VĨNH BẢO : ĐIỂM QUA MỘT SỐ NHẠC SƯ, NHẠC SĨ VANG BÓNG MỘT THỜI (tiêp theo)
Ông Huỳnh Văn Sâm (Sáu Tửng)
Người gốc Gò Công, nghiện á-phiện, thân phụ của tay trống có hạng Huỳnh Anh và nữ ca sĩ Bạch Huệ.
Cái tên Huỳnh văn Sâm, nhứt là cái tên Sáu Tửng, thì không xa lạ gì đối nhạc sư nhạc sĩ miền Nam lẩn Trung và Bắc, kể ca những người yêu nhạc. Nhiều nhạc sĩ đàn Kìm ảnh hưởng đến lối đàn của ông và đàn giông giống ông.
Sở trường của ông là cây đàn Kìm và Xến. Đàn Kìm, đàn Xến, thay vì tay trái bấm dây đủ 4 ngón (trỏ, giữa, áp út và út) như vậy mới nhấn được chữ đàn có gân, chuyền chạy chữ mới nhanh. Đằng nầy ông chỉ sử dụng 2 ngón (trỏ và giữa), lướt một cách nhanh nhẹn, lưu loát trên phím đàn không thua gì người sử 4 ngón.
Tôi quen ông vào năm 1930, lúc ấy ông đàn Kìm chánh cho gánh Hồng Nhựt hát tại Cao Lãnh (quê của tôi) và tôi được dịp nghe ông đàn Kìm trên dây Hò Ba cho chị Hai Thân và chị Sáu Liềng (danh ca Cao Lãnh) ca, và dây Bắc Oán cho Anh Bé ở Nha Mân (Cái Tàu Hạ - đồng hương với danh ca Tám Thưa -) ca Vọng cổ và Tây Thi hơi Quảng.
Thời điểm nầy tôi không thấy nhạc sĩ đàn Kìm nào sử dụng hai loại dây Hò Ba và Bắc Oán nầy, và riêng tôi, tôi cho rằng ông Sáu Tửng là người sáng chế.
Năm 1935, xuyên qua dĩa nhựa Béka, tôi có nghe ông độc tấu Tây Thi Hơi Quảng đàn Kìm trên dây Bắc Oán.
Từ năm 1928, ông luôn luôn là tay đàn Kìm chánh cho nhiều gánh hát Cải lương như:
Văn Hí Ban, Võ Hí Ban, Phước Cương, Trần Đắt, Hồng Nhựt, Thanh Niên, Phụng Hảo, đàn thu rất nhiều dĩa nhựa như Béka, Pathé, Asia, Hoành sơn, Hồng Hoa, Việt Hải, Tri âm, Kim Khánh….
Tuồng hát nào mà Cô Bảy Phùng Há có vai, thì đàn Kìm nhứt định phải là Sáu Tửng, Cô mới chịu, y hệt như ca sĩ Thành Công, ca thì phải có Hai Long đệm đàn Guitare-mando.
Thập niên 1940, ông ra Bắc dạy đàn Kìm.
Năm 1955, ông Ba Quan (Chủ tiệm hột xoàn Ba Quan Chợ cũ), mời ông, Duy Lân, Tám Thưa, Việt Hùng, Cô Tư Bé, và nhạc sĩ Nguyễn thế Huyện (Tư Huyện) (đàn Cò và Violon) sang Pháp làm dĩa nhựa mang nhãn hiệu Kim Khánh.
Năm 1960, tối ông đàn cho gánh hát, trưa quay về Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ để cùng hai nhạc sĩ Ba Dư (đàn Tranh), Chín Trích (đàn Cò) đệm cho học sinh lớp Sân Khấu ca diễn.
Lối đàn Kìm và Xến của ông rất là độc đáo. Tiéng đàn phát ra nghe rất anh hùng và tự tin. Chữ đàn sắp xếp sắc sảo, câu cú tròn vành rõ nghĩa, hơi nào ra hơi nấy, tiết tấu mắc mỏ, mùi, dễ gợi cảm cho người cùng đàn. Trong hòa tấu, lối đàn rất là sôi động, ra vô, quăng bắt của ông rất là mạch lạc, tạo hào hứng cho người cùng đàn. Có những lúc đang đàn, ông đơn phương ngưng nghỉ, rồi một lát sau đó, bất thần nhào đại vô, làm cho người cùng đàn giựt mình, có khi bị rơi đàì. Mỗi lần có dịp hòa đàn với ông, tôi luôn bắt gặp nơi ông có mốt số câu đàn mới, lạ và hay. Có lần ông tâm sự với tôi: “Về đêm, sau vãn hát, mọi người lo đi ngủ, còn tôi thì sau khi kéo vài điếu (ông nghiện á phiện) tôi ôm đàn Kìm, chế ra nhửng câu đàn mới”. Cái sợ nhứt của tôi là đàn vào đêm thanh vắng, chữ đàn ma nhấn chưa chín, tai mình nghe rõ mồn một. Không như Vĩnh Bảo có cách ghi ra giấy, mổi khi sáng tác ra câu nào thì tôi ôm đàn, đàn đi đàn lại cho thật thuộc câu nấy, nếu không thì ngày mai lai quên mất.
Băng Nam Bình I, qua nhửng hòa tấu: Ngũ Đối Hạ, Lưu Thủy Trường, 6 câu Vọng cổ nhịp 32 (Sáu Từng (Kìm), Chín Trích (Cò), Vĩnh Bảo (Tranh), người nghe có thể nhận thấy lối đàn độc đáo của ông Sáu Tửng.
Năm 1938 tôi có dịp đàn 20 câu Vọng cổ nhịp 16 vô dĩa nhựa Béka (Năm Nghĩa (Trà Ôn) đàn Tranh, Ba Cân (Xóm Gà) đàn Kìm, tôi đàn Gáo, Cô Ba Thiệt (chị ca sĩ Năm Cần thơ) ca).
Thường khi 20 câu Vọng cổ nhịp 16 gói gọn trong 2 dĩa. Mỗi mặt qui định là 3 phút (không dư một giây). Dĩa 1, mặt A: Rao, và câu 1, 2, 3 và 4, mặt B: câu 5, 6, 7, 8, 9, 10. Dĩa 2, mặt A: câu 11, 12, 13, 14, 15 câu, mặt B: 16, 17, 18, 19, 20.
