Ta biết rằng Hát ca trù và âm nhạc dân gian nói chung vốn dĩ là không có nhạc đệm. Từ chỗ sơ khai là hát nói, đến nay đã có trên bốn mươi sáu làn điệu. Điều này ai xếp loại? Lấy tiêu chí bào mà xếp chúng, trong khi định nghĩa thể loại Ca trù là loại hát dân ca như thế nào chưa có, chỉ là "Ca trù nhìn từ nhiều phía, lấy văn bia, lấy hội hoạ, lấy thuế khoá... để khẳng định âm nhạc dân gian Ca trù, lấy thuế khoá... để khẳng định âm nhạc dân gian Ca trù, liệu có đại ngôn chăng? trong đó ta chưa tìm thấy sự vang lên của lối hát này có từ từ bao giờ? Vậy cách đặt vấn đề từ đầu bài viết này ta cầm xem xét?
Theo tôi, muốn đưa Ca trù thành một thể loại hát dân ca theo dòng chuyên nghiệp, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu âm nhạc phải đi đến nhất trí về tiêu chí, phải tìm ra những yếu tố bản chất nhất của Ca trù, tức là định ra được ngoại diện của chúng thì nội hàm mới xác định được. Một điều ta thấy mâu thuẫn ngay trong nội tạicủa Ca trù là, trong Ca trù có Hát ru, Hát chầu văn, Trống quân, Bồng Mạc, Sa mạc, Nói sử, Hát cách.v.v....
Vậy thì làm sao phân loại học được, hay ta xem Ca trù chỉ là lối hát, phường hát, một quy định của nhạc thính phòng, sân khấu mi nin.. Điều này là rất khó, chỉ biết rằng giá trị âm nhạc của Hát ca trù là rất lớn, nó đi sâu vào nội tâm của người, tiếng hát day dứt, tiếng lòng thẳm sâu, dứt ruột của cây đàn đáy, tiếng hát vang từ tâm, từ khoang tim, từ vòm họng... của nghệ nhân và sự uyên bác, phức điệu của phách và trống chầu.
Trở lại bản chất và đặc trưng của Ca trù, theo ông Nguyễn Xuân Diệu thì: "Ca trù có các làn điệu đặc thù cho một lối hát sử dụng hơi trong ở khoang miệnh, khoang họng, khoang mũi... theo tôi đây là sự phát hiện mới, nhưng lối hát nào mà chả phải dùng "hơi trong ở khoang miệng, khoang họng, khoang mũi... thậm chí cả khoang bụng, khoang ngực và khoang óc... nữa. Dù đúng như thế chăng nữa thì đây chỉ là cách hát ca trù, chứ không phải là nét đặc trưng.
Để định nghĩa một thể loại âm nhạc nói chung, ta phải căn cứ vào giai điệu, tiết tấu và đặc biệt phải chú ý đến thang âm, điệu thức tiêu biểu, ngoài ra còn phải chú ý đến các yếu tố đó là màu âm, thổ âm (âm địa phương) và những luyến láy, nốt hoa mỹ và cách nhả âm...
Vậy muốn đi đến khẳng định Thanh Hoá có lối hát Ca trù hay không? Hát ca công, hát nhà trò Văn Trinh hay một số lối hát khác nữa có dính líu đến Ca trù hay không? Đó là một vấn đề lớn của Thanh Hoá và cả nước.
III. Chất liệu Ca trù trong ca khúc Việt Nam
Đường lối chung cho Văn hoá, văn nghệ của Đảng ta là: "Dân tộc, khoa học và đại chúng". Tìm hiểu vốn quý của âm nhạc dân tộc, vốn quý của văn hoá phi vật thể để tồn giữ và phát triển nó lên thành những sản phẩm có ích, làm đòn bảy phát triển kinh tế và xã hội nói chung. Một trong những chất liệu dân ca mà các nhạc sĩ đương đại ưa thích đó là lối Hát ca trù.
