Kỳ sau: Tại sao đào kép hát Bội vẽ mặt rằn ri?
Theo sử tích, các tướng thời xưa đi đánh giặc hay đeo mặt nạ ngụy trang trên đường di hành ra chiến trận. Hát Bội căn cứ theo đó mà bắt chước. Sách Nhạc Phủ Tạp Lục có viết: “Dùng mặt nạ để ngụy trang sanh ra trước nhất ở bắc Tề (479-501 sau T.C.). Lan Lăng Vương có sức mạnh, đánh giặc giỏi, nhưng nét mặt trông chẳng oai hùng, nên mỗi lần ra trận đều đeo mặt nạ, trăm trận trăm thắng”. (Kẻ thù nhình thấy mặt nạ ghê sợ nên mất tinh thần chiến đấu). Thoạt tiên đào kép hát Bội đeo mặt nạ hát, mãi về sau thấy phiền phức quá, bỏ lần lần và vẽ mắt bằng màu sắc thay thế vào. Phương thức vẽ kiểu mặt, màu sắc phân chia như sau: Đỏ tươi, đỏ bầm, hồng lợt, vàng, màu vàng kim, tím, xanh da trời, xanh lá cây, xám tro, màu bạc, đen và trắng.
Không có vấn đề muốn vẽ gì thì vẽ. Bởi vì mỗi màu giữ nhiệm vụ tượng trưng cho mỗi vai trong tuồng.
- Ông quan văn (vai trung) để nguyên mặt lên sân khấu hát. Nhưng nếu gặp vai lão thì lông mày trắng, gắn bộ râu bạc.
- Ông quan võ vẽ mặt màu đỏ.
- Ông quan võ (vai trung) để mặt thật, bôi thêm chút phấn lợt.
- Gian thần, nịnh thần mặt vẽ màu trắng mốc, màu xám hoặc màu hồng lợt.
- Tướng võ: mặt vẽ vằn đen và trắng.
- Tướng võ nịnh hóa trang vằn đen trắng, xen một chút chấm đỏ.
- Tướng phiên: mặt vẽ rằn ri, lót thoa phấn nhiều màu (có ý nghĩa man rợ).
- Quỉ yêu: mặt nhiều màu rằn ri, xen kẻ màu đỏ.
- Kép mùi: mặt vẽ màu xanh xám, mắt tròng xéo, má đỏ, đen hay xanh. Trên đầu chít khăn đen.
- Thần, Tiên: để nguyên mặt thật, chấm hai điểm son trên gò má, râu đen dài.
- Đào: để mặt thật, thoa một ít phấn son.
Những cách vẽ mặt đúng theo các màu sắc như vừa trình bày trên không hẳn là tuyệt đối. Diễn viên có thể thay đổi một vài chi tiết cho hợp với nhân vật trong tuồng, nhưng nguyên tắc hóa trang căn bản thì bao giờ cũng phải tôn trọng.
Xong phần màu sắc làm mặt biểu tượng các bản tánh trung, nịnh, ngu, hiền, hát Bội còn chú trọng đến nguyên tắc vẽ các loại mày, khoen mắt, miệng và trán.
Yếu tố quan trọng nhất là vẽ cặp chân mày. Để mô tả nhân vật đôn hậu, cặp chân mày hiền từ; người ác vẽ chân mày thô, mặt lớn; người đắc ý vẽ mày như bay, như múa, người nóng tánh hay giận hờn vẽ đôi mày dựng đứng; người hay buồn rầu vẽ đôi mày cau có, v.v.
Các loại chân mày được phân chia ra như sau: Mày thường, mày thẳng, mày xụ, mày thưa, mày rậm, mày răng cưa, mày răng sói, mày dùi đục, mày bươm bướm, mày tằm, mày vòng nguyệt, mày chữ nhứt, mày chữ vạn, mày lưỡi dao, mày lửa ngọn, mày lá liễu, v.v.
Khoen mắt: Khoen mắt thẳng, khoen mắt già, khoen mắt chim, khoen mắt tròn, khoen mắt nịnh, khoen mắt gian hùng, khoen mắt xụ, khoen mắt bầu dục, khoen mắt bầu thúng, khoen mắt tròng táo, khoen mắt tròng xéo, khoen mắt tròng trứng, v.v.
Miệng: Miệng nén bạc, miệng cọp, miệng lôi cong, miệng vịm lửa, miệng củ ấu, miệng quai xách, v.v.
