Ba Cốt Truyện Mà NS Cải Lương Phải Học Thuộc Lòng
Nhà văn Ngô Tỵ kiêm cố vấn đạo diễn kể chuyện còn hay hơn ông viết truyện. Người nghe riết phát ghiền, có thể ngồi nghe ông rỉ rả suốt ngày suốt đêm. Giờ thì đã 25 năm, ba cốt truyện: Bá Nha Tử Kỳ, Những Người Nói Xấu, Khi Vua Đòi Nghe Nhạc do nhà văn Ngô Tỵ kể tôi vẫn còn nhớ rõ, không quên một đoạn, một câu văn. Tôi xin ghi lại nơi đây, kính mời bạn đọc thưởng thức ba cốt truyện mà giới Cải Lương phải học thuộc lòng từ khi bước chân lên sân khấu.
1. Bá Nha Tử Kỳ
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, tại Kinh Đô nước Sở (nay thuộc về phủ Kinh Châu, tỉnh Hồ Quảng) có một người danh sĩ họ Du tên Thụy, hiệu Bá Nha. Bá Nha tuy người nước Sở nhưng lại làm quan nước Tấn đến cấp Thượng Đại Phu. Tấn và Sở thời đó hai nước giao hảo nhau. Một hôm Bá Nha phụng mệnh vua Tấn sang nước Sở để gắn liền sợi giây thân hữu giữa hai nước cho bền vững thêm. Bá Nha được vua Sở trọng đãi, truyền bày yến tiệc đãi đằng rất hậu.
Tuy nhiên, Bá Nha không lấy thế làm vui, vì đã bao năm xa cách đất tổ quê hương, nay lại được trở về, tấm lòng nhớ nhung những kỷ niệm thân yêu xa xưa lâng lâng vào tâm não. Từ mái gia đình tới những cây tòng, cây bá, mới ngày nào mà nay đã vừa một người ôm, cái định luật biến chuyển không ngừng, đã phủ một màu tang trên dòng đời xa cũ. Sau yến tiệc, Bá Nha đi thăm viếng mộ phần, họ hàng, bạn bè, tấm lòng quyến luyến quê hương càng thấy thiết tha hơn lúc nào hết. Nhưng vì nhiệm vụ chưa thành, Bá Nha không dám vì thế mà lưu lại nơi đất tổ, phải đành vào triều để từ giã quốc vương trở về nước Tấn. Vua Sở ban khen rất nhiều tiền bạc, lụa là, gấm vóc, và truyền đem một chiếc thuyền rất lớn để đưa Bá Nha về nước.
Bá Nha là một khách phong lưu, lỗi lạc, trong tâm hồn chứa đựng một nguồn tình cảm thanh cao, coi cảnh vật thiên nhiên như một món ăn tinh thần. Một hôm, thuyền đến cửa sông Hán Dương, gặp lúc trăng thu vằng vặc, trời rộng sao thưa, Bá Nha truyền cắm thuyền dưới chân núi để vui với cảnh đẹp hải hồ. Mặt nước sông lúc bấy giờ trong vắt như miếng thủy tinh, gió lộng trăng tràn bập bềnh sóng vỗ. Bá Nha truyền cho đồng tử đốt lư trầm và lấy túi đàn đặt lên trước án.
Bá Nha mở túi gấm, nâng cây Dao Cầm đặt ngay ngắn rồi thử dây. Hơi trầm quyện gió, réo rắc đưa tiếng đàn vút tận trên không. Trong lúc đàn hứng thú, bỗng tơ đồng đứt một dây, Bá Nha thất kinh tự nghĩ: “Dây đàn đứt ắt có người quân tử đang nghe đâu đây?” Bèn truyền tả hữu lên bờ, thì từ bên trên có tiếng người nói vọng xuống:
- Xin Đại nhân chớ lấy làm lạ, vì kẻ tiểu nhân kiếm củi về muộn, đi ngang qua nghe tiếng đàn tuyệt diệu nên chân bước không đành đó thôi.
Bá Nha vừa cười vừa nói:
- Người tiều phu nào mà lại dám nói chuyện nghe đờn trước mặt ta, thật là kẻ cuồng vọng. Nhưng thôi, hãy cho hắn đi!
Từ bên trên lại có tiếng vọng xuống đáp:
- Đại nhân nói như thế là sai! Đại nhân nghe câu: “Thập thất chi ấp, tất hữu trung tín” đó sao? (Trong cái ấp mười nhà ắt có một người trung tín). Trong nhà có người quân tử thì ở ngoài cửa có người quân tử đến. Vả lại nếu Đại nhân khinh rằng trong chốn núi non quê mùa không có người biết nghe nhạc, thì tiếng đàn tuyệt diệu của Đại nhân cũng không nên gảy lên ở đây làm gì?