Phần đông nhạc sĩ phải đàn đi đàn lại nhiều mới xong một mặt dỉa. Riêng ông Sáu Tửng, ông canh trường tống (tempo) rất chính xac. Chỉ một keo là ăn tiền.
Ông sống nghèo tại hẻm Taberd (Nguyễn Du). Có lần tôi đề nghị ông để tôi nhờ Bác sĩ quen thân (Bác sĩ Phạm kim Tương) giúp ông cai á phiện. Ông đáp lại tôi bằng một câu xanh rờn: “Vĩnh Bảo phải biết, Sáu Tửng sống là để hút và đàn”.
Không bao giờ tôi quên được lần cuối cùng găp ông tại nhà may Nguyễn văn Phú ở đường d’Ormay Sàigòn vào năm 1980. Đêm ấy có tổ chức đàn ca tận trên lầu bốn. Thính giả phần đông là cao tuổi và tri âm. Tay đờn thì có nhạc sĩ Thanh Tuyền đàn Kìm, Tư Huyện đàn Cò và violon, tôi đàn Tranh, 2 Cô Thanh Trang và Thanh Hoa ca. Sở dỉ không mời ông Sáu Tửng vì anh em ngại cho sức khỏe của ông.
Nhưng bất ngờ ông tự động đến, vạnh bên là cô ca sỉ Huệ Nhi dìu ông lên lầu. Gặp ông tôi rất mừng bởi có tay đàn ưng ý. Nhưng vì thương và lo cho sức khỏe của ông, tôi trách ông đến làm chi. Trước mặt mọi người ông nói: Dù không đựoc mời, nhưng tối cố gắng đến cốt là để nghe Vĩnh Bảo đàn. Tôi đỡ lời: anh Sáu, anh có lạ gì với tiếng đàn của tôi?. Bắt đầu đàn, ông ôm đàn Kìm rao trước, Tranh, violon cùng rao theo, cô Thanh Trang nói lối. Khi vào Vọng cổ, Ông ngưng đàn, nghẻo đầu tựa vào vành đàn, nhắm mắt nghe. Tôi thầm nghĩ rằng từ đây sẽ không còn dịp nghe tiếng đàn Sáu Tửng hay cùng hòa đàn với ông nữa. Đúng vậy, một tuần sau nghe tin ông qua đời ….
Tôi quen với ông từ năm 1930 tại Cao lảnh. Nhửng dịp theo gánh lên hát ở Nam vang vào năm 1935, 1936, ông đến nhà tôi gần như hằng đêm sau khi vãn hát. Giữa ông và tôi có nhiều kỷ niệm khó quên.
Ông Võ Văn Tiểng (Mười Tiểng)
Người sanh trưởng ở Gò Công. Nghề tay mặt của ông là làm kế toán cho nhà thuốc tây. Ông chuyên về đàn Kìm, nhưng đàn Tranh và Cò, ông đàn cũng hay.
Ngày nay nhạc sĩ đàn Kìm phần đông là bỏ bớt nhấn thay vào đó lối đàn chuyền nhiều chữ, đánh mất đi cái điềm đạm của cây đàn lãnh đạo này.
Ai đã từng nghe ông Mười Tiểng song tấu Kìm với Tranh Vĩnh Bảo trong băng Nam Bình I trên những bản Nam Xuân, Nam Ai, Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán thì thấy rõ ngón đàn Kìm của ông rất là gân guốc, sâu sắc, đổ hột, tiếng đàn tròn trịa óng ả, nhấn chín chữ, thiết nghĩ ai ai cũng đồng ý dành cho ông một ngai riêng biệt.
Hai ông Năm Vĩnh và Hai Thơm
Ông Năm Vĩnh chuyên về đàn Kìm, và chơi Hạ Uy Cầm (Guitare Hawaienne). Ông đàn tay trái. Đàn Kìm ông nổi tiếng trên dây Hò năm. Trong băng Nam Bình II, trong bản Đảo Ngũ Cung, (Hai Thơm Violon, Vĩnh Bảo Tranh), tiếng đàn Kìm của ông lúc thì lững thững , khi thì chạy chữ dồn dập.
Song tấu 6 câu Vọng cổ (Năm Vỉnh Kìm, Hai Thơm Violon), phong cách đàn Kìm trên dây Hò Năm của ông rất là tuyệt diệu, tiên phong đạo cốt, ẩn ẩn hiện hiện, y như hạt sương mờ, làm say mê khách mộ điệu.
Violon của ông Hai Thơm cũng đổ hột (détaché), cũng quyến luyến (lié), cũng vút lên (envolée) không thua gì những danh Vĩ Cầm quốc tế. Ngón chạy chữ (vélocité), tuy không máy móc như đàn Vĩ Cầm quốc tế, nhưng đạt được như vậy cũng phải vài chục năm khổ công tập luyện, ấy là chưa kể đến cung vị ngọt ngào trong cung bậc mà chỉ có những nhạc sĩ chính cống mới có, còn những thợ đàn thì ngàn đời vẫn thiếu.
Song tấu Vọng cổ Kìm - violon, làm cho người nghe cảm thấy cái buồn man mác với những nốt đàn lờ lợ, lạ tai của dây Hò năm đàn Kìm.
Trong khi đàn, cả hai nhạc sĩ, ai cũng tung ra những độc chiêu rất là kỳ bí. Khi thì ríu rít như tiếng chim hót buổi sáng của Violon, lúc buông rơi từng chữ của đàn Kìm, làm cho người nghe cảm thấy hai bên đang chực hờ quật ngã nhau, lôi cuốn khách mộ điệu chuộng cái lối đàn gay cấn mắc mỏ phập phòng hồi hộp, chẳng biết ai sẽ quật ngã ai. Quả là kỳ phùng địch thủ.
