Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhạc Việt

Lê Hữu Mục : Câu chuyện âm nhạc

 Trước 1954, GS Lê Hữu Mục đã cùng 2 người em trai thành lập một ban nhạc tại miền Bắc. VH xin gửi đến quý anh chị em TMC tài liệu về nhà văn kiêm nhạc sĩ Lê Hữu Mu.c, đã "survived" qua 3 lần bị severe stroke. Tuy vậy,  ông lúc nào cũng vui vẽ lạc quan, yêu đời, thích thú khi ca hát, và nhất là khi vung tay lã lướt trên phím đàn piano, ông kể chuyện vui, thích joke,... GS Mục dậy học tại đại học Huế, ông am tường về văn chương Hán Nôm. Ông hiện là nhà văn cố vấn cho Văn Đàn Đồng Tâm, cùng với quý GS Doãn Quốc Sỹ, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Thanh Liêm và Trần Thanh Hiệp.


___________________________________________________________________________
 
 
Câu Chuyện Âm Nhạc
 
Trở lại câu chuyện Phát Diệm là tiền thân của nhạc đạo Việt Nam.
Tôi không rõ nhạc đạo Pháp được du nhập vào Phát Diệm từ hồi nào. Có lẽ khi Phát Diệm được lập làm giáo-phận (1901), các cố Tây thuộc dòng Les Missions Étrangères de Paris theo Đức Cha Marcou Thành về phục vụ giáo-phận đã dạy người Phát Diệm hát nhạc đạo Pháp.
Do đó, như tôi đã trình bày ở trên, ngoài một số rất ít những bản theo điệu nhạc cổ dân tộc hoặc chant grégorien, các bài vãn đều là những bài hát lời Việt theo điệu một số các bài hát đạo Pháp (gọi là cantiques) và nếu như tôi không lầm, trong bao nhiêu năm, chỉ có một cuốn sách hát Pháp được dùng mà thôi, đó là cuốn “Cantiques de la Jeunesse.”
Nếu nói là chỉ có thế mà thôi chưa chắc đã là đúng hẳn, bởi vì, ngoài việc sáng tác cả lời lẫn nhạc cho một bài “vãn mới,” bố tôi đã làm một chuyện tầy đình khác mà chẳng có người Phát Diệm nào khám phá ra.
Hồi đó quân Nhật mới sang chiếm đóng Việt Nam, nên ngoài nhạc Pháp và nhạc Mỹ, nhạc mới của Nhật và Trung Hoa bắt đầu được lưu hành tại Việt Nam. Nổi tiếng nhất là những bài như Xuân nhật bất tái lai, Sakura! Sakura!, Shina no yoru, Khimiga yume noni v.v... Có lẽ bài “Shina no yoru” (Nuit de Chine) tức “Tô-châu dạ khúc” do cô đào Hồng-kông mới nổi tiếng lúc đó là Lý Lệ Hoa hát (trong một cuốn phim tuyên-truyền cho quân-đội Nhật cùng tựa đề) là bài hát Nhật bà con ta ưa chuộng nhất. Không hiểu vì lý do gì (có lẽ cũng chỉ vì muốn có một cái gì mới lạ) mùa dâng hoa năm đó bố tôi cho đoàn hát vãn họ Rosa hát một bài vãn điệu rất lạ. Có người gặng hỏi thì bố tôi cho biết là của một người bạn ở Hà Nội mới đặt ra. Thực ra thì bài hát vãn đó theo điệu bài “Tô châu Dạ khúc.”