Nghe câu trả lời ấy Bá Nha hơi ngượng, biết mình đã lỡ lời, liền vội vã bước ra mũi thuyền hỏi:
- Nếu kẻ trên bờ quả thật là người biết nghe đờn thì đây ta hỏi thử, vậy chứ ta vừa khảy khúc gì đó?
Tiếng trên bờ vẫn bình thản vọng xuống:
- Đó là khúc “Khổng Vọng Vi” than cái chết của Nhan Hồi, nhưng vì bị đứt dây nên mất một câu chót. Khúc ấy như vầy:
Khá tiếc Nhan Hồi sớm mạng vong
Tóc sương rèn đúc lấy nhân tâm!
Đan, biểu ngõ hẹp vui cùng đạo,
Còn khúc chót như vầy:
Danh tiếng lưu truyền vạn cổ niên.
Bá Nha nghe xong lòng mình phấn chấn, vội vã sai kể tùy tùng bắc cầu lên bờ để triệu thỉnh người lạ xuống thuyền tâm sự. Bọn đầy tớ tuân lệnh, song bọn này là những đứa phàm tục, những con mắt thịt ấy đâu phân biệt được kẻ quý người hiền, chúng quen thói xua bợ, hễ thấy người sang trọng thì thưa bẩm, thấy kẻ nghèo khó thì khinh, thấy chủ mình sai đòi một người tiều phu nón lá, áo vải, tay cầm đòn gánh, lưng giắt búa cùn, chân đi giầy cỏ, chúng lên mặt hống hách, nạt nộ:
- Hãy đi xuống thuyền ngay! Và phải giữ lễ. Hễ thấy lão gia phải sụp lạy, lão gia có hỏi gì thì phải lựa lời mà nói kẻo mất đầu đó!
Người tiều phu vẫn thản nhiên như không nghe lời nói của chúng, từ từ bước xuống thuyền, bỏ đòn gánh và chiếc búa cùn nơi mũi thuyền, rồi bước vào yết kiến Bá Nha.
Trông thấy Bá Nha, người tiều phu chỉ xá dài mà không lạy.
Bá Nha thấy thế cũng ngạc nhiên, song cũng đưa tay chào đón, nói:
- Thôi, xin quý hữu miễn lễ cho.
Rồi như muốn thử tài năng người tiều phu xem thực chất tới đâu, Bá Nha sai đồng tử nhắc ghế mời người tiều phu ngồi lại bên mình và hỏi:
- Hiền hữu biết nghe đờn chắc là biết ai chế ra cây Dao Cầm, và biết chơi đàn có những thú gì chứ?
Gã tiều phu cười đáp:
- Đại nhân đã hỏi đến, chẳng lẽ tiểu dân không nói ra những cái mình biết. Xưa kia vua Phục Hy thấy có năm sắc rơi xuống cụm ngô đồng, và chim Phượng Hoàng đến đó đậu, nhà vua biết ngô đồng là thứ gỗ quý, hấp thụ tinh hoa của trời đất, có thể dùng nó chế làm nhạc khí được, liền sai người hạ xuống cắt làm ba đoạn. Đoạn ngọn tiếng quá trong và nhẹ, đoạn gốc tiếng đục và nặng, chỉ có đoạn giữa tiếng vừa trong vừa đục, có thể dùng được.
Vua bèn đem ngâm giữa dòng nước chảy đúng 72 ngày, đoạn đem phơi trong mát chờ cho thật khô, lựa tay thợ khéo chế thành cây Dao Cầm. Dao Cầm dài 3 thước, 6 tấc, 1 phân, án theo 361 độ chu thiên, mặt trước rộng 8 tấc, án theo 8 tiết; mặt sau rộng 4 tấc, án theo 4 mùa, bề dầy 2 tấc, án theo lưỡng nghi.
Đàn ấy gồm 12 phím, tượng trưng cho 12 tháng trong một năm, lại có một phím nữa, tượng trưng cho tháng nhuần, trên mắc 5 dây án theo ngũ hành, trong tượng trưng cho ngũ âm: cung, thương, dốc, vũ, thủy. Trước kia, vua Thuấn khảy đàn ngũ huyền, thiên hạ thái bình. Châu Văn Vương ở tù, Vũ Lý Bá Ấp Khảo thương nhớ, thêm một dây oán gọi là dây văn huyền (dây văn). Lúc Vũ Vương đánh vua Trụ, trước ca, sau múa thêm một dây phẩn kích để phấn khởi gọi là dây vũ huyền (dây vũ). Như vậy trước có 5 dây, sau thêm 2 dây nữa là thất huyền cầm.