Ông Mười Còn (Cần Đước)
Vào những năm 1934-1935 tại Sài Gòn có ông Jean Tịnh, nghiện á-phiện, người cao lớn chuyên đàn Violon bản tây, ông làm việc cho đài Radio Sài Gòn số 3 đường Richaud (nay là Nguyễn Đình Chiểu). Tuy chơi nhạc Tây, nhưng ông cũng mê cổ nhạc nên chép 6 câu Vọng cổ nhịp 8 từ đàn Cò, để rồi sử dụng với đàn Violon. Quan niệm của người chơi nhạc tây phương là cứ nhìn bản là đàn được, nhưng họ quên rằng nhac Việt nam có những trang trí như: rung, mổ, nhấn, luyến láy nốt đàn, tương tợ như tiếng Việt, có 6 dấu: không dấu, dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Những trang trí ấy rất là quan trong, bởi chúng nói lên cái Điệu thức (Mode) và Hơi, Giọng (Air) của bản. Do vậy, ông Jean Tịnh, khi đàn violon Vọng cổ cho cô Hai Đá ca “Gió bấc lạnh lùng, trên con đường ba sinh thấy hoa
rụng rơi trên mặt đất”, nốt nào ông cũng rung, tương tợ như người Pháp nói tiếng Việt, nghe dễ tức cười . Tuy nhiên, cũng nên ghi công của ông là người gợi ý cho một số nhạc sĩ đàn Cò dùng đàn violon để đàn bản Việt, và người đi tiên phuông là nhạc sĩ đàn Cò Mười Còn (Cấn đước), rồi sau đó đến lượt những nhạc sĩ đàn Cò khác như Nguyễn thế Huyện (Tư Huyện), Hai Thơm, Văn Thế, Tư Còn, ….Đàn Violon không có gì lạ đối với nhạc sĩ đàn Cò. Họ xem nó như là sự phối hợp của âm thanh đàn Cò và đàn Gáo. Khỏi phải mất thì giờ để học, chỉ cần áp dụng kỹ thuật của đàn Cò và đàn Gáo là được.
Năm 1938, tôi đã có dịp nghe ông Mười Còn violon Vọng Cổ nhịp 16. Ngón đàn của ông rất tươi mướt, lối đàn khuôn thước mẫu mực chín chắn nghe rất là hay.
Nguyễn Thế Huyện (Tư Huyện) Cần Đước:
Nghiện á-phiện, thuộc gia đình nhạc lễ, là em Hai Phát, anh Sáu Quý đàn Tranh.
Ông sử dụng đàn Kìm, Tranh, Xến, Cò, Violon và thổi ống tiêu. Lối đàn Cò của ông là kéo cung dài tạo ra những âm thanh réo rắt lả lướt làm cho người nghe cảm thấy thấm thía. Mỗi nốt đàn của ông đều mang một đặc tính kín đáo rung động tâm linh.
Về ống Tiêu, ông luyến láy những ngón tay tạo ra âm thanh õng ẹo y hệt như tiếng nhấn vuốt của đàn Tranh, Kìm. Chẳng riêng về nhạc Tài tử Nam bộ, ông lại còn rất rành về bộ gõ của Nhạc lễ. Ông nghiện á phiện.
Nguyễn thế Quí (Sáu Quí)
nghiện á-phiện, em nhạc sĩ Hai Phát và Nguyến thế Huyện (Tư Huyện), sử dụng đàn Tranh và đàn Kìm. Thập niêm 1935-1942, nhiều nhạc sư nhạc sĩ đàn Tranh rất giỏi và hay như: Thầy Mười Tân, Sáu Hóa, Sáu Tý, Năm Tồn, Bảy Phải (Cần thơ), Năm Nghĩa (Trà ôn), Sáu Nguơn, Bảy Yên (Sađéc), Ba Hạt (Caolãnh), Mười Lăng (Cần đước) …. nhưng sáng giá nhứt là đàn Tranh của Sáu Quí về Vọng cổ nhịp 16. Tiếng đàn ẻo lả, khêu gợi, mùi mẫn của anh, khiến cho nhiều nam nữ ca sĩ thích ca có anh đàn Tranh.
Sau đây là số Vọng cổ trong ấy anh độc tấu đàn Tranh hoặc song tấu với nhạc sĩ khác:
Sáu Hướng (Caolãnh) ca
Sáu Quí (Tranh)
Mười Còn (violon)
Xanh Xía ca
Sáu Quí (độc tấu Tranh)
Cô Bích Liên ca
Sáu Quí (Tranh)
Mười Còn (violon)
Ba Khuê ca
Sáu Quí (Tranh)
Năm Thọ (đàn Cò)
Cô Thể Hà ca
Sáu Quí (Tranh)
Mười Còn (violon)
Cô Ba Được ca
Sáu Quí (Tranh)
Năm Thọ (đàn Cò)
Ba Tuất ca
Sáu Quí (độc tấu Tranh)
Cô Ba Bến tre ca
Sáu Quí (độc tấu Tranh) ……
Anh qua đời khoảng tuổi ngoài bốn mươi.
Hà Văn Tân(Chín Trích)
Thân phụ của nghệ sĩ Tú Trinh.
Cái tên Chín Trích thì giới mộ điệu biết nhiều hơn cái tên Hà Văn Tân. Tại sao là Chín Trích?
Ông học đàn Cò với ông thầy Quốc. Đi đàn đâu thì ông cũng xách đàn tò tò đi theo, nên người ta gán cho ông cái tên là Trích. Thành tên Quốc, trò tên Trích, (Quốc và Trích là hai con chim ở ruộng ăn lúa).
Đàn Cò ông kéo cung ngắn. Lối đàn mẫu mực mùi mẫn, thỉnh thoảng buông cung sầu thế hệ làm cho người nghe cảm thấy buồn đến rơi lệ. Ông chuyên đàn cho gánh hát cải lương, Đài Phát Thanh và vô dĩa nhựa.
Dương văn Cơ (Năm Cơ)
Sanh năm 1919 tại làng Ngũ Lạc (Trà vinh), nghiện á-phiện, sử dụng đàn Kìm, Xến, Guitare lõm phím
Khoảng những năm 1948-1950 ông cùng thầy là Sáu Lắc đầu quân cho nhà thuốc Cao Đơn Hoàn Tán Đại Từ Bi ở đường Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu). Nhiệm vụ của hai ông là đàn để quảng cáo bán thuốc. Lối đàn của ông xôm và rộn rã. Năm Cơ và Văn Vĩ, cả hai nghiện á-phiện, là cặp bài trùng, hòa đàn rất ăn ý với nhau, nơi nào có Cơ là có Vĩ. “Cơ” tiếng Pháp là “queue” nghĩa là cái đuôi; còn “Vỉ”, chữ Hán dịch ra tiếng Việt cũng là “đuôi”. Duyên tiền định, hai cái “đuôi” gặp nhau trong lỉnh vực âm nhạc.
