Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nghệ sĩ từ trần

VĨNH BẢO : ĐIỂM QUA MỘT SỐ NHẠC SƯ, NHẠC SĨ VANG BÓNG MỘT THỜI

ĐIỂM QUA MỘT SỐ NHẠC SƯ, NHẠC SĨ VANG BÓNG MỘT THỜI


Ông Nguyễn Văn Kỳ (Chín Kỳ)
Ông Chín Kỳ, vợ là bà Hai Quạ, một danh ca vào thập niên 1935 cùng thời với một số danh ca khác như:
Bà Tám Song, (phu nhân ông giáo Lý văn Đồ),
Bà Hồ thị Bửu (Bà Mười Ba), phu nhân nhạc sư Phạm văn Nghi, Giáo sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài gòn,
Bà Tư Cầu Mồng gà, ái nữ nhạc sư Năm Tịnh (Cần đước),
Bà Ba Vàm Lẻo, (Bạc liêu),
Bà Hồ thuyết Loan, (Mười Tân châu),
Cô Ngọc Ánh….
Sở trường của ông Chín Kỳ là cây đàn Tranh.
Nắm vững nhiều bài bản, với phong cách đàn là Tài tử Nam bộ.
Môn sinh của ông phần đông thuộc thượng lưu trí thức như:
Cố Bác sĩ Nguyễn Văn Nhã, (thân phụ của nữ luật sư Nguyễn Phước Đại),
Cố Bác sĩ Nguyễn Văn Bửu, Giàm đốc Bịnh viện Nhi đồng Sàigòn,
Cố tham tá (Commis) Bùi Văn Hai, tùng sự tại Bộ Ngoại giao,
những ái nữ của Cố bác sĩ Phan Văn Đệ, Giám đốc Bịnh viện Chợ Rẫy (Hôpital Lalung Bonnaire) Chợ lớn.
Là con người bình dị, vui tính, dễ mến, nhưng đôi khi cũng hóm hỉnh, không bí hiểm dấu nghề, lúc nào cũng sẵn sàng xan xẻ sự hiểu biết của minh với mọi người, ai cần bản gi chạy đến hỏi thì ông đọc miệng cho chép để mang về học và sau đó trở lại đàn cho ông nghe để góp ý.
Xin mở dấu ngoặc tại đây để nói lên cái hóm hỉnh của ông.
Thập niên 1954, hằng tháng ít nhứt cũng là hai tối thứ bảy, Bác sĩ Nguyễn văn Bửu tổ chức đàn ca tại tư gia.
Giàn đờn gồm có Nhạc sư Nguyển văn Kỳ (Chín Kỳ) (Tranh), Cao hoài Sang (Tỳ bà), Nguyển văn Thinh (Kìm), Lê văn An (Tranh), Bảy Phuông (Cò), Bùi văn Hai (Tỳ bà), và tôi là Vĩnh Bảo (Kìm, Tranh, Gáo).
Ca: Bà Hai Quạ (phu nhân ông Chín Kỳ), Bà Hồ thị Bửu (Bà Mười Ba), Hồ tuyết Loan (Mười Tân châu). Thính giả phần đông là bạn bè của ông, có địa vị cao trong xã hội.
Một hôm, Bác sỉ Bửu căn dặn ông Chín Kỳ chọn giùm cô ca sĩ nào ca hay nhứt. Thế là ông Chín Kỳ mời cô Ngọc Đáng. Cô nầy ca hay, nhưng không đẹp gái, da ngâm, và ốm như con khô hố.
Theo thông lệ, cơm tối xong mới tới cái màn đàn ca.
Hôm ấy, tại bàn ăn, Bác sỉ Bửu vói nói với ông Chín Kỳ: “Bộ hết người ca rồi sao mà anh lại chọn cô ca si nầy không có ngực”.
Ông Chín Kỳ nhanh miệng phản phé “Bác sĩ dặn tôi kiếm ca chớ nào có dặn kiếm vú”. Mọi người trong bàn ăn cười rộ lên.

LỊCH SỬ CỦA TRƯỜNG QUỐC GIA ÂM NHẠC và KỊCH NGHỆ SÀIGÒN.

Trước tiên là Ban Học Âm nhạc, nằm trong Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia định.
Năm 1955, do Công lịnh 352/GD/CL, Ban Học Âm nhạc nầy tách ra, dời về Nha Kỹ thuật học vụ.
Ngõ vào Văn phòng số 48 đường Phan đình Phùng (nay là Nguyễn đình Chiểu) Quận 1, ngõ vào lớp học là Phạm đăng Hưng.
Giám đốc Nha Kỹ thuật học vụ:
Đầu tiên là Ông Nguyễn văn Bạch, Kỹ sư Cầu cống (École Polytechnique de Paris), sau đó là Quý Ông:
Nguyễn Được, Kỹ sư (École Centrale des Arts et Manufactures, Paris),
Lê văn Lắm, Kiến-trúc-sư (Architecte)
Nguyễn văn Huyện, Kiến-trúc-sư (Architecte)
Tổng Trưởng Giáo Dục: Giáo sư Nguyển dương Đôn.
Giám đốc kiêm Sáng-lập-viên ((Directeur - Fondateur) :
Michel Nguyễn-Phụng (gia đình Philippe Nguyển Phụng Bến tre).
Chiếu theo Nghị định của ông Ngô đình Diệm, Tổng Thống Việt nam Cộng Hòa ban hành ngày 12-04-1956, trường dời về số 112 đường Nguyễn Du, Quận 1, lấy trụ sở Hòa tấu nhạc cụ (Socíété Philarmonique) của Pháp để lại, và cải tên là Trường Quốc Gia Âm Nhạc. (École Nationale de Musique).
Giám đốc: Michel Nguyễn-Phụng