Trán: Trán thái cực, trán bắc đẩu, trán quái tượng, trán não vàng, trán núi lửa, trán chữ hổ, trán chữ thọ, trán trái bầu, trán trái chùy, trán mặt trăng, trán trái táo, trán hình vật, trán thường, v.v.
Đối với đào kép hát Bội, vẽ mặt, hóa trang là một nghệ thuật rất công phu. Nhưng khán giả không biết và cũng không để ý đến.
Mão, xiêm y là sắc phục do nhà vua ban thưởng các quan trong các buổi lễ chầu. Từ vua tới các quan, các phẩm đều có sắc phục riêng.
Đào kép hát Bội ăn mặc giống hệt các quan trong triều: cũng mão, áo rộng, áo giáp, cân đai, hia, hốt, cờ xí và binh khí.
- Vua đội mão “Cửu Long” (chín con rồng), mặc áo “Long bào, Long cổn” thêu rồng.
- Quan văn đội mão “Văn công” chóp mão tròn (quân sư, hoạn quan) hoặc mão “Bình thiên” chóp bằng màu đen (thái sư, hoàng đệ). Khi vào hoàng cung chầu vua, mặc áo Bào tay rộng thường. Những ngày dự “Đại triều” bận áo “mãng” có gai, thêu rồng.
- Quan võ đội mão “ngạch”, mặc áo “long chấn” màu xanh hay đỏ, tay hẹp có đai.
- Tướng ra mặt trận đội mão “kim khôi”, vận áo giáp nam, mang hia. Sau lưng đeo hai chùm cờ “lịnh tiễn” hình xéo.
- Kép mùi đầu quấn khăn đen, dưới vành khăn xếp hai con én bằng vải trắng và đỏ. Bận áo đen thường, lưng thắt “xiêm trường” và quân giáp, từ lưng trở xuống đi chân không hay mang giầy đen.
- Hoàng hậu đội mão “Cửu Phụng”, gắn bông và thêu chín con phụng vàng. Vợ quan thì cài trâm giắt bông, mặc áo rộng thêu, dưới mặc xiêm trường, mang vớ trắng hay giày thêu.
- Đào chiến đeo đai, đầu giắt lông trĩ, tay cầm song kiếm.
Sẵn đây cũng nên biết một chút khái niệm về trống “chầu” có tác dụng rất nhiều trong điệu hát Bội.
Là một loại trống lớn đặt trên cái giá chia làm ba chân. Trống chầu không lệ thuộc vào âm nhạc sân khấu, nó đặt dưới quyền sử dụng trực tiếp của khán giả. Người cầm chầu, một người am tường ngành cổ nhạc thay mặt khán giả trọn quyền khen thưởng diễn viên trên sân khấu. Người cầm chầu thưởng phạt công bình, nắm vững chỗ nào khen chỗ nào nên phạt. Thưởng phạt trên tinh thần khách quan là một yếu tố cần thiết nhất để khuyến khích nghệ sĩ diễn xuất hứng khởi hơn.
Ra bộ đúng nguyên tắc, giọng hát xuất sắc, và một câu văn viết cảm động đều được ban thưởng. Nếu nhìn nhận hay, đánh “thùng” một tiếng vào trung tâm mặt trống. Hay hơn, thưởng hai tiếng trống gọi trống “chầu đôi”. Nếu diễn xuất sắc, cả rạp vỗ tay khen ngợi, trống thưởng đánh ba tiếng gọi “chầu ba”. Cầm chầu nên cầm đúng phương pháp, nghĩa là chờ đào kép dứt một câu Nói Lối, một câu bản Nam hoặc hát Khách, v.v. rồi mới nhịp trống chầu. Cấm ngặt đánh trống chầu kiểu “lấp họng”. Diễn viên chưa kịp mở miệng đã gõ trống thùng thùng như muốn nhảy vô họng người ta làm cho họ tức tối thêm và không còn hứng khởi để hát. Trống chầu đánh lên thưởng đúng lúc, đúng chỗ, đúng người chớ không có quyền đánh loạn cào cào thiếu điều suýt vỡ rạp, khán giả nhức tai nhức óc. Nói cách khác, người cầm chầu không có quyền chầu lấy le, biểu diễn tài đánh trống một cách ấu trĩ.
Trong trường hợp ra bộ sai, hát “sượng”, hát “gẫy”, tức bị phạt, người cầm chầu gõ ngoài bìa trống, âm thanh nghe “tang” một tiếng, diễn viên ý thức được rằng mình đã hát sai, tự động cáo lỗi khán giả và hát lại. Hát phạm lỗi lớn hơn thì tiếng phạt gõ vào vành trống nghe “cắc” một cái, cảnh cáo diễn viên đã đi quá xa quy luật của nghề nghiệp.