Xuyên qua Đài Phát Thanh trong dĩa nhựa, khi nghe hai người này cùng hòa đàn với nhau thì người nghe cảm thấy rất khoái trá và hồi hộp, lo sợ không biết tay nào sẽ quật ngã tay nào, vì cả hai đều chủ trương đàn mắc mỏ. Vọng Cổ “Thư Về Quê Mẹ”, Thành Được ca, “Lan và Điệp” nữ ca sĩ Út Bạch Lan ca (Băng Nam Bình II), có thể ví như tấm thảm xanh đủ màu đủ vẻ với tiếng đàn Xến sáng giá của Năm Cơ, tiếng đàn Tranh bay bướm óng chuốt của Bảy Bá (nghiện á-phiện và tự cai lấy), tiếng đàn Guitare sâu sắc chín chữ và ngọt ngào của Văn Vĩ, đưa cho người nghe thấy rằng bạn vàng gặp bạn vàng.
Cộng tác với nhiều Đoàn Hát như Hoa Sen, Kim Chung,
Bầu Thắng (Hát Bội), Ban Cổ Nhạc Đồng Nai (Đài Phát Thanh Sàigòn), Ban Hoa tình thương -Thành Công - (Đài tiếng nói Quân đội), đàn thu dỉa Hống Hoa, Việt Hải, …..
Ông phục vụ nghệ thuật cho đến hơi thở cuối cùng. Ngày hôm trước đàn cho Đài Phát Thanh, sau đó hẹn 9 giờ sáng ngày hôm sau quay trở lại đàn tiếp, nhưng ngày hôm sau, anh em trên đài đợi mãi không thấy ông đến, bèn cho người đến gặp ông thì mới hay là ông đã tắt thở trước 9 giờ sáng!.
Văn Vĩ
Tên thật là Đinh văn Dậm, sanh năm 1928 tại làng Bình Đăng, Quận Cần đước. Cha là Lính Tây, thổi Kèn Tây nên người ta gọi là Cai Kèn. Văn Vĩ chơi đàn Cò khi lên 7 tuổi. Khiếm thị khi lên 3 uổi sau cơn bịnh ban trắng. Năm 11 tuổi học đàn với thầy bảy Thùa ở Thủ Thiêm. Sở trường đàn Guitare lõm phím. Sử dụng Kìm, Xến, Tam, Tranh, violon, ống Tiêu. Năm 1953 cộng tác với Ban Cửu Long Đài Phát Thanh Sàigòn, Ban “Hoa Tình Thương” Đài Tiếng Nói Quân Đội, đàn gánh Hát Bội Bầu Thắng, Tấn thành Ban, Kim Chung A, các Hãng dĩa nhựa Hống Hoa, Việt Hải,
Tiếp xúc với một số nhạc sĩ khiếm thị, chẳng hạn như: Sáu Khỏe, Duy Trì, Văn Vĩ, tôi nhận thấy ông nào cũng có lối đàn mắc mỏ rất tài tình, gây khó khăn cho người khác.
Năm 1965, tôi nhờ Bác sĩ Phạm kim Tương cai giùm cho ông. Từ giã nàng Tiên nâu, Văn Vĩ quay sang nhậu, và qua đời ở tuổi chưa tới 70.
Năm 1970, theo lời mời của Trung Tâm Văn Hóa Đức (Centre Culturel Allemand), 120 đường Nguyển đình Chiểu Sàigòn, tôi tổ chức buổi nói chuyện về nhạc Tài tử Nam bộ bằng tiếng Pháp. Giàn nhạc, tôi huy động 12 nhạc sĩ, toàn là dân gạo cội. Vì muốn chứng minh cho thấy 2 nhạc khí Guitare và violon có thể dùng đàn bản Việt, nên tôi xếp cho nhạc sĩ Hai Thơm đàn violon, Văn Vĩ Guitare song tấu 6 câu Vọng cổ. Bởi Văn Vĩ ca rất mùi nên tôi yêu cầu Văn Vĩ vừa đàn vừa ca “Đời tôi không ánh sáng” lời ca do soạn giả Viễn Châu soạn.
Khi mãn cuộc, Văn Vĩ nói có người bảo với anh ta rằng trong khi anh ca, có một số thính giá Việt nam lấy khăn lau nước mắt. Tôi nói cho Văn Vĩ biết là trước khi anh ca, tôi đã có giải thích cho thính giả biết qua lời ca là nói lên tâm sự của một nhạc sĩ trước đây có yêu một người, hai bên giao hẹn sẽ cùng sống bên nhau, Nhưng chẳng may sau một cơn bịnh trái trắng, người nhạc sĩ bị mất đi ánh sáng, thế là người yêu ngoảnh mặt, ôm cầm sang thuyền khác. Buồn tình, nhạc sĩ ôm đàn đi đàn dạo. Hôm ấy nhà nọ đang tổ chức lễ cưới cho con gái, cho người ra mời Văn Vĩ vào đàn giúp vui. Vào nhà, Văn Vĩ đánh hơi biết đây lễ cưới của người yêu trước đây của mình, nên chọn lời ca Đời tôi không ánh sáng. Rất có thể một số thính giả nghĩ rằng Văn Vĩ là người trong cuộc.
BĂNG NAM BÌNH I và II.
Năm 1969, Nguyễn công Bình và Nguyễn vĩnh Bảo phát hành băng NAM BINH I và II “Tiếng đàn Tranh” với sự cộng tác của 12 nhạc sĩ và 2 ca sĩ:
1. Huỳnh văn Sâm (Sáu Tửng)
2. Hà văn Tân (Chín Trích),
3. Vò văn Tiềng (Mười Tiếng(
4. Năm Vĩnh,
5. Hai Thơm,
6. Hồng tấn Phát (Hai Phát,
7. Dương văn Cơ (Năm Cơ)
8. Trương văn Bảy (Bảy Bá),
9. Đinh văn Dậm (Văn Vĩ),
10. Ngô nhật Thanh,
11. Nguyển đình Nghỉa,
12. Nguyễn vĩnh Bảo
13. Cô Út Bạch Lan,
14. Thành Được.
Trong 2 cuồn Băng nói trên, 9 nhạc sĩ đã qui thiên, còn lại Cô Út Bạch Lan, Thành Được, nhạc sĩ Năm Vỉnh, Bảy Bá và Vĩnh Bảo.
“Người nghệ sĩ có sứ mạng thiêng liêng làm ấm lại những tâm hồn giá lạnh, và đôi lúc cũng khóc thầm trong khi mọi người xung quanh cười”.
Nay xin thắp nén hương gọi là tấc lòng tưởng nhớ đến những nghệ nhân một thời vang bóng, đã từ lâu trở về với cát bụi, yên giấc nghìn thu trong quên lãng của người đời….”