Đàn ấy có 6 ”kỵ” và 7 ”không”. Sáu ”kỵ” là: kỵ rét lớn, nắng lớn, gió lớn, tuyết rơi lớn, gặp lúc ấy người ta không dùng; còn bảy ”không” là: không đàn đám tang, không đàn trong lúc nhiễu loạn, không đàn trong lúc bận rộn, không đàn trong lúc thân thể không trong sạch, không đàn trong lúc y phục không tề chỉnh, không đàn trong lúc không đốt lò hương, không đàn trong lúc không gặp tri âm.
Lại còn có thêm 8 ”tuyệt” là: thanh, kỳ, u, nhã, li, tráng, lu, trường. Trong 8 tuyệt ấy gợi đủ cả các tình cảm, vì vậy tiếng đàn có thể đi đến tuyệt vời vậy.
Bá Nha nghe nói biết người tiều phu là bậc kỳ tài, đem lòng kính trọng hỏi:
- Hiền hữu quả là một người tinh thông nhạc lý. Trước kia Khổng Tử đang gảy đờn, Nhan Hồi bước vào chợt nghe có tiếng u trầm, biết lòng Khổng Tử có ý tham sát, nên lấy làm lạ hỏi ra mới biết Khổng Tử đang đờn thấy con mèo bắt chuột nên ý niệm ấy xuất lộ ra tiếng tơ đồng. Vậy thì trước kia Nhan Hồi nghe tiếng đờn mà biết lòng người, còn hiền hữu ngày nay nghe ta đờn có biết lòng ta đang tư lự gì chăng?
Người tiều phu đáp:
- Xin Đại nhân cứ khảy cho tôi nghe một khúc, nếu may ra có cảm thông được thì đó cũng là điều may mắn.
Bá Nha nối dây đờn, gảy khúc ”Ý tại non cao”.
Tiều phu mỉm cười nói:
- Tuyệt thay! Ý cao vút! ”Ý tại non cao”…
Bá Nha nghe nói ngưng đàn, lấy lại tâm hồn khảy thêm khúc: ”Ý tại lưu thủy”.
Tiều phu cùng cười, và nói:
- Bao la trời nước, thật là một khúc: ”Ý tại lưu thủy”! Tuyệt hay!
Thấy tiều phu biết rõ lòng mình, Bá Nha hết hồn, khâm phục vô cùng, mời người tiều phu ngồi lên trên, rồi bày tiệc rượu hai người đối ẩm.
Trong lúc uống rượu, Bá Nha cung kính, chắp tay hỏi:
- Dám hỏi tiên sinh, quý danh và quê quán?
Người tiều phu cũng đứng lên đáp lễ, rồi nói:
- Tiểu dân họ Chung tên Tử Kỳ ngụ tại thôn Tập Hiền gần núi Mã Yên. Còn Đại nhân chẳng hay cao danh, quí tánh, và hiện trấn nhậm nơi nào?
Bá Nha kính cẩn đáp:
- Tiện quan họ Du tên Thụy, tự Bá Nha, nhân vì có việc công vụ nên đến nơi này. Xét mình tài hèn đức thiếu không xứng đáng với lộc nước ơn vua, còn tiên sinh tài năng xuất chúng, học vấn cao siêu, lẽ ra phải xuất thân đoạt lấy công danh, phò vua giúp nước, lưu danh muôn thuở sao tiên sinh lại cam ẩn dật nơi chôn núi non này mà làm chi?
Tử Kỳ nói:
- Tôi còn cha mẹ già, không anh em, phận làm con phải lo đền chữ hiếu, dẫu cho công hầu bá tước cũng không thể đổi lấy một ngày hiếu dưỡng của tôi được.
- À! Ra tiên sinh là người chí hiếu, trong đời khó có ai mà sánh kịp như vậy. Chẳng hay tiên sinh năm nay được bao nhiêu tuổi?
Tử Kỳ đáp:
- Tiểu dân hai mươi bảy tuổi.
Bá Nha vồn vả nói:
- Tiện quan hơn tiên sinh một tuần (10 tuổi), nếu tiên sinh không chê đức mọn tài hèn thì xin kết làm anh em để khỏi phụ cái nghĩa tri âm mà đời tôi chưa từng được gặp.
Tử Kỳ khiêm nhượng đáp:
- Thưa Đại nhân, Đại nhân là bậc công khanh thượng quốc, còn tôi là kẻ áo vải quê mùa, năm tháng vào ra nơi thâm sơn cùng cốc, đâu dám cùng đi với đại quan so vai, kết bạn, xin đại quan miễn cho.
Bá Nha nghe Tử Kỳ nói như vậy, lòng bồi hồi mặt buồn rười rượi nài nỉ:
- Giá trị con người không phải ở chỗ giàu sang phú quí, mà là chỗ đức hạnh tài năng, nay nếu tiên sinh chịu nhận làm anh em với tôi thì thực là vạn hạnh, còn như giàu nghèo, sang hèn, chúng ta không nên nói tới.