Cho tới nay tôi vẫn không hiểu tại sao năm đó bố tôi không tự sáng tác một bài vãn mới như ông cụ đã từng làm trước đó mấy năm mà lại đi mượn điệu Nhật trên đây. Có lẽ cũng như nhiều người Việt chúng ta lúc đó bố tôi đã rất mê bài hát có nhiều mầu sắc Á-đông mới lạ này. Năm sau, có lẽ để đền bù lại chuyện “bậy bạ” năm trước, bố tôi đã dạy cho ban hát vãn họ Rosa một bài hát thiệt trứ danh: bản “Ave Maria” của Schubert, lời Việt do ông cụ tôi soạn. Có lẽ đó là bài Ave Maria tiếng Việt đầu tiên và có lẽ đó cũng là một bản nhạc cổ-điển Tây phương đầu tiên được đặt lời Việt. Thực ra thì bảy, tám năm trước đó, một ông cậu ruột của tôi đã phỏng theo lời Pháp đặt lời Việt cho bài hát nổi tiếng “Serénata” mà tôi còn nhớ mấy câu đầu như sau:
Hỡi em hãy lại đây
Chiều tà giây phút êm đềm
Hỡi chiếc bóng thướt tha
Lại đây trông kìa
Bóng tối đương lan khắp trời...
Ông cậu tôi học Sarraut, là người Phát Diệm đầu tiên đậu tú-tài Pháp (Bac métro, 1935), khá đẹp trai, qua đời năm 29 tuổi, lúc chưa lấy vợ rất bay bướm, hình như có nhiều cô mê cũng là nhờ bài hát với lời ca tuy đơn sơ nhưng rất diễm tình kể trên. Thực ra thì bài Sérénata chưa hẳn là cổ-điển thuần-tuý mà thuộc loại “nhạc nhẹ” (musique légère) mà thôi.
Theo ý tôi, bài hát Tây lời Việt đầu tiên được phổ biến tại Phát Diệm có lẽ là bài “Vân, Kiều thuở xưa, đôi xuân nữ thắm tươi như hoa” theo điệu bài hát lính tẩy “La Madelon” (rất thịnh hành bên Pháp và Âu-châu trong thời kỳ Đại-chiến thứ nhất). Tuy nhiên, ai đặt lời, và bài hát từ đâu tới, thực sự tới nay tôi vẫn chưa rõ nhưng chắc chắn là bài này ra đời trước tới gần hai chục năm những bài hát Tây lời Việt của Năm Châu và bà Ái Liên thường hát xen lẫn với vọng cổ trong các vở kịch cải lương có đề tài xã hội mới. Đã có một thời tôi rất mê nghe bà Ái Liên hát các vở cải lương loại này tại rạp ngõ hàng Bạc, Hà Nội. Có lẽ không phải mê tuồng mà là bà Ái Liên và những bài Tây lời Việt bà Ái Liên hát và diễn xuất mà theo ý riêng của tôi lúc đó rất là có duyên.
Phát Diệm xưa còn có một bài hát khá hay mà ngày nay tôi chỉ còn nhớ phần nào điệu hát mà thôi. Về lời ca, tôi chỉ còn nhớ lõm bõm mấy câu:
Hồi nhớ công ơn Người hằng chăm sóc
Bày con em chúng ta, chúng ta bao ngày gắng công đèn sách
Nhớ ơn người sớm hôm giúp bày trẻ thơ
. . . . . . . . . . .
Không biết điệu nhạc xuất xứ từ đâu, chỉ biết là bài hát đã xuất hiện vào một dịp học trò trường Thày dòng (tức sư-huynh dòng Lasan) Phát Diệm tưởng-niệm thày Marcel, sư-huynh hiệu-trưởng đầu tiên người Pháp qua đời vào kỳ nghỉ hè của niên học đầu tiên của nhà trường (1933). Có người nói rằng điệu nhạc bài này phỏng theo điệu bài “Chiêu hồn nước” là bài ca chính thức của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nếu đúng là như vậy, bản Chiêu hồn nước này cùng với bài Tựa văn phòng theo điệu hành vân có lẽ là hai bài ca ái-quốc VN đầu tiên. Sự thực không biết có đúng như thế không, nhưng cung điệu bản nhạc này quả có chứa đựng một cái gì thiệt trầm hùng và cảm khái. Căn cứ vào sự cấu tạo rất đặc-biệt của nét nhạc, tôi nghĩ rằng có thể đây là một điệu nhạc dân tộc thuần túy Việt Nam mà tôi không biết rõ tên và xuất xứ, mong các vị chuyên về nhạc cổ-truyền Việt Nam chỉ giáo. Hiện tôi đã có ghi điệu nhạc này dựa theo trí nhớ của tôi (quý vị nào thích thú xin vui lòng liên lạc).