Sàigòn, 24-04-2008 - VĨNH BẢO
Ông Huỳnh Văn Sâm (Sáu Tửng)
Người gốc Gò Công, nghiện á-phiện, thân phụ của tay trống có hạng Huỳnh Anh và nữ ca sĩ Bạch Huệ.
Cái tên Huỳnh văn Sâm, nhứt là cái tên Sáu Tửng, thì không xa lạ gì đối nhạc sư nhạc sĩ miền Nam lẩn Trung và Bắc, kể ca những người yêu nhạc. Nhiều nhạc sĩ đàn Kìm ảnh hưởng đến lối đàn của ông và đàn giông giống ông.
Sở trường của ông là cây đàn Kìm và Xến. Đàn Kìm, đàn Xến, thay vì tay trái bấm dây đủ 4 ngón (trỏ, giữa, áp út và út) như vậy mới nhấn được chữ đàn có gân, chuyền chạy chữ mới nhanh. Đằng nầy ông chỉ sử dụng 2 ngón (trỏ và giữa), lướt một cách nhanh nhẹn, lưu loát trên phím đàn không thua gì người sử 4 ngón.
Tôi quen ông vào năm 1930, lúc ấy ông đàn Kìm chánh cho gánh Hồng Nhựt hát tại Cao Lãnh (quê của tôi) và tôi được dịp nghe ông đàn Kìm trên dây Hò Ba cho chị Hai Thân và chị Sáu Liềng (danh ca Cao Lãnh) ca, và dây Bắc Oán cho Anh Bé ở Nha Mân (Cái Tàu Hạ - đồng hương với danh ca Tám Thưa -) ca Vọng cổ và Tây Thi hơi Quảng.
Thời điểm nầy tôi không thấy nhạc sĩ đàn Kìm nào sử dụng hai loại dây Hò Ba và Bắc Oán nầy, và riêng tôi, tôi cho rằng ông Sáu Tửng là người sáng chế.
Năm 1935, xuyên qua dĩa nhựa Béka, tôi có nghe ông độc tấu Tây Thi Hơi Quảng đàn Kìm trên dây Bắc Oán.
Từ năm 1928, ông luôn luôn là tay đàn Kìm chánh cho nhiều gánh hát Cải lương như:
Văn Hí Ban, Võ Hí Ban, Phước Cương, Trần Đắt, Hồng Nhựt, Thanh Niên, Phụng Hảo, đàn thu rất nhiều dĩa nhựa như Béka, Pathé, Asia, Hoành sơn, Hồng Hoa, Việt Hải, Tri âm, Kim Khánh….
Tuồng hát nào mà Cô Bảy Phùng Há có vai, thì đàn Kìm nhứt định phải là Sáu Tửng, Cô mới chịu, y hệt như ca sĩ Thành Công, ca thì phải có Hai Long đệm đàn Guitare-mando.
Thập niên 1940, ông ra Bắc dạy đàn Kìm.
Năm 1955, ông Ba Quan (Chủ tiệm hột xoàn Ba Quan Chợ cũ), mời ông, Duy Lân, Tám Thưa, Việt Hùng, Cô Tư Bé, và nhạc sĩ Nguyễn thế Huyện (Tư Huyện) (đàn Cò và Violon) sang Pháp làm dĩa nhựa mang nhãn hiệu Kim Khánh.
Năm 1960, tối ông đàn cho gánh hát, trưa quay về Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ để cùng hai nhạc sĩ Ba Dư (đàn Tranh), Chín Trích (đàn Cò) đệm cho học sinh lớp Sân Khấu ca diễn.
Lối đàn Kìm và Xến của ông rất là độc đáo. Tiéng đàn phát ra nghe rất anh hùng và tự tin. Chữ đàn sắp xếp sắc sảo, câu cú tròn vành rõ nghĩa, hơi nào ra hơi nấy, tiết tấu mắc mỏ, mùi, dễ gợi cảm cho người cùng đàn. Trong hòa tấu, lối đàn rất là sôi động, ra vô, quăng bắt của ông rất là mạch lạc, tạo hào hứng cho người cùng đàn. Có những lúc đang đàn, ông đơn phương ngưng nghỉ, rồi một lát sau đó, bất thần nhào đại vô, làm cho người cùng đàn giựt mình, có khi bị rơi đàì. Mỗi lần có dịp hòa đàn với ông, tôi luôn bắt gặp nơi ông có mốt số câu đàn mới, lạ và hay. Có lần ông tâm sự với tôi: “Về đêm, sau vãn hát, mọi người lo đi ngủ, còn tôi thì sau khi kéo vài điếu (ông nghiện á phiện) tôi ôm đàn Kìm, chế ra nhửng câu đàn mới”. Cái sợ nhứt của tôi là đàn vào đêm thanh vắng, chữ đàn ma nhấn chưa chín, tai mình nghe rõ mồn một. Không như Vĩnh Bảo có cách ghi ra giấy, mổi khi sáng tác ra câu nào thì tôi ôm đàn, đàn đi đàn lại cho thật thuộc câu nấy, nếu không thì ngày mai lai quên mất.
Băng Nam Bình I, qua nhửng hòa tấu: Ngũ Đối Hạ, Lưu Thủy Trường, 6 câu Vọng cổ nhịp 32 (Sáu Từng (Kìm), Chín Trích (Cò), Vĩnh Bảo (Tranh), người nghe có thể nhận thấy lối đàn độc đáo của ông Sáu Tửng.
Năm 1938 tôi có dịp đàn 20 câu Vọng cổ nhịp 16 vô dĩa nhựa Béka (Năm Nghĩa (Trà Ôn) đàn Tranh, Ba Cân (Xóm Gà) đàn Kìm, tôi đàn Gáo, Cô Ba Thiệt (chị ca sĩ Năm Cần thơ) ca).
Thường khi 20 câu Vọng cổ nhịp 16 gói gọn trong 2 dĩa. Mỗi mặt qui định là 3 phút (không dư một giây). Dĩa 1, mặt A: Rao, và câu 1, 2, 3 và 4, mặt B: câu 5, 6, 7, 8, 9, 10. Dĩa 2, mặt A: câu 11, 12, 13, 14, 15 câu, mặt B: 16, 17, 18, 19, 20.
Phần đông nhạc sĩ phải đàn đi đàn lại nhiều mới xong một mặt dỉa. Riêng ông Sáu Tửng, ông canh trường tống (tempo) rất chính xac. Chỉ một keo là ăn tiền.