Nói xong Bá Nha sai kẻ tả hữu đốt lại lò hương, rồi cùng Tử Kỳ lạy 8 lạy, nhận nhau làm anh em khác họ. Bá Nha lớn tuổi hơn làm anh. Hai người vui vẻ ngồi kề nhau uống rượu. Nỗi lòng tâm sự của một khách phong trần với người chung đỉnh được hoàn toàn cởi mở vượt qua những cái gì giả dối đê hèn của cuộc sống loài người, để trở lại với cái thiện chân thuần túy.
Hai người trò chuyện mãi mà không biết chán, đến khi ánh trăng đã lạt màu, sao trên trời chỉ còn sót lại một vài đốm trắng, tiếng gà eo óc đầu thôn giục bóng bình minh, hai người vẫn còn như đắm say trong tình giao cảm, quên hẳn cả thời gian.
Khi tên thủy thủ đến gần xin lệnh cho thuyền lên đường, Tử Kỳ đứng dậy cáo biệt. Bá Nha giọng run run, nhìn Tử Kỳ nói:
- Lòng tôi quá cảm mộ, chưa nỡ rời hiền đệ, vậy mời hiền đệ cùng đi với tôi qua một đoạn đường, để du sơn thủy và trò chuyện cùng nhau cho cạn mối tâm tình.
Tử Kỳ bùi ngùi đáp:
- Lẽ ra tiểu đệ đưa hiền huynh vài dặm mới phải ngặt vì cha mẹ của tiểu đệ ở nhà đang trông, xin hiền huynh thứ lỗi.
Bá Nha nói:
- Vậy thì hiền đệ về nhà xin với song đường qua Tấn Dương thăm chơi chắc Bá phụ và Bá mẫu cũng không nỡ từ chối.
Tử Kỳ nói với giọng luyến tiếc:
- Tiểu đệ không dám phụ lời hiền huynh, song việc này không dám hứa chắc, vì vạn nhất, nếu tiểu đệ không xin phép được cha mẹ thì thành ra thất hứa với hiền huynh, ấy là tội của tiểu đệ rất lớn!
Cảm lòng hiếu thảo của Tử Kỳ, Bá Nha nói:
- Hiền đệ thực là một bậc quân tử, nếu vậy thì thôi để tôi sẽ tìm cách đến thăm hiền đệ.
Tử Kỳ hỏi:
- Bao giờ hiền huynh sẽ ghé lại thăm tiểu đệ?
Bá Nha tính đốt tay một lúc rồi nói:
- Sang năm, cũng đúng ngày và giờ này.
Tử Kỳ nói:
- Nếu vậy thì sang năm cũng đúng vào ngày này tiểu đệ xin đợi hiền huynh nơi gành đá.
Tử Kỳ nói xong, toan cáo biệt, Bá Nha giữ lại, và nói:
- Khoan, hiền đệ thư thả một chút.
Dứt lời, Bá Nha quay lại sai đồng tử lấy ra hai nén vàng, rồi hai tay nâng cao lên trước mặt nói:
- Đây là món lễ mọn của ngu huynh làm quà cho Bá phụ và Bá mẫu, tấm tình cốt nhục, hiền đệ chớ nên chối từ.
Cảm tình tri ngộ, Tử Kỳ không dám từ chối, nghẹn ngào cầm hai nén vàng, lệ tràn khóe mắt, bùi ngùi ra đi. Bá Nha tiễn đến đầu thuyền nắm tay Tử Kỳ không nỡ rời…
Xưa nay có cuộc chia ly nào mà không ngậm ngùi giữa kẻ ở, người đi, huống chi tình bạn tâm giao, nỗi lòng chưa cạn, Bá Nha cứ nhìn theo, nhìn mãi cho đến lúc Tử Kỳ đi khuất mới cho nhổ neo.
Dọc đường Bá Nha lâng lâng tiếc nhớ, đăm đăm đôi mắt hướng vế một phương trời, nên mặc dầu trời trong gió mát, cảnh đẹp muôn vàn mà đối với Bá Nha lúc ấy như thờ ơ lạnh nhạt. Về tới Kinh Đô, Bá Nha vào yết kiến vua Tấn để nhận lấy những lời ngợi khen của nhà vua.
Thời gian lặng lẽ trôi qua như một giòng sông êm ả. Mới ngày nào gió thu rào rạc tiếng sáo biệt ly còn văng vẳng bên tai, thế mà thấm thoát đã một năm qua; ngọn gió heo may từ miền bắc thổi về báo hiệu một mùa thu nữa lại đến.
