Cách đây hơn một năm, ca nương Phạm Thị Huệ được mở lễ xiêm y và cô trở thành ca nương, đào đàn đầu tiên trong lịch sử thành văn của ca trù.
![]() |
Một đêm đáng nhớ với khán giả Sài Gòn. Cả khán phòng bỗng lặng đi khi tiếng tì bà của đào nương Phạm Thị Huệ vang lên cùng tác phẩm “Thục nữ du xuân” đầy ngẫu hứng, hoà với nhịp trống cổ của GS Trần Văn Khê. Ấn tượng càng mạnh hơn khi đào nương xúng xính với chiếc áo dài nhung đen đẹp như tố nữ trong tranh bước ra, lúc đàn tì bà, lúc gảy đàn đáy (một nhạc cụ trước đây chỉ có nam giới sử dụng). Tất cả khán giả có mặt trong đêm ca trù “sống” hôm đó đều ngỡ ngàng bởi hiếm có đào nương nào vừa đàn giỏi lại vừa gõ phách hay như đào nương Phạm Thị Huệ. Con đường đến với ca trù của Phạm Thị Huệ thật nhẹ nhàng, tựa như cô đã có duyên tiền kiếp. Năm lên 8 tuổi, Huệ được bố cho thi vào Nhạc viện Hà Nội, cô thi đỗ vào khoa nhạc dân tộc và học đàn tỳ bà. Năm 1996, Huệ ở lại trường và làm giáo viên giảng dạy, trong quá trình công tác, cô nhận thấy một điều, các bộ môn nghệ thuật dân tộc nếu không có người gìn giữ thì chẳng mấy chốc cái vốn quý ấy sẽ bị mất đi vĩnh viễn. Xuất phát từ cái tâm của một người thầy, cô quyết định tìm thầy để chinh phục nghệ thuật ca trù.
Dự định cao quý của Huệ đã được nung nấu và ấp ủ từ lâu, nhưng đến năm 2001 cô mới gặp được nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc (Hà Tây), sau hai tháng thử thách cô đã được bà nhận làm “đệ tử” chân truyền. Đây là một điều may mắn trên con đường đến với một môn nghệ thuật không hề dễ dàng này, bởi thực tế, có những người hát ca trù kề cận bà Chúc trong nhiều năm liền nhưng không được bà truyền lại. Đào nương đã hiếm, đào nương được coi là chân truyền lại cực hiếm, khi kiếm tìm một người để truyền nghề, các nghệ nhân cao tuổi thường quan tâm đến cái đức, cái tâm của người hát. Tiếp tục cuộc “hành trình” của mình, tháng 10/2005, Huệ xuống Hải Dương xin thụ giáo ngón đàn đáy của ông Nguyễn Phú Đẹ. May mắn vì có khiếu âm nhạc trời cho nên những gì mà thầy truyền, cô học rất nhanh. Khi ông Đẹ bật băng thu ngón đàn của mình, Huệ đã đàn theo được ngay, mặc dù đây là lần đầu tiên cô cầm đàn đáy. Được thầy khuyến khích và động viên, cô gắng sức “văn ôn võ luyện”. Tháng 12/2005, cô bắt đầu học hát. Hàng tuần cô dành một buổi vào Hoài Đức (Hà Tây) tập hát, thuộc được làn điệu nào cô lại xuống Hải Dương thọ giáo thầy đàn. Hài lòng với cô học trò xuất sắc của mình, ông Đẹ gật gù mãn nguyện: “Chỉ hết năm nay là Huệ đàn ca trù trọn vẹn”.
Thời khắc đáng nhớ trong nghiệp hát ca trù của Huệ cũng đã đến, cái ngày cô được mở lễ xiêm y, công chúng yêu ca trù và cả giới chuyên môn không khỏi ngạc nhiên khi tận mắt chứng kiến một ca nương khi đàn, khi lại vừa cầm phách vừa hát thật điêu luyện.
Vào nghề được ít lâu, Huệ đã cùng hai người thầy của mình cho ra đời Câu lạc bộ ca trù Thăng Long (số 8, ngõ 73 Giang Văn Minh), sinh hoạt đều đặn vào tối thứ bảy tuần đầu tiên của tháng. Huệ tâm sự, mục đích của việc mỗi tháng gặp nhau một lần là để luyện nghề và giới thiệu với khán giả yêu thích môn nghệ thuật ca trù. Từ khi thành lập nên câu lạc bộ này, nỗi lo lắng luôn thường trực trong đầu cô vì không biết câu lạc bộ tồn tại được bao lâu. Thật may mắn, vài tháng sau đó, Giáo sư Tô Ngọc Thanh có dành cho câu lạc bộ một dự án do quỹ hỗ trợ bảo tồn nghệ thuật văn hoá phi vật thể, thông qua Trung tâm trao đổi giáo dục với Việt Nam tài trợ trong vòng một năm. Đến nay, sau hơn một năm đi vào hoạt động, lượng khán giả của câu lạc bộ đã dần ổn định với khoảng 40 người/buổi. Có thể nói đây là một nỗ lực, một cố gắng vượt bậc của một phụ nữ trẻ dám sống hết mình vì niềm đam mê với nghệ thuật ca trù.
Niềm đam mê của đào nương Phạm Thị Huệ đã được truyền sang cho cô con gái Nguyễn Huệ Phương, 8 tuổi. Tuy mới học lớp ba nhưng Phương cũng đã bắt đầu nảy được phách và ngâm được một số làn điệu, thỉnh thoảng cô bé còn theo mẹ đi hát ở các lễ hội. Huệ tâm sự: “Cuộc đời mình không có tài sản gì lớn nên mình muốn để lại cho con vốn nghề truyền thống, đó cũng là một gia sản quý giá...”. Ngoài ra, cô cùng hai thầy còn nhận tham gia dự án truyền dạy cho 40 học viên tại Thái Bình do Giáo sư Tô Ngọc Thanh đề nghị. Lúc đầu cụ Chúc, cụ Đẹ và Huệ cũng băn khoăn vì môn nghệ thuật này mang đặc trưng riêng của từng giáo phường, không bao giờ truyền cho người ngoài. Nhưng rồi với suy nghĩ thoáng hơn, “không cần bí truyền nữa vì còn bí truyền thì sẽ khó lưu truyền được ca trù”.
tancogiaoduyen (Theo Chung Thuỷ - VOV)
| |