Người Phát Diệm được sống trong một bối cảnh thực thuận lợi, nên thường có khiếu về âm nhạc nhưng rất tiếc, vì hoàn cảnh, không có thày tốt, một số tự học mò nên không được trau dồi luyện tập đúng phương pháp, do đó , ngoài một số rất ít nhà soạn nhạc và nhạc sĩ được đi học tới nơi tới chốn như Nguyễn Khắc Cung, Phương Linh, Chung Quân v.v. Phát Diệm không có nhiều nhân tài về âm nhạc, cùng lắm là đủ khả năng gia-nhập các đội quân nhạc hoặc các ban nhạc nhẹ vũ-trường mà thôi. Hơn nữa, ngoài các đội kèn, các đội bát âm cổ truyền, người biết chơi các loại đàn giây cũng rất hiếm, và cũng chỉ loanh quanh mấy thứ đàn như mandoline và banjo mà thôi. Tôi còn nhớ là mãi tới năm lên 10 tôi mới có dịp được nhìn thấy cây đàn violon đầu tiên. Đúng ra là hai cây đàn, bởi vì hè năm đó, có một hôm hai người Phát Diệm đầu tiên chơi đàn violon là các anh N.Đ. Th. và Đ.X. Ph. đem đàn tới chơi tại nhà cụ giáo Huệ, hội-trưởng hội hát xứ Phát Diệm. Anh Ph. (mới qua đời tại quận Cam cách đây mấy năm) chắc không có khiếu nên bỏ tập đàn ngay sau đó. Anh Th. kiên gan hơn, cố tự học và chơi đàn cho tới khi anh qua đời khoảng năm 1950. Tuy chơi không có mấy khá vì học “ô-tô-đi-đất,” nhưng những bản như Sérénade, Sérénata, Ave Maria, Méditation de Thais v.v của anh nghe cũng có đượm đôi chút tình cảm. Sau đó Phát Diệm có thêm một số người chơi vĩ cầm nhưng vì không có thày nên cũng chẳng nên cơm cháo gì, trừ trường hợp Nguyễn Khắc Cung. Tôi không biết anh Cung nhiều nên không rõ anh học vĩ-cầm với ai. Lần đầu tiên tôi được nghe anh đờn cho nghe vào một dịp anh về nghỉ hè tại ngôi biệt thự kiểu Việt Nam của cụ thân sinh (cụ bố-chánh Nguyễn Lập Lễ) ở phía đông bờ hồ nhà Thờ Lớn Phát Diệm. Năm đó thân mẫu anh mới qua đời, bản đầu tiên anh đàn cho mấy anh em nghe là bản Souvenir, bản nhạc mẹ anh lúc sinh thời rất thích nghe anh đàn, nên mỗi lần nhớ mẹ anh thường chơi bản nhạc này. Vào mấy năm 44, 45 tôi thấy anh Cung thường chơi vào buổi tối tại mấy phòng trà Hà Nội, nên nhờ đó tôi có dịp được nghe anh Cung thêm mấy lần nữa và répertoire của anh lúc đó cũng chỉ luẩn quẩn mấy bài như Souvenir, Sur le marché persan, Rêverie, Meditation de Thais, Le beau Danube bleu v.v. Vả lại trình độ thưởng thức nhạc cổ-điển của chúng tôi thời bấy giờ cũng chỉ tới mức đó mà thôi. Sau khi anh đi du học trở về, rất tiếc là tôi không có dịp nào được nghe lại tiếng đàn chắc chắn đã điêu luyện hơn xưa của anh. Nguyễn Khắc Cung là một trong số mấy vĩ cầm gia, đồng thời cũng là nhạc trưởng, nổi tiếng của miền Nam Tự-do trước 1975.
