Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Âm nhạc cổ truyền

Nguyên Ngọc : Phạm Thị Huệ: Học hát ca trù khó nhất là cái tâm

 (Toquoc) - Ở tuổi 34, quá trẻ so với “trọng trách” của một ca nương kiêm kép đàn, nhưng với Phạm Thị Huệ, mọi việc đều có thể chỉ cần luôn lạc quan, nỗ lực vượt bậc, cộng thêm chút may mắn và cả cái “duyên” với nghệ thuật ca trù truyền thống. Chúng tôi đã có dịp trò chuyện với ca nương gảy đàn đáy đầu tiên ở Việt Nam này.

15h11' ngày 28/06/2007

Bản để in ra Gửi trang này cho bạn bè

Phạm Thị Huệ: Học hát ca trù khó nhất là cái tâm

 

 

 

 

Ca nương Phạm Thị Huệ

PV: Vốn là một giảng viên đàn tỳ bà, lý do nào khiến chị đến với nghệ thuật ca trù?

+  Hiện tại tôi vẫn là giảng viên bộ môn đàn tỳ bà tại Nhạc viện Hà Nội. Vừa rồi tôi đã bảo vệ xong luận văn thạc sĩ về chuyên ngành này. Còn về ca trù, con đường đưa tôi đến với nó không phải để học đàn hay hát mà bởi tôi thấy rằng, đây là một nghệ thuật rất khó, độc đáo, không có ai giữ lại thì thật uổng. Tôi cũng đã biết tới chị Bạch Dương, người cũng muốn giữ gìn bộ môn nghệ thuật này, nhưng chị lại làm kinh doanh. Mà một người làm kinh doanh thì thật khó giữ. Nghệ thuật là phải đi tới đỉnh cao, tức người nghệ sĩ chỉ chuyên tu luyện, đàn hát thì mới đưa nó lên đỉnh cao được. Chỉ là những bài bản đơn giản mà bản thân người nghệ sĩ không sáng tạo thêm để làm cho nó đẹp hơn qua từng thế hệ thì chẳng mong giữ được.

PV: Chị có nói rằng: "Duyên với ca trù nhiều, nhưng may mắn cũng không ít"?

+ Quả đúng vậy. Tôi còn nhớ vào năm 2001, trong chuyến du xuân, đi qua câu lạc bộ Bích Câu, thấy có ghi chữ ca trù rất to phía ngoài, tôi vào xem. Nghe mọi người hát, tôi “nhắm” ngay được cụ Nguyễn Thị Chúc. Hết giờ biểu diễn, tôi nhất quyết xin cụ cho con chở về tận nhà ở Hà Tây. Sau buổi “duyên trời định” ấy, tôi cũng có ý xin cụ học hỏi nhưng vì khi ấy, cô con gái còn quá nhỏ, chỉ mới 2 tuổi, lại sắp phải đi công tác ở Thụy Điển nên đành gác lại.

Rồi năm 2005, tôi đi theo đoàn làm phim nghiên cứu về ca trù của Viện Âm nhạc, trong buổi nói chuyện với anh Diện, có thấy anh nhắc đến tấm trạm khắc đá hình người đàn bà gảy đàn đáy. Trước nay, gảy đàn đáy vẫn là “độc quyền” của nam giới, tôi muốn học mà chỉ e phá vỡ truyền thống. Nghe anh kể vậy, tôi vui lắm, tự nhủ “đã có phụ nữ học đàn đáy, mình đi học thôi”. Vậy mà lại ngặt nỗi muốn học nhưng chẳng tìm được thầy dạy. May thay, khi sang bên cụ Kim Đức, có một người rất say mê ca trù biết chuyện, bảo gửi tôi xuống cụ Nguyễn Phú Đẹ ở Hải Dương. Vậy là tôi lên đường "tầm sư học đạo".

PV: Cụ Nguyễn Phú Đẹ là nghệ nhân gảy đàn đáy cuối cùng ở nước ta hiện nay, người duy nhất “còn gảy được những ngón đàn hàng hoa lãng mạn, bay bổng, phá cách và đầy tính sáng tạo”. Làm sao để chị thuyết phục cụ dạy đàn cho mình khi đàn đáy vốn là độc quyền của nam giới?

