Chúng tôi xin giới thiệu tiếp 2 bản nhạc chương Nôm vừa mới được phát hiện:
| Phát hiện mới nhất về lễ nhạc thời Lê (Phần III) | ||||||
| Thứ ba, 19/2/2008, 07:00 GMT+7 | ||||||
| | ||||||
| >> Phát hiện mới nhất về lễ nhạc thời Lê (Phần I) Nhân phát hiện các bản nhạc chương đời Lê, chúng tôi thấy không thể không nhắc tới các bản nhạc chương đời Nguyễn đã được Nguyễn Văn Huyên và Trần Văn Giáp phát hiện và giới thiệu lần đầu trên tờ tạp chí Est số 4 năm 1939. Bài viết Les chants rituels des fêtes de Nam Giao (Các bài cúng trong lễ tế Nam Giao), đã chép đầy đủ 9 bản nhạc chương được dùng trong nghi lễ tế ở đàn Nam Giao, do một quan chức triều Nguyễn đã từng chứng kiến nghi lễ này cung cấp. Về sau, vào năm 1968, tại Sài Gòn, Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề cho xuất bản cuốn sách Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam, trong đó có chép rất nhiều bản nhạc chương được dùng trong các nghi lễ triều Nguyễn. Việc phát hiện các bản nhạc chương Nôm đời Lê có ý nghĩa rất quan trọng đối với các vấn đề văn hóa và âm nhạc nước ta. Như chúng ta đều biết, lễ nhạc của các triều đại phong kiến luôn luôn chịu ảnh hưởng từ phía Trung Hoa, trong đó chịu ảnh hưởng lớn nhất là các hình thức nhạc nghi lễ, tế tự, và điều này thấm sâu đến tận lễ nghi phong tục trong dân gian. Nhưng đây là lần đầu tiên chúng ta biết cha ông ta đã dùng chữ Nôm trong nghi lễ tế tự chốn cung miếu. Các bài này lại được soạn theo lệnh của chúa Trịnh, và người soạn lại là các nhà khoa bảng lớn cũng là các quan chức quan phương làm việc trong chính phủ của phủ chúa và triều đình nhà Lê. Các bản Nhạc chương Nôm đời Lê cho thấy thời đại này đang xây dựng cho riêng một lề lối “y – quan - lễ - nhạc” khác Trung Hoa, khẳng định sự độc lập và riêng khác của văn hóa Việt, trong thế đối thoại với Trung Hoa. Đáng tiếc là sau đó, triều Nguyễn đã không nối tiếp được điều này. TS. Nguyễn Xuân Diện (Viện Hán Nôm) và Thạc sĩ Đinh Thanh Hiếu (Đại học Quốc gia, HN) [i] Bảy truyền: xem chú thích 65. Hy tổ Nhân Vương Trịnh Cương là con trưởng của Tấn Quang Vương Trịnh Bính. [ii] Long hưng: rồng dậy, ý nói thịnh vượng. Hào Cửu ngũ quẻ Càn – Kinh Dịch có câu “Long phi tại thiên” (Rồng bay trên trời). [iii] Đản sinh: giáng sinh, sinh ra. [iv] Nhu triệu: tức can Bính. Theo Nhĩ nhã - Thích thiên: “Thái tuế tại Bính viết Nhu triệu” (Thái tuế tại Bính gọi là Nhu triệu). [v] Nhuy tân: tên 1 luật trong 12 luật, ứng với tháng trọng hạ (tháng 5). Thiên Nguyệt lệnh trong Kinh Lễ có viết: “Trọng hạ chi nguyệt... luật trúng Nhuy tân...” (Tháng trọng hạ... ứng luật Nhuy tân). [vi] Phụng sưởng: dâng rượu tế (Sưởng là rượu tế); ý nói đứng làm chủ tế lễ nơi tông miếu, tức là được nối ngôi. [vii] Gia quan: tuổi 