Ta đã biết và được nghe nhiều lần trên các phương tiện thông tin đại chúng bài: "Đất nước lời ru" của Văn Thành Nho do ca sĩ Thanh Hoa hoặc Hoài Thanh thể hiện. Đây là bài hát gần như nguyên mẫu, lối hát ca trù, tác giả chỉ việc đặt lời, tuy vậy rất được quần chúng ưa chuộng.
"Hạt mưa mùa xuân" của Trương Ngọc Ninh do ca sĩ Thuý lan thể hiện, đã có tính phát hiện, câu nhạc khá phong phú, tác giả đã phát trỉen chất liệu Ca trù lên đỉnh điểm để có một "thắm đẫm mùa xuân"; "Một thoáng Hồ Tây" của Phó Đức Phương do Kim Oanh thể hiện, anh đã khéo đảo ngữ và đưa chất liệu ca trù thoáng đãng để miêu tả cả là bài: "Một nét Ca trù ngày xuân" của Nguyễn Cường, do nghệ sĩ Lê Dung thể hiện. Bài hát này được ra đời trong chuyến đi thực tế ở Thanh Hoá của Nguyễn Cường. Bài hát dung dị mà mà đi vào lòng người bởi những tính từ mang đậm nét Ca trù: "Mùa xuân! mùa xuân ngất ngây!" hay là :"Màu xuân! mùa xuân đắm say!". Anh là một nhạc sĩ nắm bắt và sử dụng nhuần nhuyễn các chất liệu dân ca đặc biệt là dân ca Tây Nguyên và Ca trù!.
Còn rất nhiều nhạc sĩ sử dụng chất liệu Ca trù trong ca khúc của mình, đôi khi sử dụng chút ít có tính pha màu, chứ không nhất quán như các tác phẩm vừa kể trên. Một điều cần lưu ý thêm ngoài ca khúc, các nhạc sĩ còn sử dụng chất liệu ca trù trong tác phẩm nhạc đàn mà tiêu biểu là nhạc Xuân Khải, Phạm Thái, Đức Lộc...
Như vậy ta đã thấy các nhạc sĩ đã khai thác triệt để âm hưởng Ca trù, lối hát nhiều màu âm của Ca trù là chủ yếu nên nghe rất thiết tha rung động lòng người.
IV. Yếu tố âm nhạc nào đặc trưng cho Ca trù?
Một câu hỏi đặt ra, các yếu tố âm nhạc đặc trưng nào, để phân biệt được giữa Ca trù với các thể loại âm nhạc dân gian khác. Sau khi nghiên cứu một số bài bản của Viện nghiên cứu Âm nhạc Việt Nam do Vũ Nhật Tân ký âm ta thấy: Một số làn điệu hát Ca trù cổ như: Mữu (hát nói); Bắ phản, do nghệ nnhân Phạm Thị Mùi - hát và phách, đàn Đáy: Nguyễn Văn Hoá, trồng chầu: Nguyễn Văn Tâm, ghi âm: Vũ Nhật Tân hoặc hát ló cửa đình: hát và phách: Đinh Thị Bản, đáy: Đinh Shắ Ban; Trồng chầu: Phó Đồng Kỳ; hay hát ả phiền (ba mươi sáu giọng) cũng do các nghệ nhân trên thể hiện.v.v...
Ta nhận thấy rằng, lối hát Ca trù rất riêng biệt có kỹ thuật âm thanh nhạc rất cao theo dòng chuyên nghiệp, ngay cả phách đệm cũng rất phức tạp, kết hợp theo kiểu phức điệu rất tinh tế với đàn đáy và trống chầu, làm tôn vinh cho lời người hát, làm rõ được tâm trạng và nội dung lời ca.