+ Buổi gặp gỡ đầu tiên, cụ đưa ra băng ghi âm tiếng đàn của mình và bảo tôi đàn theo. Tôi cũng ôm đàn và gảy theo từng tiếng đàn của cụ. Cụ gảy tiếng nào, tôi gảy theo đúng vậy. Đàn xong, cụ bảo: "Cô có đôi bàn tay vàng, bấm đâu được đấy. Chắc học rồi hả?". Tôi thưa với cụ rằng chưa học bao giờ. Vậy là cụ đồng ý nhận tôi làm học trò, không câu nệ chuyện tôi là phụ nữ.

PV: Đi ngược lại lối nghĩ truyền thống, trở thành người phụ nữ đầu tiên học đàn đáy, chắc hẳn chị đã gặp không ít khó khăn?

+ Học đàn đáy khó nhất là phải nắm được phách, được hát để “đón đưa”, bởi như người ta vẫn ví: người đàn như người đón rước giọng ca, hẹn cô nàng ở đâu, đi đến đó đón, đón rồi đưa tới nơi lại rước cô xuống, cứ vậy làm sao phải hòa quyện vào nhau, phải thật khớp. Tiếng đàn của người đàn phải làm sao gợi hứng cho người hát và hát hết mình. Người đàn người hát nói với nhau bằng âm nhạc, hiểu nhau nên rất dễ mê nhau cũng vì vậy.

Tôi cũng có một cái “lợi”, đó là đã học đàn tỳ bà, tay đã mềm, bảo đâu làm đấy. Chuyển sang ca trù, vấn đề với tôi chỉ là hiểu thăng âm đó thế nào, cụ thể từng âm chuyển động ra sao để cảm nhận và truyền qua đôi bàn tay.

PV: Thuận lợi vậy nên chị học trong vòng hai tháng đã nắm được những điều cốt lõi nhất. Nhưng đang đến độ “cao trào” chị lại “dừng” để đi học hát?

+ Chính bởi nắm được những điều cốt lõi ấy nên tôi nhận ra rằng mình cần phải học hát. Chỉ có đàn không thì chưa đủ, đàn chỉ là phụ cho hát mà thôi. Bởi vậy tôi quyết tâm phải đi học hát. Nhớ tới nghệ nhân Chúc đã từng gặp, tôi quay lại tìm và xin cụ dạy cho mình. Cũng rất may lại đúng thời điểm cụ đang muốn tìm người phù hợp để truyền nghề. Học hát khó nhất là cái tâm. Nghệ thuật buộc anh phải có tài năng, nhưng có tài mà không có tâm thì không thể học nổi. Cụ Chúc cũng đã có nhiều học trò nhưng từ 10 năm nay, cụ không truyền dạy cho ai, có lẽ bởi cụ chưa thấy được cái tâm nơi họ. Bởi thế mà khi nghe tôi nói muốn gắn bó cả đời với ca trù, cụ đã đồng ý...

Những buổi đầu, nghe những âm thanh được phát ra, tôi rất ngạc nhiên, chúng như vọng về từ một thế giới nào đó. Các tiết tấu nghe rất lạ mà không hiểu ra sao. Cứ gồng mình theo những kĩ thuật đã học, tôi càng không hiểu. Nhưng rồi tôi gạt bỏ tất cả những kiến thức mình đã học trước đó ra khỏi đầy, học hoàn toàn theo bản năng. Cứ thấy cụ gõ phách thế nào là tôi gõ theo đúng như thế. Lúc này, tôi mới nhận ra rằng, phương pháp truyền ngón truyền nghề không qua sách vở lại chính là cách tiếp cận nhanh nhất, hiệu quả nhất... Cứ học, cứ “thấm”, chất ca trù ngày càng chín trong tôi.

PV: Được biết, chị cũng đã từng tìm đến ca nương Phó Thị Kim Đức – một trong những nghệ nhân ca trù nhưng lại được biết đến ở bộ môn Chèo?

+ Nghệ nhân Kim Đức cũng là một ca nương, vốn là chị em họ với cụ Chúc nhưng lại giấu nghề, rất ít người biết điều này. Tôi cũng đã từng tới xin nghệ nhân truyền dạy, nhưng lúc này cụ Đức đã nhận người khác làm học trò nên không nhận tôi. Tôi bèn xin cụ dạy cho mình một bài hát chèo, bởi nắm được kĩ thuật hát chèo sẽ bổ trợ rất nhiều cho kĩ thuật hát ca trù. Cụ đồng ý và cũng chỉ dạy cho tôi một bài.