20. Theo thiên Khúc lễ trong Kinh Lễ thì tuổi 20 gọi là tuổi Nhược, làm lễ gia quan (đội mũ) đánh dấu người con trai đó trưởng thành. Sách Lịch triều hiến chương loại chí nói chúa (Trịnh Cương) giữ quyền chính 20 năm, thọ 44 tuổi. Như vậy Trịnh Cương lên ngôi chúa năm 24 tuổi - hơn tuổi gia quan (20) một chút. [viii] Nguyên hanh nối đức thừa càn: ý nói nối tiếp công đức, sự nghiệp của tiên vương. Quẻ Càn là tượng đế vương, có bốn đức: Nguyên, hanh, lợi, trinh (Đầu, hanh thông, lợi, chính bền). [ix] Phỏng lạc: tên bài thơ trong phần Chu tụng - Kinh Thi, nội dung là những lời nói của Chu Thành Vương sau khi tế Vũ Vương, ý nói vua nối ngôi phải cố gắng noi theo đạo của tiên vương để được yên ổn, rạng rỡ. [x] Nam phong: tức khúc Nam huân của vua Thuấn, có câu: “Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi vấn hề. Nam phong chi thời hề, khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề…” (Gió Nam ấm áp chừ có thể cởi bỏ những nỗi buồn giận cho dân ta - Gió Nam đúng lúc chừ, có thể làm cho dân ta có nhiều của cải). [xi] Tinh mao: cờ quạt nghi trượng của đế vương. [xii] Tỉnh canh: xem cày ruộng, thăm hỏi việc nhà nông. [xiii] Phong niên: theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, vụ mùa năm Nhâm Dần (1722) được mùa to, Trịnh Cương đi ra phía Tây kinh thành xem dân gặt lúa, ban cho trâu, rượu, lại làm một bài từ về “Phong niên” (Năm được mùa) để ghi nhớ (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, H. 1998. Tập II, tr.436). [xiv] Hoa trình có thơ: Đi sứ có thơ. Năm 1718, Nguyễn Công Hãng và Nguyễn Bá Tông lên đường đi sứ sang nhà Thanh báo tang vua Lê Hy Tông và cầu phong. Trịnh Cương có ban cho hai người một bài thơ chữ Hán và một bài thơ Nôm để úy lạo (Xem Ngô Cao Lãng - Lịch triều tạp kỷ - Bản dịch của Hoa Bằng, Nxb. KHXH. H. 1995, tr.245-247. [xv] Vũ liệt Văn mô: mưu Văn Vương, công nghiệp Vũ Vương. Đây lấy chữ từ thiên Quân Nha trong phần Chu thư - Kinh Thư: “Phi hiển tai Văn Vương mô, phi thừa tai Vũ Vương liệt” (Sáng suốt vĩ đại thay mưu Văn Vương, kế thừa vĩ đại thay công nghiệp Vũ Vương). [xvi] Đường Ngu: thời vua Nghiêu (Đường) và vua Thuấn (Ngu), thời cực thịnh trị. [xvii] Chiêu mục: thứ tự sắp xếp bài vị thờ ở tông miếu. Miếu thủy tổ ở giữa, hai bên là hàng chiêu hàng mục, tả là hàng chiêu, hữu là hàng mục, thờ các đời nối tiếp. [xviii] Đẩu tinh: sao Bắc Đẩu, tượng đế vương. [xix] Tư thành: chữ trong thơ Na phần Thương tụng - Kinh Thi: “Tuy ngã tư thành” (Yên lòng tưởng nhớ của ta). Đây là bài thơ, cũng là nhạc tế vua Thành Thang nhà Thương “Tấu khúc Tư Thành” ý nói tấu bản nhạc tế. [xx] Chiếng (từ cổ): nảy. Sơ chiếng một dương: mới nảy một dương (xem chú thích 53). [xxi] Non đan: Đan sơn - núi đỏ. Theo sách Viên sơn