Vào thời xa xưa đó, ngoài một số rất ít người nổi tiếng như Nguyễn Khắc Cung, Duy Linh, Chung Quân v.v. Phát diệm còn có một số thuộc loại tài tử như ba anh em Lê Văn Giáp (accordéon), Lê Như Khôi (clarinette), Lê Hữu Mục (Saxo), Nguyễn Gia Huân (violon), Quang (Saxo), v.v. Về phương diện chơi nhạc, Phát Diệm có một nhân vật khá đặc biệt tôi tưởng cũng nên nói tới ở đây cho vui. Đó là anh Trần Văn Mẫn, bào huynh của linh-mục học giả chữ nôm Trần Văn Kiệm. Anh Mẫn thực ra chẳng chuyên một thứ đàn gì, nhưng về các loại đàn giây hầu như cái gì anh cũng thử “cò ke, kéo co” chút ít cho vui. Năm đó (1949), tôi, Đoàn Văn Cầu (tức cựu NS Cừu) và Đỗ Thế Phiệt nổi hứng cùng nhau tổ chức một cuộc trình diễn nhạc cổ-điển tại Phát Diệm, có thể nói là độc nhất vô nhị trong suốt mấy năm kháng chiến tại miền Bắc. Hưởng ứng tới tham dự với chúng tôi có Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Anh Thường (dương cầm), Lương Ngọc Châu, Nguyễn Văn Hướng (vĩ cầm), Nguyễn Quý Lãm (trung vĩ-cầm), Đỗ Anh Tuấn, Đỗ Đình Toại (flute), Đỗ Đình Thiều (clarinet), Nguyễn Văn Quỳ, Đỗ Thiếu Liệt (guitare) v.v. Chương-trình gồm có các bản hoà tấu như Marche militaire (Schubert), Marche Turque (tức Le Calife de Bagdad của Boeldieu), Le beau Danube bleu (J. Strauss), Les flots du Danube (Ivanovici) v.v. độc tấu hay đơn ca như Romance en Fa của Beethoven (Đỗ Anh Tuấn, độc tấu flute), Romance et boléro (Đỗ Thế Phiệt, độc-tấu vĩ cầm), Invitation à la danse (Nguyễn Văn Hiếu, độc tấu dương cầm), Sérénade, Come back to Sorento (lời Việt do Đoàn Minh đơn ca) v.v. Chúng tôi cũng không quên nhạc Việt Nam nên chương-trình có thêm một vài bản nhạc Việt rất thời trang lúc đó như Anh tới thăm em một chiều mưa của Tô Vũ, mới ra lò, do Đoàn Minh đơn ca (anh Minh là em của Đoàn Tòng, một giọng ca tài tử khá nổi tiếng tại Hà Nội trước 1945), Nhớ người thương binh (Phạm Duy, hợp ca, do một số anh chị em ca sĩ tài tử từ Thái Bình sang tham dự) v.v.