Ông sống nghèo tại hẻm Taberd (Nguyễn Du). Có lần tôi đề nghị ông để tôi nhờ Bác sĩ quen thân (Bác sĩ Phạm kim Tương) giúp ông cai á phiện. Ông đáp lại tôi bằng một câu xanh rờn: “Vĩnh Bảo phải biết, Sáu Tửng sống là để hút và đàn”.
Không bao giờ tôi quên được lần cuối cùng găp ông tại nhà may Nguyễn văn Phú ở đường d’Ormay Sàigòn vào năm 1980. Đêm ấy có tổ chức đàn ca tận trên lầu bốn. Thính giả phần đông là cao tuổi và tri âm. Tay đờn thì có nhạc sĩ Thanh Tuyền đàn Kìm, Tư Huyện đàn Cò và violon, tôi đàn Tranh, 2 Cô Thanh Trang và Thanh Hoa ca. Sở dỉ không mời ông Sáu Tửng vì anh em ngại cho sức khỏe của ông.
Nhưng bất ngờ ông tự động đến, vạnh bên là cô ca sỉ Huệ Nhi dìu ông lên lầu. Gặp ông tôi rất mừng bởi có tay đàn ưng ý. Nhưng vì thương và lo cho sức khỏe của ông, tôi trách ông đến làm chi. Trước mặt mọi người ông nói: Dù không đựoc mời, nhưng tối cố gắng đến cốt là để nghe Vĩnh Bảo đàn. Tôi đỡ lời: anh Sáu, anh có lạ gì với tiếng đàn của tôi?. Bắt đầu đàn, ông ôm đàn Kìm rao trước, Tranh, violon cùng rao theo, cô Thanh Trang nói lối. Khi vào Vọng cổ, Ông ngưng đàn, nghẻo đầu tựa vào vành đàn, nhắm mắt nghe. Tôi thầm nghĩ rằng từ đây sẽ không còn dịp nghe tiếng đàn Sáu Tửng hay cùng hòa đàn với ông nữa. Đúng vậy, một tuần sau nghe tin ông qua đời ….
Tôi quen với ông từ năm 1930 tại Cao lảnh. Nhửng dịp theo gánh lên hát ở Nam vang vào năm 1935, 1936, ông đến nhà tôi gần như hằng đêm sau khi vãn hát. Giữa ông và tôi có nhiều kỷ niệm khó quên.
Ông Võ Văn Tiểng (Mười Tiểng)
Người sanh trưởng ở Gò Công. Nghề tay mặt của ông là làm kế toán cho nhà thuốc tây. Ông chuyên về đàn Kìm, nhưng đàn Tranh và Cò, ông đàn cũng hay.
Ngày nay nhạc sĩ đàn Kìm phần đông là bỏ bớt nhấn thay vào đó lối đàn chuyền nhiều chữ, đánh mất đi cái điềm đạm của cây đàn lãnh đạo này.
Ai đã từng nghe ông Mười Tiểng song tấu Kìm với Tranh Vĩnh Bảo trong băng Nam Bình I trên những bản Nam Xuân, Nam Ai, Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán thì thấy rõ ngón đàn Kìm của ông rất là gân guốc, sâu sắc, đổ hột, tiếng đàn tròn trịa óng ả, nhấn chín chữ, thiết nghĩ ai ai cũng đồng ý dành cho ông một ngai riêng biệt.
Hai ông Năm Vĩnh và Hai Thơm
Ông Năm Vĩnh chuyên về đàn Kìm, và chơi Hạ Uy Cầm (Guitare Hawaienne). Ông đàn tay trái. Đàn Kìm ông nổi tiếng trên dây Hò năm. Trong băng Nam Bình II, trong bản Đảo Ngũ Cung, (Hai Thơm Violon, Vĩnh Bảo Tranh), tiếng đàn Kìm của ông lúc thì lững thững , khi thì chạy chữ dồn dập.
Song tấu 6 câu Vọng cổ (Năm Vỉnh Kìm, Hai Thơm Violon), phong cách đàn Kìm trên dây Hò Năm của ông rất là tuyệt diệu, tiên phong đạo cốt, ẩn ẩn hiện hiện, y như hạt sương mờ, làm say mê khách mộ điệu.
Violon của ông Hai Thơm cũng đổ hột (détaché), cũng quyến luyến (lié), cũng vút lên (envolée) không thua gì những danh Vĩ Cầm quốc tế. Ngón chạy chữ (vélocité), tuy không máy móc như đàn Vĩ Cầm quốc tế, nhưng đạt được như vậy cũng phải vài chục năm khổ công tập luyện, ấy là chưa kể đến cung vị ngọt ngào trong cung bậc mà chỉ có những nhạc sĩ chính cống mới có, còn những thợ đàn thì ngàn đời vẫn thiếu.
Song tấu Vọng cổ Kìm - violon, làm cho người nghe cảm thấy cái buồn man mác với những nốt đàn lờ lợ, lạ tai của dây Hò năm đàn Kìm.
Trong khi đàn, cả hai nhạc sĩ, ai cũng tung ra những độc chiêu rất là kỳ bí. Khi thì ríu rít như tiếng chim hót buổi sáng của Violon, lúc buông rơi từng chữ của đàn Kìm, làm cho người nghe cảm thấy hai bên đang chực hờ quật ngã nhau, lôi cuốn khách mộ điệu chuộng cái lối đàn gay cấn mắc mỏ phập phòng hồi hộp, chẳng biết ai sẽ quật ngã ai. Quả là kỳ phùng địch thủ.