TRƯỜNG CÓ HAI NGÀNH HỌC:
NHẠC TÂY PHƯƠNG và NHẠC TÀI TỬ 3 MIỀN.
Lần đầu tiên 9 tháng 10 năm 1956 chỉ có 150 học sinh được tuyển chọn trong tổng số 2.500 dự thí.











(1956-1975)
SAU ĐÂY LÀ THÀNH PHẦN GIÁO SƯ và NHÂN SỰ TỪ NGÀY THÀNH LẬP

NHẠC TÂY PHƯƠNG:
Tổng Giám thị: Hoàng văn Hường (nhạc sĩ Hùng Lân)
Giám học ngành nhạc dân tộc: Nhạc sư Nguyễn hữu Ba,
Giám học ngành nhạc Tây phương: Phạm gia Nhiêu (Giáo sư violon),
Giám thị: Nguyễn văn Trạch,
Lý văn Đồ,
Nguyển văn Hậu,
Nguyển hửu Phụng,
Lê cao Phan,
Vỏ minh Đầy,
Văn phòng: Nguyển văn Trí
Lê công Chánh
Môn học:
Dương cầm, Vĩ cầm, Đại Vĩ cầm, Trung Vĩ cầm, Hạ Vĩ cầm, Tây ban cầm, Măng cầm, Sáo, Kèn Clarinette, Trompette, Saxophone, Basson, Hợp ca, Nhạc pháp, Hòa-âm-pháp, thực đọc nhạc (déchiffrage), Nhạc sử, Phân tích thẩm mỹ âm nhạc.
Thành phần Giáo sư:
Dương cầm:
các Bà : Amiel Nguyễn văn Đẩu, Nguyễn khắc Cung, Lạc Nhân. Tạ Toàn, Cúc-Xuân, (phu nhân Nguyễn Lâu, Chủ báo Saigon Daily News), Đỗ thế Phiệt, Clara Phạm,
Các Ông: Võ đức Thu, Nguyễn Cầu, Nghiêm phú Phi, Mousny.
Vĩ cầm: Bà Nguyễn văn Huấn, Nguyễn văn Giệp, Đỗ thế Phiệt,
Nguyển khắc Cung, Tạ Toàn, Phạm gia Nhiêu.
Trung Vĩ cầm: Phùng hán Cao,
Hạ Vĩ cầm: Nguyễn quý Lãm,
Đại Vĩ cầm: Barthélémy Phạm thế Mỹ.
Sáo : Vũ Thành,
Clarinette: Nguyển văn Thành
Trompette: Barthélémy Phạm thế Mỹ
Tây Ban cầm: Bénito Cruz, Dương thiệu Tước,
Măng cầm : Trần anh Tuấn (Pierre Trần)
Nhạc pháp: Nguyễn văn Hường (Hùng Lân), Nguyễn Cầu, Vũ văn Tuynh,
Bà Thẩm Oánh.
Nhạc sử: Cô Bình Minh, Ông Nguyễn văn Huấn.
Hòa âm: Ngyển Phụng, Linh mục Labbé Ngô duy Linh
Hợp ca: Hải Linh
Dân ca nhạc sử Việt nam: Ngô đình Hộ (Lê Thương),

NHẠC TÀI TỬ 3 MIỀN:
Giám Học: Nguyển hửu Ba
Nguyển văn Thinh
Trưởng Ban Giáo sư:
Miền Trung: Nguyễn hữu Ba
Miền Nam: Nguyễn vĩnh Bảo
Miền Bắc: Nguyễn văn Năng
Môn học:
Cách sử dụng đàn Kìm (Nguyệt), Tranh, Cò, Gáo, Tỳ Bà. Bầu, Ống Tiêu, Ống Sáo. Đàn Đáy.