Bá Nha nhớ lại ngày mình ước hẹn vội vã vào triều xin vua Tấn cho nghỉ phép về nước Sở thăm quê nhà. Vua Tấn nhận lời. Bá Nha sửa soạn cây đờn, đem theo vài tên đồng tử rồi lặng lẽ xuống thuyền ra đi. Khi đến Hán Dương, mặt trời đã ngã bóng xuống lòng sông, khói sóng dâng lên nghi ngút. Người thủy thủ vào báo cho Bá Nha biết thuyền đã đến núi Mã Yên. Bá Nha lập tức đứng ra mũi thuyền xem cùng tứ phía, nhận ra nơi đây quả là nơi đã gặp Tử Kỳ năm trước.
Sau khi hạ lệnh cắm thuyền, Bá Nha vẫn đứng trông về phía núi Mã Yên, đỉnh núí cao hun hút, mịt mờ trong làn sương xám của hoàng hôn gợi lên một cái gì xa vắng. Bá Nha nghĩ bụng:
- Năm ngoái vì tiếng đàn mà gặp được người tri âm, năm nay ta đờn một khúc nhạc nữa hẳn Tử Kỳ nghe phải lần đến.
Tối hôm ấy, Bá Nha sai tiểu đồng lấy cây Dao Cầm ra, đốt lò hương vặn phím, đem hết tinh thần nhớ nhung xây thành một khúc tâm tư. Khi đang đờn bỗng thấy trong tiếng đờn mình có hơi ai oán nổi lên. Bá Nha kinh sợ, dừng tay lại, suy nghĩ: “Cung thương có tiếng ai oán thê thảm như thế, hẳn Tử Kỳ gặp nạn lớn rồi. Sáng mai ta phải lên bờ dò hỏi mới được”.
Đêm ấy, Bá Nha nằm thổn thức với ngọn đèn mờ, suốt đêm không chợp mắt, nỗi lòng nhớ nhung bồi hồi rào rạt dâng lên như nhịp sóng trầm trầm bất tận của mặt tràng giang.
Trời chưa sáng, Bá Nha đã truyền cho đồng tử theo mình lên bờ, đem theo cây đàn và mười thẻ vàng, nhắm chân núi Mã Yên thẳng tới. Ra khỏi triền núi, hai bên cây cối um tùm, và có mấy con đường băng ngang rất lớn; Bá Nha không biết đi con đường nào, bèn ngồi nghỉ chân nơi một tảng đá, đợi có người nào đi qua sẽ hỏi thăm. Một lúc sau, có một ông lão tay xách giỏ mây, tay cầm gậy trúc xăm xăm đi tới. Bá Nha cúi mình thi lễ. Ông già thấy thế hỏi:
- Tiên sinh có điều gì cần hỏi han chăng?
Bá Nha cung kính đáp:
- Thưa lão trượng, trong mấy con đường này, đường nào về Tập Hiền thôn?
Ông già đáp:
- Cả hai con đường, đường nào cũng về Tập Hiền thôn cả. Con đường tay phải về Tập Hiền thôn thượng, con đường tay trái về Tập Hiền thôn hạ, vậy tiểu sinh cần đến thôn nào?
Bá Nha hỏi:
- Thưa lão trượng, Chung Tử Kỳ ở về thôn nào?
Vừa nghe nhắc đến ba tiếng Chung Tử Kỳ, ông già kia bỗng sa sầm nét mặt, đôi mắt sâu ngòm đong đầy cả lệ, thứ nước mắt đặc và mặn chầm chậm tràn ra trên đôi má nhăn nheo, ông ta sụt sùi kể:
- Chung Tử Kỳ chính là con của lão. Năm ngoái cũng vào ngày này tháng này nó đi đốn củi về muộn có gặp một người nước Tấn là Bá Nha tiên sinh. Vì chỗ đồng thanh tương ứng hai người kết nghĩa anh em. Lúc ra đi, Bá Nha tiên sinh có tặng cho con tôi hai nén vàng; con tôi về nhà dùng tiền ấy mua sách đọc, bất kể giờ khắc. Vì ban ngày đốn củi mệt nhọc, tối đến lại lo học hành nên chẳng bao lâu bị bệnh lao mà qua đời rồi.
Chưa kịp nghe ông già nói hết câu, đôi dòng nước mắt của Bá Nha đầm đìa trào ra như hai dòng suối, Bá Nha nghẹn ngào không nói được nửa lời. Chung lão thấy thế làm lạ hỏi tên tiểu đồng:
- Tiên sinh đây là ai?
Tiểu đồng đáp:
- Thưa lão trượng, đây là quan Thượng Đại Phu nước Tấn, Du Bá Nha!
