Tiếp theo thông tin việc GS-TS Nguyễn Thuyết Phong phát hiện cây đàn bầu Việt Nam “lưu lạc” 108 năm trên đất Mỹ (bài đã đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 29-1), phóng viên đã có bài phỏng vấn ông về công trình khảo sát những nhạc cụ Việt Nam còn lại trong bộ sưu tập Stearns tại Đại học Michigan, Mỹ.
| Giáo sư Nguyễn Thuyết Phong: Thêm 14 nhạc cụ Việt Nam “lưu lạc” 108 năm trên đất Mỹ | ||
| Thứ bảy, 16/02/2008, 21:58 (GMT+7) | ||
* Thật không ngờ, với hơn một ngàn nhạc cụ xưa đủ loại làm hoa mắt tôi! Giây phút hồi hộp, lòng xôn xao. Nếu không nhờ anh quản thủ kho tinh tường này thì khó mà “moi” ra được báu vật. Ngoại trừ cây đàn bầu hôm trước tôi được thấy trước buổi thuyết trình trước công chúng, hôm nay tôi đã tìm ra được thêm 14 nhạc cụ nữa với thời gian tuổi hơn một thế kỷ! Việc khảo sát không phải dễ. Ai mang đến Exposition universelle (Hội chợ triển lãm hoàn vũ) ở Paris năm 1900? Nơi đó chỉ triển lãm hay có ai chơi các nhạc cụ này không? Nghệ sĩ nào? Đến từ miền Bắc, Trung hay Nam? Xưởng chế tạo nhạc cụ nào hoặc ai đã làm ra nhạc cụ này? Trọng tâm của tôi là đi tìm sự thật, một sự thật bị chôn vùi 108 năm qua. Nó khơi dậy trong tôi hàng trăm những ý nghĩ không những về khía cạnh vật thể (hình dáng, cấu tạo, chất liệu) mà, quan trọng hơn, còn là giá trị văn hóa Việt Nam. Hình dung ra loại nhạc, người nghệ sĩ, địa vị xã hội, tầm mức nghệ thuật của các vị ấy và bối cảnh xã hội Việt Nam thời bấy giờ v.v... tất cả sôi sục trong trí tưởng tôi suốt trong những giờ phút tôi làm việc ở đây.
* Đem tiếng nhạc dân tộc mình sang Pháp, quả tình là một đóng góp quốc tế rất sớm, rất đáng quý. Qua từng trang, từng chữ lưu niệm, ghi chú của ông Stearns, và nhiều đề mục do những nhà nghiên cứu ghi nhận sau khi ông mất, tôi được biết có đến 20 nghệ sĩ trong nước sang Paris biểu diễn nhạc cụ này, rất có thể có ca hát. Trưởng đoàn có ghi tên ông “Tran Vieng”. Tôi sẽ suy nghĩ tiếp về cái tên nghe là lạ này. Đó là 1 trong 76 ngàn đơn vị triển lãm cho 50 triệu lượt khách tham dự, đạt kỷ lục hội chợ triển lãm lớn nhất thế giới thời bấy giờ qua chủ đề “Art nouveau” (nghệ thuật mới). Theo điều tra của tôi, có một nhạc cụ bị mất trong sưu tập này. Đó là sáo trúc. Nhưng không ai biết mất vào khoảng thời gian nào. Như thế toàn bộ phải có đến 16 nhạc cụ như trong tấm ảnh 1900 cho thấy. Cái bức bình phong, có cẩn xà cừ rất đẹp, để treo các nhạc cụ này hiện nay cũng không ai biết đang ở đâu. Cây đàn nguyệt bị hư hoại nặng nề nhất, không còn phím, mặt thùng đàn vị rạn nứt trầm trọng. Dù không được “mạnh tay” ở bất cứ nhạc cụ nào, cũng không được vặn lên dây lại, nhưng tôi được khe khẽ đánh động, kề tai nghe thử một ít âm thanh của “thời xa vắng”. Tiếng vang của các sợi dây đàn tranh làm bằng thau, một kỷ niệm mà những năm 1950 chính thời thơ ấu của tôi từng đánh lên khi học đàn. Hiện nay tôi nghĩ cả nước không còn ai tìm thấy chất liệu dây này nữa. Cây đàn bầu thì dùng dây kẽm. Điều khá ngạc nhiên với tôi là, trái hẳn với các nhạc cụ dây, tiếng trống nhạc, trống cơm vẫn còn thanh tao, trong trẻo, vang vang lạ thường. Da trống vẫn còn căng từ hơn một trăm năm qua ở mức độ không khác gì những chiếc trống mới làm. Đó là niềm an ủi kỳ diệu đối với tôi. KIM ỬNG |
http://www.sggp.org.vn/gapgocuoituan/2008/2/143212/