THÀNH PHẦN GIẢNG VIÊN:
MIỀN TRUNG
Vĩnh Trân (Bầu, Tỳ bà)
Nguyễn hữu Ba (Kìm, Tranh, Cò, Bâu, Tỳ bà),
Nguyễn gia Cẩm (Kìm),
Vĩnh Phan (Tranh,Tỳ bà),
Bửu Lộc (Tranh),
Trịnh Chức (Tranh),
CA: Bà Tuyết Hồi

MIỀN NAM: Nguyễn văn Kỳ (Chín Kỳ) (Tranh),
Nguyễn văn Thinh (Kìm, Tranh, Tỳ bà),
Lê văn An (Tranh),
Nguyễn thế Huyện (Tư Huyện) (đàn Cò, ống Tiêu),
Huỳnh văn Biểu (Hai Biểu) (Tranh),
Phạm văn Nghi (Kìm, Tranh, Cò, Gáo),
Trương văn Đệ (Bảy Hàm) (Kìm),
Hà văn Tân (Chín Trích) (Cò),
Võ văn Khuê (Hai Khuê) (Kìm, Tỳ bà),
Trần công Sính (Kìm),
Chín Tâm (Tranh),
Cao hoài Đông (Kìm),
Nguyễn đình Nghĩa (Sáo),
Ngô nhật Thanh (đàn Bầu).
Nguyễn vĩnh Bảo (Tranh và chương trinh dạy)

CA: Bà Hồ thị Bửu (phu nhân Phạm văn Nghi),
Bà Hồ tuyết Loan (Mười Tân châu)

MIỀN BẮC: Nguyễn văn Năng (Kìm),
Trần viết Vấn (Tranh, Sáo),
Vũ Hòa (đàn Cò, Tiêu, Sáo),
Kim Mã (đàn Đáy),
Anh MẠI (đàn Kìm)

CA: Bà Kim Bảng.















NĂM 1960-1961
CẢI TÊN LẠI LÀ “TRƯỜNG QUỐC GIA ÂM NHẠC
VÀ KỊCH NGHỆ
(École Nationale de Musique et d’Art Dramatique)


HÁT BỘI:
BAN CỐ VẤN Quý Ông: Đoàn quang Tấn, Giáo sư, Cựu Bộ Trưởng Giào dục,
Nguyễn văn Quí (Đốc phủ) về hưu
Ngô công Thiện (Đốc phủ, Bộ Nội vụ)
Nguyễn văn Rỡ (Đốc phủ - Phủ Đặc Trách Văn Hóa)
Ngọc Linh (soạn giả)

THÀNH PHẦN GIẢNG VIÊN:
Quý Ông: Ba Hạnh, Thành Tôn, Chín Tài,
Quý Bà: Ba Đắc, Ba Út, Hai Nhỏ, Bà Năm Sa-đéc.

ĐÀN ĐỆM:
Sáu Vửng (đàn Cò)
Văn Lựa (đàn Cò, đàn Gáo, Kèn thau)
Tám Nhứt: Bộ gõ.

SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG.
Quý Bà:
Trương phụng Hảo (Bà Bảy Phùng Há),
Cô Kim Cúc (ái nữ Ô. Bảy Nhiêu, phu nhân Ô. Năm Châu)
Cô Kim Lan (ái nữ Ô. Bảy Nhiêu, em Cô Kim Cúc
(phu nhân nhạc sĩ Guitare-Mando Bảy Y)
Bà Bích Thuận
Quý Ông:
Nguyễn thành Châu (Năm Châu),
Lê hoài Nở (soạn giả),
Huỳnh năng Nhiêu (Bảy Nhiêu),
Duy Lân (soạn giả),
Duy Chức (em Ông Duy Lân),
Vi huyền Đắc (soạn giả),
Trần tấn Quốc, Nhà Báo,
Nguyễn văn Tài, Ký giả,
ĐÀN ĐỆM:
Huỳnh văn Sâm (Sáu Tửng) đàn Kìm,
Trần văn Dư (Ba Dư) đàn Tranh)
Hà văn Tân (Chín Trích) đàn Cò.


THOẠI KỊCH.
Vũ khắc Khoan,
Hoàng trọng Miêng,
Nguyễn đức Trọng (Mỹ-Tín),
Nguyễn sĩ Tế, Giáo sư, nhà văn,
Tam Ích, Giáo sư, nhà văn,
Thanh tâm Tuyền,
HÓA TRANG:
Nguyễn thị Hường

1961-1962 thành lập TRƯỜNG QUỐC GIA ÂM NHẠC ĐỊA PHƯƠNG HUẾ
Giám đốc: Linh mục Labbé Ngô duy Linh
Năm 1966, Giáo hội gởi đi tu nghiệp ở Pháp, Giáo sư Clarinette Nguyển văn Thành lên thay thế.
Thành phần Giảng viên: Các Ông: Văn Giảng, Lê như Khuê, Đổ Nhuận, Trương huệ Mẩn, Phạm trọng Cầu, Phạm xuân Mai, Trần nhật Hiền, Nguyển xuân Phong, Nguyển hử Vấn ….