Chung lão nghe nói thốt ra hai tiếng “trời ơi!” rồi cũng nghẹn ngào không nói gì được nữa. Cả hai người chỉ nhìn nhau, và thông cảm nhau bằng những dòng nước mắt, hai thứ nước mắt khác nhau nhưng chảy cùng một nhịp đau đớn như nhau. Cuối cùng, Chung lão gượng gạo thi lễ và nói:
- Mong ơn Đại nhân không chê cảnh nghèo nàn. Con lão lúc lâm chung có dặn, vì lúc sống không tròn được đạo làm con, lúc chết xin chôn nơi chân núi Mã Yên để trọn nghĩa tâm giao với lời ước hẹn cùng quan Đại phu nước Tấn. Vì thế theo lời trăn trối, lão đã đem chôn nó nơi bên ven đường ở chân núi. Con đường tiên sinh đi đến, bên mặt có nấm đất nhỏ, đó là ngôi mộ của con tôi. Nay mới vừa đúng một trăm ngày, lão mang vàng hương đến thăm mộ, mới gặp tiên sinh ở đây.
Bá Nha lau nước mắt nói:
- Sự đời biến đổi, may rủi khó lường, nay đến nỗi này, tôi xin theo lão trượng đến trước mộ phần, để lạy vài lạy cho thỏa tình mong nhớ.
Nói xong, Bá Nha sai tiểu đồng xách giỏ cho Chung lão, rồi cùng nhau kẻ trước người sau, trở lại nơi chân núi.
Khi đến nơi, Bá Nha thấy nấm đất bên đường cỏ xanh chưa phủ kín, lòng gợi lên một mối thê lương. Bá Nha vừa khóc vừa lạy, tuy miệng không nói được nửa lời mà trong lòng như đã nói tất cả nỗi hờn biệt ly. Lạy xong, Bá Nha truyền đem cây đờn đến rồi ngồi trên một tảng đá tấu lên một khúc nhạc “thiên thu trường hận”. Bỗng thấy gió ngàn rít mạnh, ánh sáng u buồn, mấy tiếng chim kêu u uất vọng lên từ xa như những hồn ma bóng quế dật dờ khi say khi tỉnh. Bản nhạc ngưng, gió ngừng thổi, trời lại sáng dần. Bá Nha nói với Chung lão:
- Có lẽ hồn Tử Kỳ đã hiện về đó! Chẳng hay lão bá có biết cháu đờn khúc nhạc gì không?
Chung lão đáp:
- Lúc nhỏ cũng biết chút ít về cầm kỳ, nhưng nay tuổi đã già, tâm thần hỗn loạn không có thể phân định được khúc gì.
Bá Nha nói:
- Cháu vừa đờn khúc đoản ca để viếng người tri âm, tài hoa mệnh yểu. Cháu xin đọc thành lời văn để lão bá nghe:
Nhớ từ thuở mùa thu năm ngoái,
Trên tràng giang gặp bạn cố nhân.
Năm nay lại đến Giang Tân
Dòng sông lạnh ngắt cố nhân đâu rồi!
Buồn chỉ thấy nấm mồ bên núi,
Cõi ngàn năm chia cách đau lòng.
Ôi! Thương tâm! Ôi! Thương tâm!
Sụt sùi lai láng bao dòng lệ rơi!
Mây sầu lấp loáng chân trời,
Đêm vui đổi lấy một đời khổ đau.
Tử Kỳ, Tử Kỳ đâu!
Ngàn vàng không chuộc được bầu tâm giao,
Thôi từ đây, với phím đàn,
Ngàn thu thôi hết mơ màng cố nhân.
Đọc xong, Bá Nha hai tay cầm cây đàn đưa lên cao đập mạnh xuống tảng đá. Cây đàn vỡ ra từng mảnh, trục ngọc, phím đồng rời rã tơi bời.
Chung lão khiếp đảm hỏi:
- Sao tiên sinh giận gì mà lại đập cây đàn đi vậy?
Bá Nha đọc luôn mấy câu thơ để đáp lời ông lão:
Dao Cầm đập nát đau lòng phượng,
Đã vắng Tử Kỳ đàn với ai?
Gió xuân bốn mặt, bao bè bạn
Muốn tìm tri âm, thật khó thay!
Chung lão thở dài nói:
- Chỉ vì không có người biết nghe mà kẻ đờn hay phải đành thất vọng!
Bá Nha hỏi:
- Lão bá ở thôn Tập Hiền nào?
Chung lão đáp:
- Tệ xá ở nơi thôn Tập Hiền thượng, vậy mời Đại nhân, nếu không chê nghèo nàn, xin đến đó nghỉ ngơi.
