Hát bội “khai thị” Chợ Sài Gòn Mới
Trần Văn Chi
Thời Nam kỳ thuộc địa, người Pháp gọi hát bội của mình là “hát bội An Nam”. Hát bội xuống lục tỉnh gọi là “ghe hát bội”, lên miền Ðông gọi là “gánh hát bội”.
Người Pháp sớm đem văn hóa Tây phương vào Sài Gòn và lục tỉnh, nên có một số nhà Nho bắt đầu theo Tây, còn dân chúng thì chạy theo cái mới, cái lạ như chớp bóng, hát Tây.
Và hát bội thời này mục đích là phục vụ cho vui chơi, giải trí chớ không còn nhằm “giáo hóa” con người như trước kia.
Năm 1886, trong bài soạn dạy cho học sinh trường Hậu Bổ (trường đào tạo quan tham biện, chủ quận Tây), ông Trương Vĩnh Ký có viết:
“Nam lý, Bắc thơ, Huế hò” ý nói người lục tỉnh thì hát lý chuyên và hay hơn người ngoài Trung và Bắc.
Ông tiếp: “Hát thì hoặc hát bội, hát nhà trò, hát phường chèo là để cho người ta coi chơi vui, và nhắc tích xưa, với đủ hạng sang nghèo khó, giàu ...”
Hát bội trong Nam kỳ được ông Trương Vĩnh Ký đánh giá là nhằm “coi chơi vui” thì ở miền Trung từ Phan Thiết trở ra, hát bội còn tồn tại trong cung đình.
Trong hoàng thành Huế có một rạp hát gọi là Duyệt Thị Ðường, nơi trình diễn hát bội cho vua coi và cũng có quan lại được vua cho phép vào coi.
Trước sân khấu có 3 cái trống chầu.
- Trống ở chính giữa dành cho vua.
- Trống ở bên mặt dành cho quan Thượng Thư Bộ Lễ.
- Trống ở bên trái dành cho khách mời của vua.
Ðúng theo lễ nghi trật tự của xã hội, biểu thị cái quyền lực: quân-thần-dân.
Theo Trương Vĩnh Ký ghi nhận trong số 85 tuồng bấy giờ đều có nguồn gốc và được sáng tác từ thời trước tới năm 1886, trong đó chỉ còn 1 tuồng là Sơn Hậu còn được rất nhiều người ưa thích.
Sơn Hậu là tuồng gì? Sơn Hậu là tên của thành Sơn Hậu, nơi xảy ra ẩn tình khúc mắc của tuồng Sơn Hậu. Ðây là loại tuồng kinh điển gồm có 3 hồi, mỗi hồi hát độ 4 giờ đồng hồ, mỗi hồi không có tựa riêng, gọi chung là tuồng Sơn Hậu.
- Hồi thứ nhất nói về Phàn Viên Ngoại tống cung ái nữ.
- Hồi thứ nhì nói về Phàn Công chém sứ giả.
- Hồi thứ ba nói về Tô Nguyệt Kiểu đi tu.
Nội dung Sơn Hậu đầy kịch tính, nhiều tình huống gây cấn, mâu thuẫn gần như chuyện ngoài đời, mang tánh cách xã hội nên được khán giả Việt Nam rất ưa thích.
Ai viết vở tuồng Sơn Hậu? Vở Sơn Hậu có mặt ở sân khấu hát bội từ thời ông Lê Văn Duyệt, nhưng không biết tên soạn giả là ai.
Theo ông Ðỗ Văn Rỡ thì tác giả phải là người Gia Ðịnh, lúc đầu có một người viết ra, rồi sau đó được nhiều người sửa chữa, bổ túc và cuối cùng chắc phải có một nghệ sĩ hay nhà Nho nào đó viết lại hoàn chỉnh như ngày nay nhưng không đề tên. Bởi đa số tuồng hát bội ngày đó mà tác giả là những nhà Nho đều không đề tên.