Nếu chỉ có thế thì không có gì rắc rối cả nhưng tới khi tập tới cái đinh của chương-trình là Hoà tấu khúc số 8 tức Symphonie inachevée en Si mineur của Schubert, anh em mới nhận thấy là ban nhạc thiếu một tay trung hồ-cầm (cello) để chơi câu mở đầu của bản nhạc. Đàn thì lúc đó tại Phát Diệm có hai cây, có thể mượn dễ dàng, nhưng người có thể chơi được với ban nhạc thì hầu như vô phương. Lúc đó tôi quýnh quá bèn tìm anh Trần Văn Mẫn cầu cứu. Như tôi đã nói ở trên, anh Mẫn trước đó thực ra có tập chơi violon nhưng không mấy khá nên đã bỏ từ lâu. Anh đề nghị với anh em là cho anh tập thử ở nhà một vài ngày, sau đó có thế nào sẽ trả lời. Hôm sau nữa anh tới xin chơi thử cùng với anh em. Anh chơi tuy không hay nhưng tạm đủ để trám vào chỗ không thể thiếu được của bản nhạc, và ai nấy đều hết sức mừng rỡ vì nhờ anh mà chúng tôi có thể duy trì được bản Symphonie số 8 trong chương-trình. Mặc dầu anh Mẫn không phải là một kỳ tài, nhưng thành tích đáng nể trên đây của anh đã trở thành một giai-thoại của Phát Diệm cách đây trên nửa thế-kỷ. Năm 1954, anh và gia-đình gồm bà vợ trẻ và một bầy con không vào Nam mà ở lại Hà Nội chỉ vì tiếc một cây đàn dương cầm Moultrie rất tốt của một người bạn đi di cư để lại với một giá rẻ mạt. Câu chuyện này kết cục thế nào, vui hay buồn, anh Mẫn và gia-đình nay ra sao, tới nay tôi vẫn chưa rõ. Dẫu sao đó cũng là một câu chuyện liên quan phần nào đến âm nhạc và người Phát Diệm, và cũng là giai-thoại thứ 2 về anh Mẫn và cái nghiệp-dĩ của anh. Đó cũng là cái mốc cuối cùng của một dĩ vãng mà ngày nay chẳng có mấy người còn nhớ, một dĩ vãng tuy không phải là vàng son nhưng cũng không phải là không có những ngày vui và hạnh-phúc, đã kết thúc bằng những ngày máu lửa đầy kinh hoàng cách đây nửa thế kỷ.
Những chuyện về âm nhạc ở trước đây nửa thế-kỷ
Nhân đã nói tới vụ tổ-chức trình diễn nhạc cổ-điển tại Phát Diệm cách đây trên năm mươi năm, tôi nghĩ cũng nên nói qua những gì tôi biết và còn nhớ về một số anh em tham-dự mà tôi đã có cơ duyên được thưởng thức phần nào tài-nghệ, vì tài nghệ của mấy anh em đó có thể nói là sự biểu hiện trình độ âm nhạc của Việt Nam chúng ta cách đây trên nửa thế-kỷ.
Trước 1945, tại Hà Nội, khi nói tới nhân tài về âm nhạc (cổ-điển Tây phương) người ta thường chỉ nói tới hai người : Nguyễn Văn Hiếu đàn dương cầm và Nguyễn Văn Giệp, vĩ cầm. Anh Hiếu người thấp nhỏ, hiếu động, hay nói, gần như láu táu. Vì bàn tay nhỏ nên anh đã vâng lời ông thầy cắt các kẽ ngón tay để dễ bề chơi đàn hơn. Anh Giệp tương đối cao lớn, khá mập mạp, dáng điệu đường bệ và chững chạc, nhưng khi anh trình diễn, chiếc vĩ cầm được xử dụng một cách thực lẹ làng khéo léo như một món đồ chơi nhỏ ở trong đôi bàn tay thô mập và chắc nịch của anh. Chị Giệp là người buôn bán nhưng cũng có chơi vĩ cầm. Anh chị Giệp là chủ nhân một lò bánh mì khá lớn ở giốc hàng Giò (Bánh mì Gia-long) và nghề đàn đối với anh Giệp chỉ là một thứ đam mê văn-nghệ mà thôi khác hẳn với tính cách chuyên-nghiệp