Đề cập đến Trường Nhạc Sàigòn, theo yêu cầu của Giám đốc Nguyển Phụng,tôi là người đứng ra liên lạc và mời các Nghệ sĩ Nhạc sĩ Sân Khấu Cải lương, Hát Bội và Ban Cố Vấn Hát bội,











CHƯƠNG TRÌNH HỌC NHẠC TÀI TỬ
Học sinh phải học cùng lúc nhạc 3 miền Trung, Nam, Bắc,
Bản đàn phải thống nhứt, ký âm theo Phương tây (Do ré mi fa sol),
Tôi không biểu đồng tình với đường lối giáo dục âm nhạc theo kiểu nầy, bất lợi cho nhạc sinh và phản khoa học.
Hẳn không ai lạ gì cái lối dạy nhạc truyền thống của một số quốc gia như Trung quốc, Ấn độ, Nhựt bổn là truyền khẩu truyền ngón, mổi thầy mổi phương pháp, không ai hoàn toàn giống ai.
Nhạc miền Trung, miền Nam, miền Bắc đều là nhạc Việt nam. Nhưng trên quan niệm địa phương, tinh thần Điệu thức (mode), cách lên dây đàn, cao độ của nốt đàn, nhửng trang điểm nốt đàn, không hoàn toàn như nhau.Tốt hơn hết là trong buổi ban sơ nên khuyến khích nhạc sinh chọn ngành nhạc nào mình thích, học hai ba năm cho xong, nắm vửng nhạc miền đó rồi mới sang qua học nhạc của miền khác.
Tôi nhìn nhận lối ký âm của nhạc phương tây là khoa học và chính xác, nhưng khi áp dụng nó cho nhạc truyền thống sẻ là một bất lợi.
a. khi nói chuyện với người nước ngoài, thay vì dùng Hò xự xang xê cống,
mình lại nói Do ré fa sol la thì gnười ta sẻ nghỉ sao một dân tộc với 4000 năm văn hóa văn hiến lại không nặng ra tên cho nốt đàn.
b. Xướng âm nốt đàn theo “Hò xự xang xê cống” nghe nó thắm thía hơn Do ré fa sol la.
c. Người nhạc sỉ phương tây xem bản nhạc nó là một thực thể cố định, viết sao đàn vậy, bất biến, không dám thêm hay bớt. Điều nầy triệt tiêu sức sáng tạo của nhạc sinh. (người nhạc sỉ nhạc truyền thống không chỉ là người diển tấu đơn thuần mà còn là người ứng tác ứng tấu ngay khi đàn, theo tâm tư tình cảm tô điễm nốt đàn, mang đến bản mình đàn một sức sống mới. Do đó một bản đàn thường khi có nhiều dị bản, và tài năng của người nhạc sĩ là được người nghe đánh giá xuyên qua dị bản).
d. Đánh mất đi cơ hội để tiếp thu hay học hỏi cái hay của từng nhạc sỉ ngoài đời bởi do ngôn ngử và quan niệm khác nhau (một bên là Hò xự xang xê cống, một bên Do ré fa sol la).
e. Nhạc sĩ nhạc truyền thồng không am tường ký âm phương tây, thế thỉ chủ trường nầy là loại bỏ họ ra là điều rất tiếc.
d. Học nhạc Việt tại sao phải học lý thuyết, nhạc sử, ký âm, thẩm mỹ âm nhạc, nhạc sinh sang học bên ngành nhạc Tây phương, kể cả ám tả (dictée musicale) nghe đàn Dương cầm mà viết. Khi tai đả quen với âm giai bình quân
(tempered scale) thì làm sao lên dây đàn Việt chính xác được?