Có thể nói Ca trù là một lối hát không thể ký âm chính xác được vì nó còn phụ thuộc vào các nghệ nhân lúc biểu diễn. Gơroomi nốp Viện trưởng âm nhạc quốc sĩ Sophia (Bungari) đã từng làm Chủ tịch âm nhạc quốc tế phát biểu: "... Chúng ta hãy vươn tới âm nhạc Á đông, âm nhạc mà loài người chưa ký hiệu được! Trên cơ sở gần 50 làn điệu hát Ca trù cổ mà Hội văn nghệ dân gian và Viện nc âm nhạc Việt Nam ghi âm và ký âm được, ta thấy những bài hát Ca trù cổ thường nằm trong 4 âm hay điệu thức ngũ cung, một số bài theo điệu thức 7 âm nguyên, nhưng các âm đều biến động giữa non và già nên sự xác định điệu thức cũng chỉ là tương đối. Lại nữa, không thể căn cứ theo lời (kể cả lời cổ) để xác định thể loại âm nhạc Ca trù được, vì lời Ca trù rất rộng, gồm các thơ lục bát song thất lục bát, thất ngôn bát cú và chủ yếu là thơ tự do theo kiểu hát nói không cần vần điệu, để tải được nội dung nghệ nhân phải thêm các tu từ (phần đệm0 để theo đúng làn điệu.
Ngoài thang âm và điệu thức ra cũng chưa đủ tách bạch được lối hát ca trù mà phải thêm được âm vuốt đuôi, láy đuôi của Ca trù. Qua tìm hiểu nhiều nghệ nhân chuyên nghiệp, chúng tôi thấy nét khác biệt của ca trù là những "Âm đai" âm nới rộng ra, đai giọng ra và những "Âm chững". Âm dừng lại đột ngột "Âm chững" thường có cao độ chuẩn còn gọi là âm đứng nguyên được kết hợp với "Âm chùn" âm hẹp lại mà kết hợp với cây đàn đáy rất rõ nét. Ta ví dụ như sau: "Này/em/mùa/xuân!" đều là những âm đai khi hát, còn: "Mùa/xuân/ngất/ngây" (hừ!: thì từ "Ngất" là âm chững hoặc âm vuốt lên (không thể vuốt xuống) còn từ "ngây" là âm chùn. Vậy sự khác biệt của lối hát Ca trù với các lối hát dân ca, khác diễn xướng dân ca như quan họ Bắc Ninh, chèo, cải lươngv.v... là do lối hát trên và không gian quy định, âm lượng vừa phải của Ca trù.
Chính vì lối hát, lối diễn xướng nhỏ hẹp ấy rất thích hợp với cây đàn đáy được lên dây theo quãng 4 đúng. Vừa vuốt nhấn lại được âm chùn (âm thấp hơn so với âm xuất phát). Vậy cây đàn đáy là linh hồn của lối Hát ca trù ngày nay.
Khi nghiên cứu Hò trên sông Hoàng Hà và nhịp điệu lao động, Lỗ Tấn đã tìm ra bản chất âm nhạc hò lao động là hai từ "đô la". Sau này khi làm công trình Hò sông Mã chúng tôi cũng khẳng định mô típ phổ quát của Hò Sông Mã là "dố tà!".
Bàn về "Ngôn ngữ với việc hình thành âm điệu đặc trưng trong dân ca Thái Tây Bắc Việt Nam" nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn đã lấy nét láy đuôi của từ "O a ôm" làm nguồn gốc, ý nghĩa và tạo ra âm nhạc của dân tộc Thái Tây Bắc Việt Nam.
Khi nghiên cứu về âm nhạc dân tộc Mường Thanh Hoá và Hoà Bình, chúng tôi cũng phát hiện ra nét láy đuôi của các từ lập lại cuối câu, hay láy lại cả cụm từ, tiêu biểu cho âm nhạc dân tộc Mường nói chung.
Vậy nét lấy đuôi của Ca trù ở âm nào? Từ nào... hoặc những nét đặc trưng khác của Ca trù còn ở phía trước mà chúng ta đang dần đi tới.