Cùng thời với Trương Vĩnh Ký có ông Tôn Thọ Tường, ông có nhắc đến hát bội năm 1867, trong Ngày Ðấu Xảo Canh Nông đầu tiên, được tổ chức ở Sài Gòn. Chánh phủ Pháp có rước bốn ban hát bội đến hát trong ngày đấu xảo này. Hát không có bán giàn, bán ghế (bán vé).
Ông viết tiếp về đám hát bội An Nam đấu xảo: “Lập một đám hát bội tại trước cửa thành, hát 4 ban, mà hát ăn tiền thưởng tám ngày đêm cho thiên hạ mặc ý coi, không ai được lấy tiền giàn, tiền ghế gì hết, cho nên đám hát ấy thì đông hơn các đám khác...”
Trong một bài báo “Nông Cổ Mín Ðàm” năm 1952, ông Lương Khắc Ninh đánh giá là trình độ nghệ sĩ hát bội An Nam rất kém, không có học, đào kép như “là người làm mướn ngày!”
Theo tài liệu thì trong lễ “khai thị” chợ Sài Gòn Mới, người Pháp có tổ chức vui chơi 3 ngày đêm thu hút trên 100 ngàn người từ lục tỉnh về Sài Gòn coi “khai thị”.
Chợ lúc đó gọi Sài Gòn Mới nay gọi là chợ Bến Thành, xây năm 1912, tổ chức khai thị (khánh thành) 3 ngày đêm 28, 29, 30 Tháng Ba năm 1914. Lễ khai thị có hát bội không lấy tiền giàn, không bán ghế gọi là hát thưởng, để cho công cúng coi chơi giải trí.
Hát bội bấy giờ có 4 hình thức tổ chức:
- Hình thức Hát Thưởng: là hát ở hội chợ, hoặc khai thị hay các lễ lớn như lễ Ðộc Lập của Pháp, ban hát được mời tới hát, không bán ghế ( bán vé ) mà chỉ ăn tiền thưởng của người coi.
- Hình thức Hát Ðám: là hát Cúng Thần, cúng kỳ yên. Ban hát được rước đến hát 1 chầu, 2 chầu hoặc 3 chầu tùy theo giao kết. Người đến coi tự do, không thâu tiền. Thù lao ban hát do ban tổ chức lo liệu và giao kết trước.
- Hình thức Hát Chặp: là hát phục vụ cho những người có việc vui, việc mừng. Gia chủ kêu ban hát đến nhà hát chơi. Ðào kép không sắm tuồng, không hóa trang, vẽ mặt. Tuồng tích bài bản, tự ý thích. Chủ nhà và đào kép là chỗ quen biết, tiền bạc thù lao tùy hỷ.
- Hình thức Hát Trường, nay gọi là hát rạp, có bán ghế, thâu tiền người vào coi. Ðào kép sống nhờ tiền thâu mỗi đêm hát.
Nội dung tuồng tích hát bội lúc đó phân biệt ra làm 2 loại tuồng: là Tuồng Ðồ” và Tuồng Pho.
- Tuồng Ðồ được Huỳnh Tịnh Của giải thích trong Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị là tuồng có nội dung “riêng chuyện ngoài”. Nói dễ hiểu theo ngày nay thì đó là loại tuồng mà cốt truyện do tác giả bịa ra, tưởng tượng ra, không có thiệt trong sách sử. Cũng có khi tác giả dựa vào một điển tích trong sách rồi hư cấu thêm ra làm cho hấp dẫn thêm.
“Ðồ” ở đây có nghĩa là “phỏng theo”, “đồ lại”, nghe chỗ này nói đem đi nói lại chỗ khác làm cho sai nội dung, trở thành chuyện vu vơ, không còn nguyên như truyện Tàu.
Trong dân gian có chữ “vàng đồ” để chỉ vàng pha trộn với kim loại khác, không phải “vàng y”, mất giá trị.
Tuồng Ðồ như là: Sơn Hậu, Kim Thạch Kỳ Duyên, Trần Trá Hôn, Nghêu Sò Ốc Hến...