của anh Hiếu. Đã khác nhau về thể chất lại thường trình diễn cặp đôi với nhau nên người ta thường ví hai anh với cặp hề hài hước Laurel và Hardy. Sau cách-mạng Việt Minh, tôi thường được nghe các anh trình diễn tại hội Khuyến Nhạc Hà Nội (số 3 phố nhà Chung), nhà Hát lớn và nhất là về sau này, vào mỗi buổi tối tại phòng trà Quán Nghệ Sĩ ở một góc phố phía bắc bờ hồ Hoàn Kiếm (gần rạp chiếu bóng Philarmonic ở phía bên kia đường Bờ hồ, con đường xưa có cái tên Tây là Avenue Francis Garnier). Tuy được nghe các anh trình diễn nhiều lần nhưng phần nhiều là những bản nhạc Việt rất được bà con yêu chuộng lúc bấy giờ, chẳng hạn như Thiên Thai, Con thuyền không bến, Đêm thu v.v. kể cả các bài ca ái quốc của Thẩm Oánh, Văn Cao, Đỗ Nhuận v.v. rất thịnh hành lúc đó, thỉnh thoảng lắm mới được nghe các anh chơi những bản nhạc nhẹ như Rêverie, Méditation de Thais, Clair de lune, Sérénade, Fur Elise v.v Vì lúc đó là thời “cách mạng,” nên không biết đối với hai anh có phải là một chuyện miễn cưỡng hay không, nhưng đối với những người yêu nhạc mong muốn được nghe các anh trình bày những bản nhạc giá-trị thực sự cổ điển thì đó là một sự mất mát rất lớn. Nhưng dẫu sao, buổi tối khi trời trở lạnh, ngồi nhâm nhi tách cà-phê hoặc chocolat nóng (mới xuất hiện trở lại sau năm năm chiến tranh dài đằng đẵng) tại Quán Nghệ sĩ nghe cặp Hiếu, Giệp chơi đàn quả là một hạnh-phúc. Cho tới nay tôi chỉ nhớ lờ mờ là về phương diện nghệ-thuật hai anh chơi thiệt xuất sắc, nhưng mỗi khi trình diễn nhạc cổ điển, nếu không được yêu cầu chơi những bản đặc biệt, các anh thường chọn những sonatas, variations, suites, nocturnes v.v nói tóm lại, thường là những khúc nhạc không tựa đề, nặng về kỹ-thuật, nghe rất khó đối với những người trình độ nghe nhạc cổ-điển còn thấp kém là chúng tôi lúc đó. Có lẽ chính vì thế mà có nhiều người nói tiếng đàn quá điêu luyện của hai anh, nghe hay thì thực hay, nhưng thiếu tình cảm, thiếu cái chất “ướt át.” Riêng tôi, tôi rất thích bản Invitation à la danse và một số tác-phẩm của Chopin anh Nguyễn Văn Hiếu thường độc tấu theo lời yêu cầu của các thính giả ái mộ anh như Etude en Mi (Tristesse), Military Polonaise, Rondo all Turco v.v. Ngoài hai nhân vật “thượng thặng” kể trên, vào những năm này, rất nhiều người trong giới trẻ biết tiếng những William Chang, Nguyễn Văn Quỳ, Đoàn Chuẩn v.v. (đều chơi guitare, loại đàn rất thịnh hành thời đó), nhưng ngoài giới âm nhạc với nhau, hầu như không mấy ai biết tới Lương Ngọc Châu, Nguyễn Anh Thường hay Nguyễn Khắc Cung. Tiếc rằng tới khi các nhân tài mới này bắt đầu được thiên hạ chú ý thì cũng là lúc họ lần lượt theo nhau xuất ngoại. Trở về nước sau này tôi thấy hình như chỉ có Đỗ Thế Phiệt, Nguyễn Khắc Cung và Nghiêm Phú Phi. Vì được giao giữ những chức vụ quan-trọng như nhạc-trưởng hay giám-đốc trường Quốc gia âm-mhạc nên các anh ít có dịp trình diễn độc tấu, do đó tôi đã không có cơ hội được thưởng thức tài nghệ của các anh sau khi đi du học về. Thiệt đáng tiếc.