Tôi tìm đến cụ Chúc, được cụ đồng ý truyền dạy, nhưng thử thách chưa hẳn đã hết. Cụ Chúc bảo tôi rằng “Giọng cô là giọng ống bơ rỉn, khê khê, khàn khàn, tiếng thổ pha tiếng bùn”. Thời trước kia, người ta cũng phân ra hai loại giọng: giọng kim trong cao, giọng thổ trầm. Giọng của tôi thuộc loại thứ hai này, trong khi thầy dạy của mình lại là giọng kim. Để “bắt chước” theo cụ thật là rất khó, mà càng “bắt chước” càng đi vào “ngõ cụt”. Nhưng rồi tôi nhận ra rằng chất giọng của mình rất giống với nghệ nhân Quách Thị Hồ vốn rất nổi tiếng trong cách nảy hạt. Tôi bắt chước theo cụ Hồ, tìm hiểu xem cụ sử dụng những kĩ thuật nào để học theo. Ví như giọng cụ không cao, không lên được thì cụ luồn xuống dưới hoặc lẩn đi...

 

    Ca nương Phạm Thị Huệ (giữa) trong một buổi biểu diễn ca trù

PV: Được hai nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc và Nguyễn Phú Đẹ đồng ý cho ra nghề năm ngoái, chị lập ngay một câu lạc bộ ca trù với những đêm biểu diễn miễn phí, lại thêm phải chuẩn bị cho luận văn thạc sĩ về đàn tỳ bà... Ôm đồm nhiều việc vậy, chắc là rất mệt?

Phạm Thị Huệ sinh năm 1973 tại Cẩm Phả, Quảng Ninh, là con gái của họa sĩ đất mỏ Hoa Hựu. Năm 8 tuổi, Huệ được bố gửi đi học đàn tỳ bà. Năm 1996, tốt nghiệp và ở lại làm công tác giảng dạy bộ môn đàn tỳ bà tại Nhạc viện Hà Nội. Trong một cuộc thi âm nhạc toàn quốc, Huệ đã đoạt giải Bạc với đàn tỳ bà (không có giải vàng).

Năm 2001, cô đến với nghệ thuật ca trù cổ truyền của dân tộc.

Năm 2002, cô thi lên thạc sĩ chuyên ngành đàn tỳ bà.

Năm 2007, bảo vệ xuất sắc luận văn thạc sĩ.

Trong lễ mở xiêm y ngày 28/05/2006, Phạm Thị Huệ đã khiến cho các nghệ nhân ca trù già phải kinh ngạc bởi tài năng và bản lĩnh của một ca nương kiêm kép đàn lại hội tụ trong một con người.

Tháng 8/2006, cùng với nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ và Nguyễn Thị Chúc, cô lập nên câu lạc bộ ca trù Thăng Long.

 

+ Tôi theo học đàn tỳ bà từ nhỏ. Đến năm 1992 gặp gỡ với nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, tôi thực sự đã được khơi sáng về giá trị của nhạc cổ truyền Việt Nam. Ngay từ lúc ấy, tôi đã có ý thức đi học chèo, cải lương rồi ca Huế, tìm đến các nghệ nhân Kim Sinh, nghệ nhân đoàn chèo Trần Đạt... Tìm đến với nghệ thuật ca trù cũng là thêm một bước tôi muốn làm đầy thêm vốn liếng truyền thống của mình.

Tháng 6 năm ngoái, tôi được cụ Đẹ và cụ Chúc đồng ý cho ra nghề. Tôi đề nghị với hai cụ mở một câu lạc bộ ca trù với những buổi sinh hoạt hàng tháng, vừa để giới thiệu với công chúng về một thứ nghệ thuật quý giá của dân tộc, vừa để nâng cao tay nghề (học xong mà gói vào cất đi thì sẽ mai một hết). Hai cụ mừng lắm. Nhóm ca trù Người Việt ra đời, lấy theo tên Hội thảo ca trù người Việt năm ấy. Nhưng ngay hôm ra mắt, có một khán giả yêu mến đã tặng nhóm cái tên ca trù Thăng Long, vậy là đổi lại tới giờ.