Bá Nha nói:
- Hạ quan xin cám ơn lão bá, nay nếu hạ quan có trở về đó cũng chỉ gợi thêm nhiều nỗi nhớ thương mà thôi. Nhân dịp hạ nhân có đem theo mười nén vàng, xin dâng cho lão bá dùng một nửa trong việc cung dưỡng tuổi già, còn một nửa mua mấy mẫu ruộng để làm tự cho Tử Kỳ. Mai hạ quan về triều làm đơn xin từ chức trở về quê cũ, chừng ấy hạ quan sẽ rước Bá phụ, Bá mẫu về sống chung để yên hưởng những ngày tàn. Tôi tức là Tử Kỳ và Tử Kỳ cũng tức là tôi vậy.
Nói xong Bá Nha hai tay dâng mười nén vàng cho Chung lão, sụp xuống đất lạy mấy lạy rồi ra đi. Chung lão đứng nhìn theo, lòng bùi ngùi luyến thương…
2. Những Kẻ Nói Xấu
Giang Ất ghét Chiêu Hồ Tuất nên tâu cùng vua Sở:
- Một người có một con chó khéo giữ nhà nên cưng nó. Con chó ấy một hôm phóng uế vào nhà người hàng xóm. Người hàng xóm tức giận muốn vào bảo chủ nó nhưng con chó cứ đứng giữ cửa mà sủa nên người hàng xóm không vào được.
Vua Sở hỏi:
- Ông muốn nó cái gì, và nói ai?
Giang Ất tâu:
- Chiếm được Đại Lương, Chiêu Hồ Tuất lấy được khá nhiều báu vật của nước Ngụy. Lúc đó thần ở Ngụy nên biết rõ. Chính vì thế mà Chiêu Hồ Tuất không muốn thần gặp Đại vương.
Vua Sở làm thinh, Giang Ất hỏi:
- Có người thích nói cái tốt của người khác, Đại vương cho đó là hạng người nào?
Nhà vua đáp:
- Đó là hạng quân tử nên cẩn thận.
Giang Ất lại hỏi:
- Có người ưa vạch cái xấu của người khác, Đại vương cho đó là hạng người nào?
Nhà vua đáp:
- Đó là hạng tiểu nhân, ta nên tránh.
Giang Ất bảo:
- Đại vương có biết người dưới mà kết đảng thì người trên nguy, người dưới mà chia rẽ người trên an?
Vua Sở đáp:
- Đúng vậy.
Giang Ất nói:
- Như thế có đứa con giết cha, kẻ bề tôi giết vua chắc là Đại vương cũng không hề hay tới.
Vua Sở hỏi:
- Sao có việc ấy?
Giang Ất đáp:
- Chỉ vì Đại vương thích nghe cái tốt mà không thích nghe điều xấu.
Vua đáp:
- Phải lắm, quả nhân xin nghe cả hai.
Kể dứt, ông Ngô Tỵ giải thích ý nghĩa cốt truyện.
- Nếu các anh em ở đây, trong đêm nay, sau khi tập tuồng về nhà nằm nghỉ và chỉ cần lưu tâm một chút thì các anh em nhận ra được điều này: Hầu hết những câu chuyện nói về người vắng mặt đều nhắm vào sự bất hảo hơn là mang tính chất đề cao. Chẳng biết đó có phải là bẩm tính của loài người hay chỉ vì loài người có quá nhiều tật xấu nên không một ai thấy cạn đề tài, nhất là nói xấu những kẻ đang vắng mặt?
Có lẽ vì không muốn ai nó xấu ai hay vì muốn tránh sự kiện nâng các thói xấu lên hàng đầu câu chuyện mà các bậc hiền nhân thường tỏ thái độ lạnh lùng đối với kẻ quen nói xấu sau lưng. Tưởng rằng đó cũng lại là một ý nghĩ hay nếu không giúp được hoàn toàn cho điều thiện thì cũng làm giảm bớt được một số mồm miệng tanh hôi khiến cho xã hội trong sạch được ít nhiều.
Dầu vậy, mọi giá trị không nhất thiết đều phải đóng khung. Do đó, Giang Ất đã chỉ cho vua thấy là cứ nghe mãi những điều tốt cũng không phải là người tốt, đặc biệt là đối với cấp có quyền.
Kể ra thái độ của vua Sở là thái độ của hiền nhân. Và cũng chỉ có hạng hiền nhân mới thích nghe những điều phải, lẽ hay để tránh cho tư tưởng khỏi bị vẩn đục vì các thói xấu của người bị lôi cuốn theo thói tục. Có điều cần minh định là một ông vua hiền rất có thể không phải là người trị nước giỏi.
Điều này Giang Ất đã vạch rõ ra với ý trách vua không hề hay biết gì tới những hành vi phạm tội của kẻ dưới, bởi vì vua cứ mãi quan niệm rằng kẻ nêu tội người khác là hạng tiểu nhân. Dĩ nhiên đó là một sai lầm lớn, cái sai lầm của những ai muốn mình được thanh khiết rồi bưng tai, bịt mắt trước tội lỗi của người đời.