Ô. Nguyển văn Kỳ (Chín Kỳ)
Năm 1956, tôi mời Nhạc sư Nguyễn văn Kỳ (Chín Kỳ) vào dạy môn đàn Tranh. Dạy được khoảng 4 tháng, thì ông bị cảm nặng. Vì là Thầy dạy đàn Tranh cho các con gái mình, nên khi hay tin, Bác sĩ Phan Văn Đệ, Giám độc Bịnh viện Chợ rẩy, liền cho xe rước ông về nhà riêng ở đường Trần Hoàng Quân, Chợ lớn săn sóc và chữa trị.
Ông Chín Kỳ vốn là người tế nhị, cảm thấy ngại làm rộn người khác, nên qua ngày thứ thấy kha khá trong người, lúc 4 giờ sáng thừa lúc mọi trong nhà đang ngon giấc, ông lén mở cửa ra kêu xe cyclo chở thẳng vê nhà ở Hòa Hưng. Đêm khuya sương gió, ông bị trúng lạnh, nên khi về đến nhà thì năm vùi. Tôi có đến thăm và hỏi sao không ở nhà Bác sĩ Đệ cho dứt bịnh hay về, thì ông nói hai ông Bà Đệ rất là tử tế, ông đâm ra ngại. Về nhà đuợc 5 ngày thì ông qua đời, để lại đứa con gái 7 tuổi, về sau ông bà Phạm Văn Nghi (Giáo sư đàn Tranh và đàn Cò) ôm về nuôi, dạy cho ca hát múa.
Cái buồn khó quên của tôi là ông chết trong khi chưa kịp lãnh một xu lương tiền dạy đàn của nhà trường.
Điều mà tôi không thể chấp nhận khi thấy các Giáo sư ngành nhạc Tây phương được vào khế ước, lãnh lương đều đều mỗi cuối tháng, ngày lễ hay bãi trường vẫn ăn lương, còn Giáo sư nhạc Tái tử, Nghệ sĩ nhạc sĩ Sân Khấu Cải lương, Hát Bội, Thoại Kịch thì là dạy ăn tiền giờ, mỗi giờ 150 đồng, lương hướng thi 4,5 tháng mới phát một lần.
Âm nhạc cũng như các môn nghệ thuật Dân tộc gắn liền với cuộc sống thầm kín của tôi, nên tôi ôm chầm lấy nó. Đối với việc cộng tác với trường không vì lương, bởi tôi có nguồn lợi tức riêng và lái xe hơi đến trường.
Năm 1960, với tư cách là Trưởng Ban giáo sư miền Nam, tôi lên Bộ Quốc Gia Giáo Dục và trực tiếp nói chuyện với ông Bộ Trưởng Trần hữu Thế.
Tôi nói: “Nội 5 chữ “Trường Quốc Gia Âm Nhạc” đã cho thấy việc giáo dục âm nhạc dân tộc là ưu tiên. Như thế thì tại sao Chánh phủ xem nó là con ghẻ con rơi, để có chủ trương phân biệt đối xử.”
Bộ Trưởng Trần hữu Thế biện minh: “Các giáo sư nhạc Tây phương có cấp bằng”.
Tôi nói: “chúng tôi gắn bó với nghệ thuật Dân tộc, điều nầy cho thấy chúng tôi là người Việt không vọng ngoại, không mất gốc. Chúng tôi tự hào mình là thầy của mình (bởi chúng tôi học đàn với thầy Việt), và là thầy của thiên hạ (khi ra nước ngoài, ai muốn học nhạc Việt nam là phải tìm đến chúng tôi). Còn nhạc Tây phương, người nưởc ngoài ít ai ưng học với thầy Việt. Chúng tôi vừa là kẻ cộng tác với người đương thời, vừa là nơi nương tựa của hậu thế. Chúng tôi là những thầy không cấp bằng, nhưng thực tế cho thấy chúng tôi đang đào tạo những người có bằng. Trong tương lai, những người nầy sẽ vào khế ước, lương cao hơn chúng tôi. Chúng tôi chỉ nói đến vấn đề sĩ diện, và xem việc làm nầy là nghịch lý.
Bộ Trưởng Trần hữu Thế: “Tôi hoàn toàn đồng ý với giáo sư và hứa sẽ cứu xét lại vấn đề nầy.
Bà Hai Quạ, phu nhân Ô. Chín Kỳ.
Kể về Ô. Chín Kỳ thiết nghĩ cũng nên nói sơ qua về Bà Hai Quạ để các bạn nghe chơi cho vui, đồng thời giúp cho các bạn khi đàn, chẳng nên xem thường những thính giả lãng hay nặng tai..
Một sáng của năm 1938, ở Xóm gà tại nhà Ô. Hai Én (tư chức hãng Descours & Cabaud). Ô. Hai Én đàn Guitare, anh Ba Cân (làm việc Phòng Thông tin Pháp AFP) đàn Kìm, và tôi đàn Gáo. Bà Hai Quạ ca. Bà hỏi tôi đàn bản gì cho Bà ca.
Tôi nói là đàn Bản Phụng cầu hoàng.
Bà hỏi tới hỏi lui “bản gì, bản gì” mãi.
Tôi nói: Bà lãng tai quá mà ca cái nỗi gì?
Bà phất tay, ra hiệu “đàn đi, tôi ca”.
Ba chúng tôi bèn vào đàn, Bà ca rất hay, đúng giọng, đúng hơi, đúng nhịp. Tôi hỏi Bà: Tại sao lúc tôi nói, tai Bà không nghe, mà khi đàn thì Bà lại ca được. Bà trả lời: “Tiếng người nói không nghe, nhưng tiếng đàn thì nghe rất rõ”.


