này.

[lx] Vinh dụ: vẻ vang, giàu thịnh.

[lxi] Hiếu tư: suy nghĩ về đạo hiếu. Đây lấy chữ từ thơ Hạ Vũ phần Đại nhã - Kinh Thi: “...Vĩnh ngôn hiếu tư, hiếu tư duy tắc...” (Mãi mãi suy nghĩ về đạo hiếu, lòng hiếu thuận làm phép tắc...).

[lxii] Phủ xanh: tức cung Thế tử (xem chú thích 5).

[lxiii] Nảy chính cơ: ý nói bắt đầu tham gia chính sự.

[lxiv] Huy luân: chưa hiểu điển tích, ý nghĩa.

[lxv] Sáu truyền: kể từ Thế tổ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm mở nghiệp, truyền:

1- Thành tổ Triết Vương Trịnh Tùng.

2- Văn tổ Nghị Vương Trịnh Tráng.

3- Hoằng tổ Dương Vương Trịnh Tạc.

4- Chiêu tổ Khang Vương Trịnh Căn.

5- Lương Mục Vương Trịnh Vĩnh.

6- Tấn Quang Vương Trịnh Bính.

[lxvi] Vạc báu, sách vàng: xem chú thích 42, 43.

[lxvii] Tư văn: tên bài thơ trong phần Chu tụng - Kinh Thi - cũng là bài nhạc tế Hậu Tắc (viễn tổ nhà Chu): “Tư văn Hậu Tắc, khắc phối bỉ thiên...” (Hậu Tắc có văn đức, sánh hợp với trời...).

[lxviii] Đòi: nhiều (từ cổ).

[lxix] Dặc dặc: xem chú thích 19.

[lxx] Chưng thường: xem chú thích 21.

 

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4812737