Trống chầu còn quán xuyến thêm vai trò thúc dục người xem. Chừng 20 phút trước khi mở màn, người cầm trống đánh liên hồi nhịp chầu ba, cùng lúc đó tiếng chiêng họa theo, khán giả nghe nôn ruột, hấp tấp đến rạp chen chân mua vé.
Tục ngữ Việt Nam có câu “Nghe trống chầu, cái đầu láng mướt. Nghe trống chiến, nó điếng trong bụng”, diễn tả cảnh rạo rực của các bà, các cô quên trước quên sau vì sắp đến giờ sửa soạn đi xem hát Bội.
Nhạc khí hát Bội gồm sáu loại: Trống, chiêng, chập chõa, đờn, kèn, ống sáo.
Tổng cộng có cả thảy năm thứ trống:
1. Trống chiến sử dụng khi giao chiến, khi xuất quân ra trận. So với các trống khác, trống chiến xài thường trực hơn. Người cầm trống chiến được mệnh danh là “điều khiển viên”, trưởng ban dàn nhạc hát Bội.
2. Trống cái, loại trống nhỏ dùng ra hiệu ba nhịp hướng dẫn tiếng đờn, đưa hơi cho diễn viên biết để nói lối hay hát điệu Nam.
3. Trống cơm, loại trống dài đánh khi hát Nam Xuân, Nam Ai đưa hơi ca sĩ và phụ họa với tiếng đờn.
4. Trống “bắc cấu đánh một lượt với chập chõa khi các quan lâm triều đứng chầu nhà vua và đánh lúc vãn hát.
5. Trống “lịnh” móc hai sợi dây treo bên trong sân khấu đánh khi nha vua ngự đại triều hoặc lúc mới mở đầu vở tuồng.
- Chiêng treo tòn ten dưới cái giá, đánh phụ họa theo tiếng trống chiến. Chiêng được đánh bằng hai miếng tre, nếu không có tre, lấy hai miếng cây thay thế, gọi là cặp “sanh”.
- Chập chõa đánh chung với trống bắc cấu.
- Cây đàn chính trong hát Bội là đờn Cò (nhị cầm). Kế tiếp là đàn Gáo, đàn Kìm, đàn Tam, đàn Sến.
- Kèn thổi khi diễn viên hát Khách hoặc để gợi hứng lấy giọng hát điệu Nam hay hát Khách.
Không giống như Cải Lương gò bó trong nhịp đờn, diễn viên hát Bội ca tự do. Vì lẽ ấy mà khó phô diễn hết tài nghệ.
Thí dụ khi diễn viên hát điệu nói lối Xuân, giàn nhạc hòa tấu bài Hạ, diễn viên cứ tự do hát theo kiểu thể văn vần. Nghệ sĩ không ca theo điệu bài Hạ, miễn hơi cao thấp giữ đều đặn, ăn khớp với tiếng đờn là xong.
Nghệ sĩ ca bản nói lối Ai, ban nhạc rao đờn bài Xuân Nữ, gợi vẻ buồn buồn, không cần lời ca đúng từng tiết điệu với nhạc lý. Người hát, hát một đường. Người đờn, đờn một nẻo.
Ngoại trừ điệu hát Khách, đờn ăn rập lời hát, tất cả các giọng hát Bội đều có bài đờn đưa hơi tạo cho khán giả một cảm giác vui buồn lẫn lộn, nhưng đờn không hề bị ép buộc đi sát câu ca. Cây kèn thì ngược lại. Kèn thổi đưa hơi người ca, và người ca phải hát nương theo cây kèn. Trong điệu hát Khách cũng thế, nghệ sĩ hát tự do, không lệ thuộc nhạc lý nên dễ trình bày làn hơi giọng hát.
Do nhu cầu phục vụ cảm quan khán giả, trên phương diện nghệ thuật, hát Bội là một bộ môn sân khấu bị “đô hộ” bởi nhiều qui tắc rườm rà, bị khép khuôn vào phương thức nhất định.