Ông Nguyễn Văn Thinh (Thầy Giáo Thinh)
Ông Thinh, sinh năm 1908 (Mậu Thân) tại Bình-hàng,
tổng Phong Nẩm, tỉnh Sađéc, tốt nghiệp Trường Sư phạm (École Normale) Sàigòn, Giáo viên từ năm 1928 đến năm 1959, biệt phái về Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ năm 1960. giữ chức Giám học.
Ông sử dụng đàn Kìm (Nguyệt), Tranh và Tỳ bà.
Ngoài đời, từ năm 1945, ông nằm trong nhóm Lão thành Nhạc Tài tử Nam bộ gồm có Quý Ông:
Cao hoài Sang.
Nguyển văn Kỳ (Chín Kỳ),
Lê văn An,
Bác sĩ Nguyễn văn Bửu,
Bùi văn Hai (Tham tá) (Commis) Bộ Ngoại giao,
ca si Bà Hồ thị Bửu (Bà Mười Ba, phu nhân Giáo sư Phạm văn Nghi)
và tôi là Nguyễn vĩnh Bảo.
Ô. Nguyễn văn Thinh, năm 14 tuổi, học lớp nhứt trường Tiểu học Thủ dầu một. Thời điểm nầy học đàn với ông Mười (thầy đàn tên tuổi ở Thủ dầu một), sau đó với Cụ Tám Hạnh ở đường Faucault (Lý trần Quán và nay là Thạch thị Thanh) Tân định, và Cụ Sáu Thới (thân phụ của nhạc sĩ Tư Bường).
Khoảng năm 1930, ông tham gia vào Ban Tài tử Cao hoài Diêu, một trong những Ban nổi tiếng nhứt ở miền Đông.
Năm 1938, trình diễn tại Société Philarmonique (nay là Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ), số 112 đường Nguyễn Du, Quận 1.
Ban nhạc gồm có Quý Ông:
Nguyễn văn Thinh (đàn Kìm)
Châu văn Sáu (ông Ba Laitière) (đàn Tranh)
Tám Đuổi (đàn Cò)
Ba Đồng ( đàn Cò)
Cụ Sáu Thới (thổi Tiêu)
Tư Bường (con Cụ Sáu Thới) (đàn Bầu)
Tư Kiên (đàn Tam)
Bác sĩ Châu (đàn Tỳ bà)
Bác sĩ Nguyển văn Nhã (Thân phụ Luật sư Nguyển phước Đại) (đàn
Tranh)
CA: các Bà:
Tư Cần đước,
Bà Hai Quạ (phu nhân nhạc sư Chín Kỳ)
Bà Ba Nhơn.
Ô. Nguyển văn Thinh là nhà giáo xuất thân từ trường sư phạm (École normale) SàiGòn. Ông sử dụng đàn Kìm, Tranh và Tỳ bà. Bài bản nhiều và căn bản. Anh em của ông toàn là Tiến sĩ, Bác sĩ, Họa sĩ, phu nhân của ông là Nữ-hộ-sanh và là chủ nhà Bảo Sanh Ngọc Lành ở hẻm đường Audouit (Cao Thắng), còn nhà thi quay mặt ra đường Testard (nay là Trân quý Cáp, Trần cao Vân).
Là nhà giáo, trước đây âm nhạc là thú vui môn giải trí của ông, và không dạy hay truyền bá lại cho cho ai.
Năm 1958, ông sắp về hưu, tôi đứng ra vận động cho ông được lưu dụng để Trường mời về đảm nhiệm chức Giám Học thay cho Giáo sư Nguyễn Hữu Ba. Ông Thinh làm việc từ năm 1959, và nghỉ hưu năm 1964.
Sau 30-04-1975, mặc dù tuổi cao, ông cộng tác với Viện âm nhạc, số 2 đường Nguyễn Quý Khoách, Tân Định, qua đời vào tuổi 86 tại Sàigòn, và an táng tại quê nhà Sađéc.
Ông Cao Hoài Sang
Sanh ngày 11-09-1901 tại làng Thái Bình, tỉnh Tây Ninh.
Thân phụ của Ông là CAO HOÀI ÂN, thân mẫu là HỒ THỊ LỰ.
Ông là Công chức cao cấp trào Pháp thuộc (Tham tá Sở Quan thuế - Commis des Doaunes & Régies –
Ông có 3 anh em:
- Ô. Cao đức Trọng (Thiên Phong TIẾP ĐẠO - Hiệp Thiên Đài),
- Cao thị Cường (Thiên Phong Nữ Giáo sư - Cửu Trùng Đài),
- Cao hoài Sang (Thiên Phong THƯỢNG SANH - Hiệp Thiên Đài).
Ông chơi đàn Tỳ Bà, thuộc nhiều bài bản, và soạn lời ca rất có giá trị cho Quyển dạy đàn Tranh do 3 ông: Nguyễn văn Kỳ (Chín Kỳ), Bác sỉ Nguyễn văn Bửu và Bùi văn Hai biên soạn và xuất bản.
Ngày 14-05-1957, Ông thay mặt Phạm Hộ Pháp (Phạm công Tắc) về Tòa Thánh Tây Ninh cầm giềng mối Đạo. Ông ngọa bịnh và qua đời ngày 21-04-1971 tại tư gia số 36/24 đường Cô Giang, hưởng thọ 71 tuổi.
Từ ngày 14-05-1957 về Tòa Thánh Tây Ninh đến ngày quy thiên, tính ra là 14 năm thiếu 20 ngày.

Ông Lê Văn An (Năm An)
Ông An tư chức cảng Nhà rồng (Messageries Maritimes) Khánh Hội, chuyên về đàn Tranh, bài bản nhiều, tương tợ như ông Thinh. Khoảng năm 1960 ông có dạy năm tháng tại trường Quốc Gia Âm nhạc Sài gòn.
Ông Phạm Văn Nghi (Tư Nghi)
Ông Nghi, thư ký Quận Gò Vấp. Phu nhân là danh ca Hồ Thị Bửu (tục danh Bà Mười Ba, chị Bà Mười bốn, phu nhân Ô. Nguyễn văn Lượng, chủ nhà thuốc Nhành Mai sản xuất cao đơn huờn tán, nổi danh nhứt là thuốc dán con rắn và thuốc trị ghẻ ngứa)
Ông Nghi sử dụng nhiều loại nhạc khí như: Tranh, Kìm, Cò, Gáo. Bài bản nhiều, và cơ bản.
Hai Ông Bà không con, nên ông bà nuôi lủ khủ 7, 8 trẻ khoảng 9, 10 tuổi, dạy cho chúng đàn ca múa hát, trong đó có cô Ngọc Dung, trước đây nằm trong nhóm Hoa Sim (Phạm thúy-Hoan, Ngọc Dung, Phương-Oanh). Cô Ngọc-Dung từ lâu dạy đàn Tranh tại California, Hoa Kỳ.
Tại Trường nhạc, Ô. Tư Nghi dạy đàn Tranh và đàn Cò, còn Bà thì dạy ca.
Ông bà qua đời khoảng 15 năm tại Định Quán.