Bởi thế, điều quan trọng là hãy cứ nghe và quan trọng hơn là làm thế nào đừng lẫn lộn nghe với tin.
3. Khi Vua Đòi Nghe Nhạc
Dương Thiết Bật thưa với vua Tấn:
- Thu phục nhân tâm cố tỏ lòng nhân chớ phô bày của cải thì chỉ khiến người đố kỵ thôi.
Tấn Bình Công không nghe, truyền xây một cái cung thật đẹp gọi là cung Tư Kỳ. Tư Kỳ tuy không lớn bằng cung của vua Sở nhưng tinh xảo hơn nhiều. Vua Tấn đắc ý, gởi thơ mời các chư hầu đến dự lễ khánh thành.
Trên đường sang Tấn, vua Vệ đi qua sông Bộc Thủy, bỗng nghe có tiếng nhạc kỳ lạ vọng tới. Vua cho đòi Thái Sư Quyên tới hỏi. Thái Sư Quyên lắng nghe luôn hai hôm thì thuộc cả bản nhạc. Lúc tới nước Tấn, vua Vệ cho Thái Sư Quyên cùng đi với mình lên Tư Kỳ cung dự tiệc. Giữa tiệc, vua Tấn cho đòi người giỏi nhạc nhất nước là Sư Khoáng tới trổ tài. Vua Tấn hỏi Thái Sư Quyên:
- Nghe đồn ông cũng là bậc thầy âm nhạc, hãy cho ta nghe thử khúc nhạc nào hay nhất?
Thái Sư Quyên đem khúc nhạc đã nghe được trên sông Bộc Thủy ra đờn. Nhưng vừa nghe được nửa bản, Sư Khoáng bỗng lên tiếng:
- Không được, đó là khúc nhạc vong quốc!
Tấn Bình Công hỏi:
- Sao lại cho là vong quốc?
Sư Khoáng đáp:
- Đó là khúc nhạc do Sư Diên và vua Trụ đặt ra. Sau vua Trụ mất nước, Sư Diên ôm đàn nhảy xuống sông Bộc Thủy trầm mình. Từ đó hễ ai qua sông lúc thanh vắng đều nghe khúc nhạc này.
Vua Tấn hỏi tiếp:
- Nhạc sư có biết đó là điệu gì không?
Sư Khoáng thưa:
- Đó là điệu Thanh Thương, nhưng vẫn chưa bằng Thanh Thủy.
Vua Tấn bảo:
- Khảy cho ta nghe thử khúc nhạc đó ngay.
Sư Khoáng đáp:
- Chỉ người có đức mới được nghe.
Vua mắng:
- Người khi quân ư? Nếu từ chối ta giết ngay.
Sư Khoáng bất đắc dĩ ôm đàn lên khảy.
Nhà đạo diễn kiêm văn sĩ Ngô Tỵ hùng hồn bình luận cho anh em nghệ sĩ chúng tôi nghe truyện “Khi Vua Muốn Nghe Nhạc” rất thích thú như sau:
”Phân biệt giàu nghèo là tính theo số lượng của bạc vàng hay sản vật. Phân biệt sang hèn thì căn cứ vào cốt cách hoặc tinh thần. Bởi thế có lắm kẻ tuy giàu nhưng không được coi là sang, trong khi một số nghèo, song chẳng bao giờ bị coi là hèn cả.
Cùng ý nghĩa với Dương Thiết Bật như anh em thấy, càng phô trương của cải bao nhiêu càng khuấy động lòng thèm muốn của những kẻ tham và vô tình bắt cầu cho những điều bất lợi. Tuy thế, trên phương diện công bằng không một ai có đủ thẩm quyến khẳng định giàu tức là đã bất nhân. Cũng như chẳng có ai ngây thơ kết tội đồng tiền vì cho rằng chính nó đã làm cho con người trở nên bất nghĩa.
Do đó, yếu tố chánh không phải nhắm vào chỗ giàu nghèo mà là phải xét qua cá tính. Như tôi vừa kể cho anh em nghe, ông vua Tấn không làm gì nên tội khi cố tình khoe của với các chư hầu. Nhưng dựa theo lời khuyên của Dương Thiết Bật và sự phản kháng của Sư Khoáng, người ngoại cuộc có ấn tượng là Tấn Bình Công không thể là một minh quân. Ngay như sự giận dữ của nhà vua, đòi chém đầu kẻ từ chối cho nghe nhạc tưởng cũng đủ để coi như một chứng minh rồi.
Có lẽ vì vậy mà đức Khổng Tử đã phải lên tiếng cho rằng: “Người mà bất nhân thì Lễ và Nhạc để làm gì?”
Trích trong Hậu Trường Sân Khấu Cải Lương của Trần Trung Quân.