Ông Mười Còn (Cần Đước)
Vào những năm 1934-1935 tại Sài Gòn có ông Jean Tịnh, nghiện á-phiện, người cao lớn chuyên đàn Violon bản tây, ông làm việc cho đài Radio Sài Gòn số 3 đường Richaud (nay là Nguyễn Đình Chiểu). Tuy chơi nhạc Tây, nhưng ông cũng mê cổ nhạc nên chép 6 câu Vọng cổ nhịp 8 từ đàn Cò, để rồi sử dụng với đàn Violon. Quan niệm của người chơi nhạc tây phương là cứ nhìn bản là đàn được, nhưng họ quên rằng nhac Việt nam có những trang trí như: rung, mổ, nhấn, luyến láy nốt đàn, tương tợ như tiếng Việt, có 6 dấu: không dấu, dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Những trang trí ấy rất là quan trong, bởi chúng nói lên cái Điệu thức (Mode) và Hơi, Giọng (Air) của bản. Do vậy, ông Jean Tịnh, khi đàn violon Vọng cổ cho cô Hai Đá ca “Gió bấc lạnh lùng, trên con đường ba sinh thấy hoa
rụng rơi trên mặt đất”, nốt nào ông cũng rung, tương tợ như người Pháp nói tiếng Việt, nghe dễ tức cười . Tuy nhiên, cũng nên ghi công của ông là người gợi ý cho một số nhạc sĩ đàn Cò dùng đàn violon để đàn bản Việt, và người đi tiên phuông là nhạc sĩ đàn Cò Mười Còn (Cấn đước), rồi sau đó đến lượt những nhạc sĩ đàn Cò khác như Nguyễn thế Huyện (Tư Huyện), Hai Thơm, Văn Thế, Tư Còn, ….Đàn Violon không có gì lạ đối với nhạc sĩ đàn Cò. Họ xem nó như là sự phối hợp của âm thanh đàn Cò và đàn Gáo. Khỏi phải mất thì giờ để học, chỉ cần áp dụng kỹ thuật của đàn Cò và đàn Gáo là được.
Năm 1938, tôi đã có dịp nghe ông Mười Còn violon Vọng Cổ nhịp 16. Ngón đàn của ông rất tươi mướt, lối đàn khuôn thước mẫu mực chín chắn nghe rất là hay.
Nguyễn Thế Huyện (Tư Huyện) Cần Đước:
Nghiện á-phiện, thuộc gia đình nhạc lễ, là em Hai Phát, anh Sáu Quý đàn Tranh.
Ông sử dụng đàn Kìm, Tranh, Xến, Cò, Violon và thổi ống tiêu. Lối đàn Cò của ông là kéo cung dài tạo ra những âm thanh réo rắt lả lướt làm cho người nghe cảm thấy thấm thía. Mỗi nốt đàn của ông đều mang một đặc tính kín đáo rung động tâm linh.
Về ống Tiêu, ông luyến láy những ngón tay tạo ra âm thanh õng ẹo y hệt như tiếng nhấn vuốt của đàn Tranh, Kìm. Chẳng riêng về nhạc Tài tử Nam bộ, ông lại còn rất rành về bộ gõ của Nhạc lễ. Ông nghiện á phiện.
Nguyễn thế Quí (Sáu Quí)
nghiện á-phiện, em nhạc sĩ Hai Phát và Nguyến thế Huyện (Tư Huyện), sử dụng đàn Tranh và đàn Kìm. Thập niêm 1935-1942, nhiều nhạc sư nhạc sĩ đàn Tranh rất giỏi và hay như: Thầy Mười Tân, Sáu Hóa, Sáu Tý, Năm Tồn, Bảy Phải (Cần thơ), Năm Nghĩa (Trà ôn), Sáu Nguơn, Bảy Yên (Sađéc), Ba Hạt (Caolãnh), Mười Lăng (Cần đước) …. nhưng sáng giá nhứt là đàn Tranh của Sáu Quí về Vọng cổ nhịp 16. Tiếng đàn ẻo lả, khêu gợi, mùi mẫn của anh, khiến cho nhiều nam nữ ca sĩ thích ca có anh đàn Tranh.
Sau đây là số Vọng cổ trong ấy anh độc tấu đàn Tranh hoặc song tấu với nhạc sĩ khác:
Sáu Hướng (Caolãnh) ca
Sáu Quí (Tranh)
Mười Còn (violon)
Xanh Xía ca
Sáu Quí (độc tấu Tranh)
Cô Bích Liên ca
Sáu Quí (Tranh)
Mười Còn (violon)
Ba Khuê ca
Sáu Quí (Tranh)
Năm Thọ (đàn Cò)
Cô Thể Hà ca
Sáu Quí (Tranh)
Mười Còn (violon)
Cô Ba Được ca
Sáu Quí (Tranh)
Năm Thọ (đàn Cò)
Ba Tuất ca
Sáu Quí (độc tấu Tranh)
Cô Ba Bến tre ca
Sáu Quí (độc tấu Tranh) ……
Anh qua đời khoảng tuổi ngoài bốn mươi.
Hà Văn Tân(Chín Trích)
Thân phụ của nghệ sĩ Tú Trinh.
Cái tên Chín Trích thì giới mộ điệu biết nhiều hơn cái tên Hà Văn Tân. Tại sao là Chín Trích?
Ông học đàn Cò với ông thầy Quốc. Đi đàn đâu thì ông cũng xách đàn tò tò đi theo, nên người ta gán cho ông cái tên là Trích. Thành tên Quốc, trò tên Trích, (Quốc và Trích là hai con chim ở ruộng ăn lúa).
Đàn Cò ông kéo cung ngắn. Lối đàn mẫu mực mùi mẫn, thỉnh thoảng buông cung sầu thế hệ làm cho người nghe cảm thấy buồn đến rơi lệ. Ông chuyên đàn cho gánh hát cải lương, Đài Phát Thanh và vô dĩa nhựa.
Dương văn Cơ (Năm Cơ)
Sanh năm 1919 tại làng Ngũ Lạc (Trà vinh), nghiện á-phiện, sử dụng đàn Kìm, Xến, Guitare lõm phím
Khoảng những năm 1948-1950 ông cùng thầy là Sáu Lắc đầu quân cho nhà thuốc Cao Đơn Hoàn Tán Đại Từ Bi ở đường Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu). Nhiệm vụ của hai ông là đàn để quảng cáo bán thuốc. Lối đàn của ông xôm và rộn rã. Năm Cơ và Văn Vĩ, cả hai nghiện á-phiện, là cặp bài trùng, hòa đàn rất ăn ý với nhau, nơi nào có Cơ là có Vĩ. “Cơ” tiếng Pháp là “queue” nghĩa là cái đuôi; còn “Vỉ”, chữ Hán dịch ra tiếng Việt cũng là “đuôi”. Duyên tiền định, hai cái “đuôi” gặp nhau trong lỉnh vực âm nhạc.