Múa men cầm dụng cụ binh khí, hoặc múa tay không, tất cả cách thức ra bộ đều hòa hợp nhịp nhàng với giọng hát. Vì rằng nếu hát Bội mà loại bỏ “công thức” múa tay múa chân thì không còn là hát Bội. Điệu, bộ, lời, nhạc và kỹ thuật sân khấu của hát Bội được nghiên cứu kỹ lưỡng, xếp đặt rập khuôn, có quy củ hẳn hòi. Muốn học nghề hát Bội, phải “thọ giáo” nhập môn từ lúc còn nhỏ, khoảng 9, 10 tuổi trở lên. Và nếu có giọng hát trời cho, để trở thành một kép hát Bội danh tiếng, người đó phải sống chết với nghề nghiệp liên tục từ 15 đến 25 năm!
Một cái nghề khó đeo đuổi vô cùng, truân chuyên khổ nhọc, dài công trao dồi học hỏi, có khi 10, 15 năm mới đạt được mức chuyên nghiệp, vậy mà bất hạnh thay, ngành hát Bội đã bị đào thải từ năm 1918, sau khi Cải Lương ra đời. Từ năm 1918 tới ngày nay (1992), hát Bội sa sút và bị tiêu diệt dần bởi những nguyên do trọng yếu sau đây:
- Cải Lương, phim ảnh, truyền hình cạnh tranh và phát triển không ngừng.
- Tuồng hát Bội buồn, thiếu tính chất linh động, vui nhộn như Cải Lương.
- Hát Bội bị thế hệ đi sau lên án là “phong kiến”, lỗi thời.
- Thời kỳ nền Nho học còn thịnh hành, xã hội còn nhiều nhà nho, khi xem hát Bội, phần đông khán giả thông hiểu ý nghĩa câu văn chữ Hán, ảnh hưởng văn chương Trung Hoa, thông suốt truyện Tàu nên biết thưởng thức điệu hát Bội. Sau đệ nhất thế chiến nền Nho học phai tàn, nhường chỗ đứng cho tân học. Xã hội lúc ấy bắt đầu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nền văn minh Tây phương say sưa thưởng ngoạn bộ môn Cải Lương, một điệu hát tân thời. Tuồng tích phỏng theo các kịch bản lớn của Âu Châu. Hát bội thuộc “thế hệ” già, xưa, cũ kỹ. Bị Cải Lương tấn công đè bẹp, chưa đủ sức ngóc đầu cầm cự, thì khoảng 1950 đến 1975, lại bị bộ môn điện ảnh đánh bồi thêm một phát, điệu hát Bội chết chầm chậm, chết không kèn không trống.
- Tuồng hát Bội lúc nào cũng chất chứa vẻ thê lương, thiếu hẳn đặc tính trào lộng, vui nhộn nên hạng khán giả trẻ, nhìn đời qua ánh mắt lạc quan, vừa xem xong thì chán ngấy. Bài hát, giọng ngâm não nùng ai oán. Khán giả trẻ rất bực mình ngồi cả mấy giờ đồng hồ xem những vở tuồng dài lê thê, những cảnh than khóc vì tử biệt, vì loạn lạc, tàn sát lẫn nhau vì cướp đoạt ngai vàng.
Dù sao thì hát Bội cũng đào tạo ra một số nhân tài phụng sự sân khấu cổ điển Việt Nam. Chúng tôi xin ghi ra đây danh sách diễn viên hát Bội vang danh để cám ơn những người đã trọn đời cưu mang cái nghiệp: nghiệp “tơ vương đến thác”.
Nữ nghệ sĩ: Năm Chung, Tư Bổn, Năm Nhỏ, Sáu Xển, Ba Quyên, Tư Minh, Ba Đắc, Cao Long Ngà, Sáu Bê, Năm Sa Đéc, Ba Út, Năm Đồ, Hai Nhỏ, Ba Sáng, Kim Anh, Ba Ngãnh, Kim Bông, Tư Nết, Ngọc Lượng, Lệ Hồng, Bảy Sự, Sáu Muối, Lệ Ánh, Thúy Mạnh, Huỳnh Mai, Thanh Thế, Mộng Lành, v.v.
Nam nghệ sĩ: Nhưng Trì, Nhưng Do, Nhưng Lắm, Nhưng Phi, bầu Thắng, bầu Lễ, bầu Luông, Minh Tơ, Thành Tôn, Hữu Thoại, Hoàng Sóc, Năm Gòn, Mười Sự, Chính Tài, Thiệu Của, Ba Kiên, Tám Hiễn, Sáu Hầu, bầu Tảo, Chín Luông, Bảy Lập, Tám Văn, Hoàng Nở, Hai Thảnh, Thanh Tòng, Văn Thịnh, Ba Luông, Năm Thao, Ba Thái, Long Ẩn, Bửu Truyện, Thanh Bình, Hoàng Bá, v.v.
Hết