Cụ Trần Văn Triều (Bảy Triều)
Sanh trưởng tại chợ giữa Mỹ Tho, Cụ là thân phụ của Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê và nghệ sĩ Trần Văn Trạch.
Chính Cụ đã sáng chế ra dây Tố-Lan cho đàn Kìm (Nguyệt) - tương tợ như dây Hò nhì và Bắc Hò nhì - để diển tả bản Văn thiên Tường.
Cách lên dây Tố-Lan:
Dây trơn (open string): dây to (Tồn) (sol), dây nhỏ (công) (fa).
chủ âm: (fundamental note): dây nhỏ bấm phím 1, khảy chung với dây to trơn là đồng âm (unisson) (Hò-Liêu) (Sol-sol).
Dây Tố Lan cung bực tương tợ như dây Hò nhì, nhưng dây Hò nhì 2 dây to và nhỏ lên như sau:
Cách lên dây Hò nhì:
Dây trơn (open string): dây to (Xề) (Ré), dây nhỏ (công) (fa).
chủ âm: dây nhỏ bấm phím 1, khảy chung với dây to trơn là (xàng-liêu) (Do-sol).
Tại sao là tên Tố-Lan?
(nơi đây, xin bạn Trần Văn Khê cho tôi được tóm lược lời kể lại của Giáo sư Hồ Hữu Tường như sau):
Cụ Bảy Triều và cụ Nguyễn An Ninh học cùng lớp tại trường Bổn Quốc (Chasseloup Laubat) (nay là Lê Quý Đôn).
Ngày xưa tại Sài gòn có nhiều trường như: Huỳnh khương Ninh, Nguyển xích Hồng, Nguyển phan Long, Lê bá Cang, Chấn Thanh, Nguyển văn Khuê, Général De Gaulle, Lanzarotte, Lycéum Paul Doumer. Nhưng chỉ có hai trường khó xin cho con cái vào học là Trường Bổn Quốc và Trường Taberd.
Trường Bổn Quốc thực chất là dành cho con Tây hay dân Tây học (chỉ có gia đình giàu, có vi cánh mới vận động cho con được vào). Học sinh Trường Bổn Quốc, ngày chủ nhựt nghỉ, học sinh đi dạo ngoài đường phố, bị bắt buộc phải đội kết và mang phù hiệu, nhìn trông vừa đẹp vừa oai, còn học sinh Trường Taberd thì áo dài đen. Phần đông nữ sinh Trường Áo tím (École des Jeunes Filles) (nay là Trường Gia Long) ưa nhìn và làm quen với học sinh Trường Bổn Quốc (bởi nghĩ rằng mấy cậu ấm nầy là con nhà giàu, gia đình danh giá) hơn là học sinh Trường Taberd mà họ gọi là “con Quạ”.
Hai Cụ Nguyển an Ninh và Bày Triều ai cũng có một bạn gái. Cụ Nguyễn An Ninh là cô Chín Phòng, học sinh Trường Áo trắng (Saint Paul ), Cụ Bảy Triều thì cô Tố Lan, học sinh Trường Áo tím.
Cô Tố-Lan biết đàn lẫn ca, nên đối với cụ Bảy Triều, cô vừa là tri âm vừa là tri kỷ.
Học tới năm thứ 4, chuẩn bị thi bằng Thành Chung (Diplôme d’Études Primaires Supérieures Indochinoises) - viết tắt là DEPSI -, thì thình lình Cụ Bảy Triều hay tin người yêu qua đời. Phải chăng vì buồn mà xao lãng việc học, nên năm ấy cụ thị rớt.
Về nhà, ví mình như Bá Nha bị mất đi Tử Kỳ, nên Cụ lấy đàn Kìm ra vừa đàn vừa đặt lời ca cho bài Tứ Đại Oán nói về người yêu. Bài ca đặt chưa xong thì vì có việc gấp phải đi, nên Cụ treo cây đàn trở lại trên vách. Vừa đi vừa sáng tác, nên khi về tới nhà, bởi sợ quên, nên cụ vói lấy cây đàn Kìm để viết tiếp lời ca. Nhưng không ngờ cây đàn bị tuột dây to (nốt Tồn), Cụ không buồn chỉnh lại, cứ để vậy mà đàn, nhưng không ngờ cái dây nầy nó tạo cho Cụ cái hào hứng lạ thường, nên Cụ giữ dây nầy luôn và đặt cho nó cái tên là Tố-Lan.
Ngón đàn Kìm của cụ Bảy Triều tươi mát ngọt ngào mùi mẫn, làm xoáy tim người nghe, nên có tiếng đồn rằng “ai mà chưa được dịp nghe Cụ Bày Triều đàn Kìm trên dây Tố-Lan thì kể như người ấy còn thiếu trong việc nghe nhạc Việt nam”.
Ông Hồng Tấn Phát (Hai Phát)
Người gốc Trà Vinh, nghiện á-phiện, điêu luyện trên 3 nhạc khí như Đàn Tam, đàn Cò, và đàn Violon. Chẳng những giỏi bên tài tử Nam Bộ, ông còn giỏi về nhạc lễ, nhứt là đường roi (đánh trống). Ngoài tính cách giòn tan, lại còn thêm cao siêu về tiết tấu (rythme). Môn đệ của ông là hai danh cầm Hai Thơm (Violon) và Văn Vĩ (Guitare).
Đàn tam là loại đàn ba dây nylon. Thùng đàn hình chữ nhật dài 18 phân, ngang 14 phân, dày 10 phân. Một bên bịt bằng da trăn hay da con kỳ đà, một bên để trống, cần đàn dài nhưng lại không có phím.
Âm thanh của đàn Tam tương tợ âm thanh đàn Banjo; nhưng khác hơn Banjo, âm thanh của đàn tam đã cứng ngắc, lại kém dư âm. Giá dùng nó để tả tiếng nấc của người Chinh Phu trong phòng the gối chiếc thì không gì đúng hơn.
Những ai từng nghe bản Lưu thủy trường - Hai Phát đàn Tam - Vỉnh Bảo đàn Tranh 21 dây trong băng Nam Bình hai (1) thì sẽ ngạc nhiên thấy dưới đầu 4 ngón tay thần dịu của ông, cung bậc trở thành phân minh chững chạc, âm vang tròn trịa phong phú như bất cứ loại đàn dây nào có phím. Đó là những đoạn chuyển biến khoan thai; nhưng khi chạy chữ nhanh (vélocité) thì âm thanh dồn dập như thác đổ, nhịp điệu gút mắc, chứng tỏ một tài năng và sự điêu luyện đã đến mức tột đỉnh. Nếu chạy chữ trên cây đàn Vĩ cầm (Violon) đòi hỏi phải có thính giác mẫn tiếp, ngón đàn chính xác thế nào, thì chạy chữ trên đàn Tam cũng như vậy, mà còn cao hơn thế nữa, vì Vĩ cầm với 4 dây âm hưởng hơn, âm thanh phát ra dễ hơn, nghe rõ hơn.
(1) Băng Nam Bình 1 và 2 mang tên “Tiếng Đàn Tranh” do Nguyễn công Bình và Vĩnh Bảo thực hiện, phát hành vào năm 1969).