Xuyên qua Đài Phát Thanh trong dĩa nhựa, khi nghe hai người này cùng hòa đàn với nhau thì người nghe cảm thấy rất khoái trá và hồi hộp, lo sợ không biết tay nào sẽ quật ngã tay nào, vì cả hai đều chủ trương đàn mắc mỏ. Vọng Cổ “Thư Về Quê Mẹ”, Thành Được ca, “Lan và Điệp” nữ ca sĩ Út Bạch Lan ca (Băng Nam Bình II), có thể ví như tấm thảm xanh đủ màu đủ vẻ với tiếng đàn Xến sáng giá của Năm Cơ, tiếng đàn Tranh bay bướm óng chuốt của Bảy Bá (nghiện á-phiện và tự cai lấy), tiếng đàn Guitare sâu sắc chín chữ và ngọt ngào của Văn Vĩ, đưa cho người nghe thấy rằng bạn vàng gặp bạn vàng.
Cộng tác với nhiều Đoàn Hát như Hoa Sen, Kim Chung,
Bầu Thắng (Hát Bội), Ban Cổ Nhạc Đồng Nai (Đài Phát Thanh Sàigòn), Ban Hoa tình thương -Thành Công - (Đài tiếng nói Quân đội), đàn thu dỉa Hống Hoa, Việt Hải, …..
Ông phục vụ nghệ thuật cho đến hơi thở cuối cùng. Ngày hôm trước đàn cho Đài Phát Thanh, sau đó hẹn 9 giờ sáng ngày hôm sau quay trở lại đàn tiếp, nhưng ngày hôm sau, anh em trên đài đợi mãi không thấy ông đến, bèn cho người đến gặp ông thì mới hay là ông đã tắt thở trước 9 giờ sáng!.
Văn Vĩ
Tên thật là Đinh văn Dậm, sanh năm 1928 tại làng Bình Đăng, Quận Cần đước. Cha là Lính Tây, thổi Kèn Tây nên người ta gọi là Cai Kèn. Văn Vĩ chơi đàn Cò khi lên 7 tuổi. Khiếm thị khi lên 3 uổi sau cơn bịnh ban trắng. Năm 11 tuổi học đàn với thầy bảy Thùa ở Thủ Thiêm. Sở trường đàn Guitare lõm phím. Sử dụng Kìm, Xến, Tam, Tranh, violon, ống Tiêu. Năm 1953 cộng tác với Ban Cửu Long Đài Phát Thanh Sàigòn, Ban “Hoa Tình Thương” Đài Tiếng Nói Quân Đội, đàn gánh Hát Bội Bầu Thắng, Tấn thành Ban, Kim Chung A, các Hãng dĩa nhựa Hống Hoa, Việt Hải,
Tiếp xúc với một số nhạc sĩ khiếm thị, chẳng hạn như: Sáu Khỏe, Duy Trì, Văn Vĩ, tôi nhận thấy ông nào cũng có lối đàn mắc mỏ rất tài tình, gây khó khăn cho người khác.
Năm 1965, tôi nhờ Bác sĩ Phạm kim Tương cai giùm cho ông. Từ giã nàng Tiên nâu, Văn Vĩ quay sang nhậu, và qua đời ở tuổi chưa tới 70.
Năm 1970, theo lời mời của Trung Tâm Văn Hóa Đức (Centre Culturel Allemand), 120 đường Nguyển đình Chiểu Sàigòn, tôi tổ chức buổi nói chuyện về nhạc Tài tử Nam bộ bằng tiếng Pháp. Giàn nhạc, tôi huy động 12 nhạc sĩ, toàn là dân gạo cội. Vì muốn chứng minh cho thấy 2 nhạc khí Guitare và violon có thể dùng đàn bản Việt, nên tôi xếp cho nhạc sĩ Hai Thơm đàn violon, Văn Vĩ Guitare song tấu 6 câu Vọng cổ. Bởi Văn Vĩ ca rất mùi nên tôi yêu cầu Văn Vĩ vừa đàn vừa ca “Đời tôi không ánh sáng” lời ca do soạn giả Viễn Châu soạn.
Khi mãn cuộc, Văn Vĩ nói có người bảo với anh ta rằng trong khi anh ca, có một số thính giá Việt nam lấy khăn lau nước mắt. Tôi nói cho Văn Vĩ biết là trước khi anh ca, tôi đã có giải thích cho thính giả biết qua lời ca là nói lên tâm sự của một nhạc sĩ trước đây có yêu một người, hai bên giao hẹn sẽ cùng sống bên nhau, Nhưng chẳng may sau một cơn bịnh trái trắng, người nhạc sĩ bị mất đi ánh sáng, thế là người yêu ngoảnh mặt, ôm cầm sang thuyền khác. Buồn tình, nhạc sĩ ôm đàn đi đàn dạo. Hôm ấy nhà nọ đang tổ chức lễ cưới cho con gái, cho người ra mời Văn Vĩ vào đàn giúp vui. Vào nhà, Văn Vĩ đánh hơi biết đây lễ cưới của người yêu trước đây của mình, nên chọn lời ca Đời tôi không ánh sáng. Rất có thể một số thính giả nghĩ rằng Văn Vĩ là người trong cuộc.
BĂNG NAM BÌNH I và II.
Năm 1969, Nguyễn công Bình và Nguyễn vĩnh Bảo phát hành băng NAM BINH I và II “Tiếng đàn Tranh” với sự cộng tác của 12 nhạc sĩ và 2 ca sĩ:
1. Huỳnh văn Sâm (Sáu Tửng)
2. Hà văn Tân (Chín Trích),
3. Vò văn Tiềng (Mười Tiếng(
4. Năm Vĩnh,
5. Hai Thơm,
6. Hồng tấn Phát (Hai Phát,
7. Dương văn Cơ (Năm Cơ)
8. Trương văn Bảy (Bảy Bá),
9. Đinh văn Dậm (Văn Vĩ),
10. Ngô nhật Thanh,
11. Nguyển đình Nghỉa,
12. Nguyễn vĩnh Bảo
13. Cô Út Bạch Lan,
14. Thành Được.
Trong 2 cuồn Băng nói trên, 9 nhạc sĩ đã qui thiên, còn lại Cô Út Bạch Lan, Thành Được, nhạc sĩ Năm Vỉnh, Bảy Bá và Vĩnh Bảo.
“Người nghệ sĩ có sứ mạng thiêng liêng làm ấm lại những tâm hồn giá lạnh, và đôi lúc cũng khóc thầm trong khi mọi người xung quanh cười”.
Nay xin thắp nén hương gọi là tấc lòng tưởng nhớ đến những nghệ nhân một thời vang bóng, đã từ lâu trở về với cát bụi, yên giấc nghìn thu trong quên lãng của người đời….”
Sàigòn, 24-04-2008 - VĨNH BẢO