Mỗi năm theo lệ, các làng trong miền Nam có tổ chức hai kỳ cúng kỳ yên vào Mùa Xuân và Mùa Thu. Cúng kỳ yên hay còn gọi là cúng cầu an, với ước mong cho dân trong làng được mùa và bình an.
Lễ cúng Mùa Xuân còn gọi là lễ Thượng Ðiền, vào Mùa Thu gọi là lễ Hạ Ðiền. Mỗi làng có ngày cúng đình cố định, làng này làng khác xê xích trước sau vài ngày.
Hát bội cúng đình là nét đặc trưng văn hóa tín ngưỡng dân gian của làng xã Ðàng Trong, vùng đất mới, nơi mà cuộc sống tâm linh của con người bất an trước cảnh “sơn lâm chướng khí”. Làng nào cũng thấy có dựng miếu miễu, am, cóc, chùa, để thờ cúng.
Ðình làng với tổ chức hát bội cúng thần là lễ nghi chánh thức của làng, tổ chức rất long trọong và trang nghiêm kéo dài 3 ngày đêm, gây ấn tượng trong tâm tư tình cảm người dân trong làng.
Hát bội cúng đình trong làng thường diễn ra ở nhà võ ca trước đình hoặc nơi sân trống, sân khấu hướng vào cửa đình. Hát đình trước hết là để cúng thần hoàng cùng các bậc tiên hiền-hậu hiền có công khai phá dựng làng; sau đó cho dân trong làng được xem hát.
Thành hoàng có sắc của vua phong, tới ngày cúng làng tổ chức thỉnh sắc thần về đình. Ở Lục Tỉnh xưa rước dắt thần bằng đường thủy. Người ta ghép hai ba ghe thành bè, trên có kiệu màu đỏ sắc thần bên trong được trang trí cờ lộng, bông hoa, tàn lọng, múa lân, có lính theo hầu... rất vui mắt. Ðình nào thuận thì rước sắc thần bằng long xa đi đường bộ cũng đầy đủ nghi thức rất náo nhiệt.
Các nhiều đấng thần linh không tên tuổi, được thờ trong am, miễu dựng trước đường dẫn đến đình. Như Ông Hổ, Ngũ Hành Nương Nương, Bà chúa xứ (thần địa phương), thần Nông, thần Ðất...
Ðình miếu trong miền Nam đặc biệt có thờ cặp hạc và rùa, là con vật vừa thật vừa siêu nhiên mà tới nay chưa có giải thích nào thỏa đáng cả.
“Thương thay thân phận con rùa,
Ở đình dội hạc, ở chùa đội bia.”
(Ca dao)
Hát bội cúng đình tuồng tích được chọn lựa có nội dung thể hiện qua các nhân vật trung hiếu tiết nghĩa nhằm giáo hóa người dân. Các vở tuồng kinh điển như Lưu Kim Ðính giải giá Thọ Châu, Thần Nữ dâng Ngũ linh kỳ, Tiết Ðinh San cầu Phàn Lê Huê, Sơn Hậu... thường được chọn hát cúng đình.
Trong nghệ thuật cầm chầu, phân biệt hai cách là chầu thường và chầu lễ.
- Cầm chầu thường để nhằm khen thưởng nghệ nhân đào kép hát bội, hát đúng sai, hay dở.
Ông Lê Văn Duyệt thời làm Tổng Trấn Gia Ðịnh được biết là người “cầm chầu” nghiêm khắc có lúc quở phạt bằng cách đánh kép hát sai, hát cương!
Cầm chầu hát bội trong lễ cúng kỳ yên ở đình sau này gọi là cầm chầu lễ, rất khó, nên mới nói “Ở đời có bốn cái ngu/Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”.
Thuở đó, Lê Văn Duyệt cầm cái trống lịnh, gọi là “Cổ lịnh” là cái trống nhỏ, có cán, giống như trống trẻ con chơi, trống mà mấy chú Tàu gánh gánh rao nhuộm áo quần ở Chợ Lớn ngày xưa.
Tay trái ông cầm trống, tay mặt cầm dùi, ngồi trên bộ ván gõ, ngồi xếp hai chân qua một bên theo bộ con cọp , nghề võ gọi là bộ hổ. Ông theo dõi hát bội từ câu nói, câu hát đến điệu bộ. Hát hay thì ông đánh trống để khen thưởng. Hát sai, hát cương thì ông gõ dùi trống vào thành trống nghe kêu lắc-cắc để khiển trách.
Nghệ sĩ bị khiển trách thường bị đánh đòn nếu hát bậy, hát phạm thượng, xúc phạm đến vua, quan!
Bởi lẽ hát bội xưa, nay vẫn còn, nhất là các ban hát cúng đình thường hay “hát cương” nghĩa là tuồng tích không đúng, không có ông Nhưng (thầy tuồng). Nghệ sĩ chỉ chú trọng nhiều vào điệu bộ, còn dân chúng phần đông không biết chữ Nho, không đọc truyện Tàu, không hiểu biết cốt truyện. Khán giả bình dân coi hát bội để thưởng thức ca, múa và nhất là xem màu sắc lộng lẫy qua y trang và mặt mũi đào kép.