- Tuồng Pho hay còn gọi là tuồng truyện. Ðây là loại tuồng căn cứ vào các truyện Tàu mà soạn ra. Vì loại tuồng viết theo truyện Tàu nên tuồng pho có nhiều “hồi” mà dân gian gọi là “lớp”.
Có tuồng có đến 100 lớp như các tuồng Phong Thần (100 hồi), Tuồng Tam Quốc có 120 hồi, Tuồng Ðông Hán, Tuồng Ðường cũng có nhiều lớp.
Vào thế kỷ 20 đất Sài Gòn Chợ Lớn còn có mấy ban hát bội được ông Ðỗ Văn Rỡ kể như sau:
Ban hát Thầy Chánh, năm 1913 hát ở rạp Cầu Muối, là ban hay nhứt được hãng dĩa Pathé thâu vào dĩa, bán rất chạy.
Ban hát của cô Ba Ngoạn hát ở Chợ Thái Bình, và rạp Thành Xương, cô Năm Sa Ðéc lúc nhỏ hát cho ban này.
Ban Tân Hưng đóng đô ở Phú Nhuận, sau hát ở nhà võ ca Chùa Ông cũng ở Phú Nhuận. Ban này có cô Hai Nhỏ rất nổi tiếng.
Ban Phước Thành đóng ở Xóm Củi sau dời về Gia Ðịnh.
Ban Bầu Thắng hát ở Cần Giuộc, rồi sau về rạp Cầu Quan đường Yersin Saigon. Minh Tơ lúc xưa còn nhỏ hát cho ban này.
Sau đó anh em Minh Tơ-Khánh Hồng lập đoàn riêng là đoàn Ðồng Ấu Minh Tơ đóng ở Chánh Hưng sau này đổi sang Hồ Quảng.
Ông Ðỗ Văn Rỡ là người có công duy trì hát bội, ông lập ra “Hội Khuyến Lệ Cổ Ca” tập hợp nghệ sĩ hát bội, chỉnh đốn tuồng tích, tập tuồng cho nghệ sĩ.
Ông tập hợp có lúc lên đến 32 kép, 19 đào hát, 8 nhạc sĩ hát bội.
Hội Khuyến Lệ Cổ Ca hằng năm tổ chức hát chầu tại Lăng Ông Bà Chiểu, tại đình Thái Hưng (Cầu Quan) đình Gia Lộc (Tây Ninh).
Riêng một rạp hát bội của ông Lê Văn Duyệt lập ở ngoại trên địa điểm nay là khu trường Lê Quý Ðôn cạnh Dinh Ðộc Lập thì không còn nghe nói tới nữa.
Có giai thoại kể rằng, lúc Vua Thành Thái vào chơi ở Sài Gòn, có xem ban hát của cô Ba Ngoạn và có tặng cô một bộ chén ngọc rất quí để tỏ lòng ngưỡng mộ tài sắc cô Ba Ngoạn.
Rạp hát bội ở Saigon Gia Ðịnh, Chợ Lớn lúc đó có:
- Rạp của ông Lương Khắc Ninh. Ông là nhà báo, nhà văn, nhà viết tuồng hát bội, ông nổi tiếng “cầm chầu” hát bội. Rạp của ông ngày nay là rạp Rex ở quận 1 Saigon.
- Rạp Bầu Thắng ở Chợ Ðủi, nay là rạp Olympic.
- Rạp Thành Xương người Saigon xưa ai cũng biết, ở đường Yersin... Có mấy rạp trong đình như:
Rạp Minh Phụng tại đình Minh Phụng Phú Lâm, quận 6.
Rạp Tân Kiểng tại đình Tân Kiểng.
Rạp Bình Tiên tại đình Bình Tiên quận 6.
Rạp Xóm Củi tại đình Xóm Củi...
Xem ra như vậy hát bội thời Tây có phát triển về lượng nhưng về phẩm thì sa sút, nhưng đối với người bình dân hát bội là thú vui duy nhứt bấy giờ. Nhờ vậy mà hát bội duy trì tới sau này.
NV