Đàn cò: lối đàn của ông Hai Phát là kéo cung dài; đàn mực thước đạo mạo thật là sâu sắc theo thế hệ cổ.
Một buổi sáng vào hạ tuần tháng 11 năm 1972, từ Tòa Thánh Tây Ninh về, ông cùng nhạc sĩ Bảy Hàm đến thăm tôi (Vĩnh Bảo). Lần này gặp lại, tôi thấy ông yếu đi nhiều, hai chân sưng to lên, lở loét, bên ngoài băng vải.
Sau nửa giờ thăm hỏi, tôi mang đàn ra để cùng đàn và thâu thanh chơi. Ông đàn Cò, Bảy Hàm đàn Kìm, tôi đàn Tranh, hòa tấu bản Tây Thi Vắn.
Lúc nầy ông lên dây đàn không còn chính xác như xưa, khiến tôi phải điều chỉnh giúp ông. Hòa tấu tới câu 8 thì ông Hai Phát đàn lộn câu lẫn sai nhịp. Ông Bảy Hàm yêu cầu tôi xóa đi để đàn lại. Nhưng ông Hai Phát và tôi không đồng ý. Ông Hai Phát nói: “Mặc kệ, đàn trúng trật hay dở không là vấn đề. Lần nầy đến thăm Vĩnh Bảo để nói chuyện và hòa đàn chơi và xem như gặp nhau lần chót để rồi về Trà Vinh chết. Trước khi nhắm mắt, điều mà tôi mãn nguyện là được Vĩnh Bảo mời đàn cho 2 cuốn băng Nam Bình I và II, lưu lại cho hậu thế tiếng đàn của một nhạc sĩ nhiều truân chuyên và bất hạnh.
Đây là lời trối trăn, mười ngày sau đó, tôi được báo cho biết là Ông đã qua đời. Vì hay tin trễ, tôi không dự đuợc đám tang Ông. Tuy nhiên nhóm Duy Lân cùng một số nhạc sĩ đã xuống Trà Vinh lo ma chay cho ông và tiễn ông đến phần mộ.

(con tiêp ) hêt phân 1

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4813302