Lời ca, điệu bộ của hát bội hầu như mang tính ước lệ, khuôn thước áp dụng cho nhiều tính huống... nên nghệ sĩ không quan tâm, quên mất nội dung, làm cho lắm lúc mâu thuẫn. Hát cương là vậy.
Ông Huỳnh Minh trong cuốn “Gia Ðịnh Xưa và Nay” có ghi lại một đoạn hát bội cương như: “Có lần, một kép hát thủ vai thủy thần (thần nước) cầm ngọn roi mà hát khách (điệu Tàu) biểu diễn như đang cỡi cá lý ngư vượt biển xuống Long Cung... Rồi giơ roi như thúc giục, kép hô, họ! họ! như đang giơ roi giục ngựa”
Lúc đó Lê Văn Duyệt đang “cầm chầu” bèn khua tang trống (đánh thành trống) để phạt kép hát sai! Kép hát cương giật mình lanh trí bèn hát tiếp “Tưởng rằng ô mã, nào dè lý ngư”. Do đó Tả quân thích thú khen hay và không phạt.
- Cầm chầu lễ do các chức sự thay mặt làng điều khiển chầu hát.
Chức sự cầm chầu là những người có uy tin, đạo đức và hiểu biết nội dung, bài bản và nghệ thuật hát bội. Người cầm chầu ăn mặc nghiêm chỉnh với áo thụng xanh, khăn như đen, ngồi trước hàng khán giả, gần sân khấu để xem, nhìn thấu tận “cửa sanh” cánh gà bên trái, chỗ đào kép ra; “cửa tử” cánh gà bên phải, chỗ đi vô.
Trống chầu là loại trống to, sơn màu đỏ, căng thẳng, tiếng kêu to để khán giả có thể nghe theo dõi; khác cái trống lịnh, cổ lịnh, thời Lê Văn Duyệt.
Tới giờ hát, chấp sự hai tay cầm hai dùi trống quay mặt hướng về đình “xá thần” và chào khán giả. Quay mặt trở lại sân khấu, ngồi xuống nghiêm trang cầm chầu.
- Khai chầu bằng 9 tiếng trống: 3 chập, mỗi chập 3 tiếng, báo cho đào kép chuẩn bị.
- Mở màn bằng 6 tiếng trống: 2 chập, mỗi chập 3 tiếng. Ðào kép theo thứ tự bước ra ở cữ sanh.
- Chầu khấu, bằng 1 tiếng trống cho đào kép “khấu bái” như chào vua. Trống kèn nổi lên, đào kép lần lượt xưng tên và chào khán giả. Sau đó bước vào cửa tử.
Suốt buổi hát, chấp sự cầm chầu túc trực xem để khen thưởng. Ðánh trên mặt trống là khen, đánh trên bìa trống là chê phạt...
Ðào kép nếu ai hết vai không ra nữa, chấp sự cũng phải biết để đánh hai tiếng trống chầu để giữ lại chào từ biệt khán giả.
Lúc vãn hát, nếu đêm mai còn hát tiếp thì chấp sự đánh 9 tiếng: 3 chập, mỗi chập 3 tiếng như lúc khai chầu. Nếu là đêm chót, ngày mai không còn hát nữa, chấp sự chỉ đánh một chầu 3 tiếng .
Mỗi đêm khi vãn hát, tất cả đào kép phải ra hát có nội dung như chúc thọ vua trước mặt trưởng ban hội tề đại diện cho làng.
Từ thời Gia Long hát bội được dùng như là cách để giáo hóa lòng trung thành của người dân đối với triều đình. Hát bội đặc biệt phát triển ở Lục Tỉnh thời nhà Nguyễn mang ẩn ý đó nên từ Gia Long đến Tự Ðức, sau này Thành Thái vẫn cổ xúy hát bội.
Thời gian sau khi Pháp đánh Nam Kỳ, vua Tự Ðức có chính sách khuyến khích xây đình và ban sắc thần dễ dàng ở Lục Tỉnh.
Nội dung hát bội ảnh hưởng đến truyện thơ, vè, tuồng tích cải lương... như là một phần của văn hóa đời sống sau này của người Lục Tỉnh.
Hát bội với nội dung cùng nghi thức cầm chầu trong các lễ cúng đình rất phức tạp. Cầm chầu như vậy là một nghệ thuật cao khiến nhiều người đam mê! Một nhà Nho ở Bình Ðịnh là Nguyễn Dật có bài thơ “Cầm Chầu” rằng:
“Ông cha thuở trước tội gì đâu,
Con cháu sanh ra muốn đánh chầu,
Nghỉnh mặt lì lì ngồi phản ngựa,
Hươ tay lia lịa đập da trâu...”
Nên sự đam mê của người cầm chầu trở thành một trong bốn cái ngu của con người ta là vậy!