“Trụ sở” hoạt động của câu lạc bộ hiện giờ là số nhà 232 Kim Mã, là hiệu ảnh của bố tôi. Cứ thứ bảy đầu tiên trong tháng, tôi lại đón cụ bà ở Hà Tây và cụ ông từ Hải Dương lên sinh hoạt. Lúc đầu tôi cũng rất lo, chỉ e người ta “hiếu kì” mà tới xem. Còn nhớ lần biểu diễn tại một trường đại học, có em đã bảo chẳng biết ca trù là gì. Nhưng khi nghe xong tôi đàn hát vài bài, em nói nhất định lần sau sẽ dẫn cả gia đình tới xem. Tôi đã rất vui. Khán giả của chúng tôi bây giờ cũng có rất nhiều thanh niên, họ nghe chúng tôi đàn hát rất say mê. Có người còn đề nghị sẵn sàng cho chúng tôi mượn nhà để biểu diễn...

Còn chyện luận văn, đó là yêu cầu của khoa nơi tôi dạy, tôi cũng đã hoàn thành rồi. Bây giờ chỉ chú tâm vào giảng dạy và biểu diễn, làm sao để giữ được ca trù như lời hứa với cụ Chúc.

PV: Được biết hiện giờ câu lạc bộ của chị cũng có nhiều học trò. Vậy phương pháp truyền dạy chính của chị là gì?

+ Câu lạc bộ hiện giờ có hai nghệ nhân và tôi, khoảng 9 học trò tầm tuổi từ 8 đến 20. Chúng tôi vẫn giữ mô hình của truyền thống là truyền ngón truyền nghề trong gia đình bởi thực ra chỉ có người ruột thịt thì mới có thể thấm hết được cái thần, cái hồn, học một cách máy móc theo sách vở thì không có được điều đó. Hơn nữa, việc học yêu cầu rất tỉ mỉ, phải tiếp xúc thường xuyên, mỗi ngày học một ít thì mới ngấm sâu, học theo buổi sẽ rất khó...

Về biểu diễn, chúng tôi muốn giữ mô hình nhỏ theo lối hát mộc, không qua micro, như vậy rất tốn sức, không làm đông được. Nhưng có lẽ tới đây chúng tôi cũng phải mở rộng hơn.

PV: Nhiều nghệ nhân đã phải ôm “nỗi buồn” vì không có người kế tục sự nghiệp, nhưng chị có thể tự hào đã tìm được người nối tiếp là chính cô con gái nhỏ - bé Nguyễn Huệ Phương?

+ Con người thời hiện đại không yêu ca trù không hẳn bởi họ không thích mà quan trọng là vì họ không được biết đến thứ nghệ thuật này. Con gái tôi năm nay mới 8 tuổi nhưng bé đã được tiếp xúc với ca trù. Tôi dạy cháu từ tháng 7 năm ngoái, cũng chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa” vì không có nhiều thời gian. Nhưng cháu tỏ ra rất thích học và tiếp thu rất nhanh. Hiện tại trong những buổi sinh hoạt câu lạc bộ hàng tháng, cháu đều có phần biểu diễn riêng. Nhiều khán giả xem xong đã nhận xét con hát hay hơn mẹ... Quả thật tôi rất mừng. Bây giờ với tôi, bé Huệ Phương không đơn giản là cô con gái nhỏ mà đã trở thành một đồng nghiệp.

PV: Xin cảm ơn chị!

Nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc: Tôi đã từng rất buồn vì không thấy trong đám học trò của mình có người quyết tâm học. Họ cứ tưởng học hát ca trù rất dễ dàng nên coi thường, hát dăm ba bài cũng ghi ca trù. Lại buồn vì cũng chẳng có người biết nghe, đã nhiều lúc tôi muốn thôi cái nghiệp này, nhưng rồi lại theo bởi muốn để người ta biết thế nào là ca trù. Cô Huệ đến với tôi, rất quyết tâm học, mà lại tiếp thu nhanh, tôi cũng thấy mừng vì đã có người nối tiếp mình, phần nào yên tâm về tương lai của thứ nghệ thuật đã từng vang danh một thuở này.

Nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ: Dạy là phải người yêu nghề, chí thú với nghề. Tôi đã dạy nhiều học trò, học lớt phớt là tôi không dạy. Học là lấy cái hay, lấy được, học chẳng chú tâm đến khi hỏi ra là học trò của tôi thì thật buồn lắm.

Cô Huệ có nhiệt tình với nghề, thích học và học nhiều, đủ các ngón đàn. Học đàn ăn nhau ở cái tay, tay cứng đơ thì không tài nào học được... Nhưng cô Huệ học chẳng mấy đỗi. Tôi dạy cô này thì thật nhàn quá.

 Nguyên Ngọc

 http://www.toquoc.gov.vn/vietnam/viewNew.asp?newsId=22352&topicId=0&zoneId=70

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4813115