tùng nghi đô ký: có ngọn đan sơn, trong núi thường có khí đỏ bao trùm, núi rừng rực một màu đỏ. Câu “Non đan bảng sáng, sông vàng sạch trong” cũng chỉ điềm sinh bậc phi thường. “Sông vàng” tức là Hoàng Hà. Nước Hoàng Hà luôn luôn đục, nhưng theo tục truyền thì khi nước Hoàng Hà trong là điềm sinh ra thánh nhân. [xxii] Tót vời: hơn hết thảy. [xxiii] Kinh luân: Kinh là sắp từng sợi tơ dọc, luân là xe nhiều sợi tơ lại với nhau, sau Kinh luân được dùng với nghĩa là sửa sang, trị lý. [xxiv] Vân lôi: đây dùng chữ trong Kinh Dịch, quẻ Truân. Tượng truyện quẻ Truân: “Vân lôi Truân, quân tử dĩ kinh luân” (Tượng mây sấm là quẻ Truân, quân tử coi đó mà sửa sang trị lý thiên hạ). Thời truân là thời khó khăn gian nan, là lúc quân tử làm việc, sửa sang trị lý thiên hạ để qua lúc gian nan. “Kinh luân nẻo thuở vân lôi” ý nói ra tài sửa sang trị lý trong lúc gian nan khó khăn. [xxv] Xuất chấn: chỉ hoàng đế, vua hay chủ tể, lấy chữ trong Thuyết quái truyện - Kinh Dịch: “Đế xuất hồ chấn” (Đế ra ở cung chấn). “Thay quyền xuất chấn” tức là thay quyền vua. [xxvi] Hanh truân: làm cho “truân” thành “hanh”, làm cho gian nan khó khăn thành hanh thông. [xxvii] Tứ chinh: chinh phạt, đánh dẹp bốn phương. [xxviii] Bừa không cáo tổ, quét thanh ong đàn : ý nói công nghiệp đánh dẹp của Trịnh Doanh như quét sạch đàn ong, tổ cáo. [xxix] Hưng Hạ: phục hưng nhà Hạ, chỉ vua Thiếu Khang nhà Hạ. Nhà Hạ đến đời vua Thái Khang bị cướp mất nước, vua Thiếu Khang đã trung hưng được cơ nghiệp. [xxx] Bình Hoài: tức bình định Hoài Di, chỉ vua Tuyên Vương nhà Chu. Vua Tuyên Vương sai Mục công Thiệu Hổ đi bình định Hoài Di thắng lợi (xem thơ Giang Hán - Đại Nhã - Kinh Thi). [xxxi] Phấn sức: tô điểm, sửa sang. [xxxii] Hạo hy: tức “hy hy hạo hạo” nghĩa là hòa vui, thỏa thuê, tươi sáng. Chữ này thường dùng cực tả thời thịnh trị Nghiêu Thuấn... [xxxiii] Chước nhiệm: kế sách mưu tính màu nhiệm. [xxxiv] Yến di: truyền lại cho con cháu, mưu tính cho con cháu (xem chú thích 16). [xxxv] Bảy đức: chỉ bảy đức về võ công ghi trong Tả truyện - Tuyên công thập nhị niên: “Vũ hữu thất đức...: Cấm bạo (cấm bạo ngược), tập binh (ngăn chặn việc binh đao), bảo đại (giữ gìn nghiệp lớn), định công (lập công), an dân (làm cho dân yên), hòa chúng (làm cho dân hòa thuận), phong tài (giàu của)...” [xxxvi] Chín công: chữ trong thiên Đại Vũ mô - Kinh Thư : “Thủy, hỏa, kim, mộc, thổ, cốc, duy tu; chính đức, lợi dụng, hậu sinh, duy hòa. Cửu công duy tự...” (Sửa sang lục phủ (Nước, lửa, kim, mộc, đất đai, thóc gạo) và điều hòa tam sự (chính dân đức, lợi dân dụng, hậu dân sinh), chín công có thứ tự...). Chín công gồm lục phủ và tam sự. [xxxvii] Nhơn nhơn: (từ cổ) đường đường, oai phong lẫm liệt. [xxxviii] Văn tử, văn tôn: con cháu có văn đức. |