Năm 1969, tôi và Đoàn Văn Cầu có dịp gặp lại Lương Ngọc Châu tại Paris. Tôi còn nhớ nhà anh chị Châu ở banlieue, một căn nhà cổ, đơn sơ, có vườn rộng cạnh một con sông nhỏ, phía bên kia là khu rừng phong, về mùa thu cảnh thiệt là thơ mộng (lúc đó tôi mới được biết chị Châu, tức Phạm Thị Hoàn, là ái nữ cụ Phạm Quỳnh). Vì không có nhiều thì giờ, tôi chỉ được nghe Lương Ngọc Châu chơi một vài bài lặt vặt, nên tôi có cảm tưởng tài nghệ của anh thua sút những năm xưa rất nhiều.
Người mà trước kia tôi có dịp được nghe nhiều nhất là Đỗ Thế Phiệt. Phiệt tiến bộ rất mau là nhờ ông thày người Nga (vì lâu ngày nên tôi quên tên) lúc đó là nhạc trưởng đồng thời cũng là người chơi vĩ cầm của ban tứ cầm (Quatuor) chơi hằng đêm tại quán rượu Taverne Royal trong hành lang cao ốc Crédit foncier (góc đường Bờ Hồ và Tràng Tiền).
Tôi tình cờ gặp lại họ Đỗ tại hội chợ Núi Voi (Phượng-trì, Yên Mô) rồi từ đó cứ mỗi lần từ Thanh Hoá ra khu III Đỗ Thế Phiệt thường tới thăm tôi, có khi ở lại chơi cả tuần, thường khi rảnh rỗi chơi đàn cho cả gia đình tôi nghe. Theo như sự hiểu biết rất giới hạn của tôi, mặc dầu Đỗ Thế Phiệt rất trẻ, nhưng tiếng đàn của anh lúc đó đã khá điêu luyện, kỹ thuật cao, rất mực ngọt ngào, ấm áp, đầy tình cảm và nhất là như chứa đựng một cái gì thiệt là lãng mạn và trẻ trung. Đối với thời đó ở Việt Nam, (tức trước đây trên 50 năm), répertoire của Đỗ Thế Phiệt có thể nói là phong phú, vì gồm có cả những tác phẩm hiện đại, đặc biệt là những tác phẩm của vĩ cầm gia Kroestler, mà tôi nghĩ rằng anh đờn rất xuất sắc. Trong số những bản nhạc này, thiên hạ thích nhất bản Romance et Boléro, vì với bản nhạc này, anh vừa có thể thi thố được kỹ thuật điêu luyện, vừa có thể diễn tả được những tình cảm nồng ấm tràn trề trong bản nhạc.Từ ngày sang ở Hoa Kỳ, tôi cố tìm mua đĩa nhạc của bản độc tấu vĩ cầm Romance et Boléro của Kreisler nhưng tìm không đâu ra.
Hai bản La chanson triste và Chanson de Solvejg tuy đơn sơ, không cần phải sử dụng nhiều kỹ-thuật mà anh chơi cũng thiệt là hay, người nghe ai nấy đều xúc động, nhất là đối với những người mới biết nghe âm nhạc cổ điển. Chẳng hạn như Mẹ tôi, một bà cụ già Việt Nam, chẳng biết gì về nhạc cổ điển, thế mà cụ rất thích nghe Đỗ Thế Phiệt chơi bản Chanson de Solvejg (Edvard Grieg). Những người thích loại nhạc tả cảnh rất phục những bản độc tấu của họ Đỗ như Sur le marché persan, Danse macabre, Chanson de Solvejg và nhất là khúc Mùa Đông, một trong bốn phần của Les quatre Saisons (Vivaldi). Có thể nói tiếng đàn cũa Đỗ Thế Phiệt gắn liền với đoạn đời trai trẻ vô tư, lãng mạn, rất mực văn-nghệ của tôi cách đây trên nửa thế-kỷ. Năm 1970, anh đã vội vàng vĩnh viễn ra đi trong khi tôi vắng mặt Sài Gòn. Tôi rất ân hận là đã không được gặp lại anh trước đó. Về phương diện âm-nhạc cổ điển, đối với giới trẻ ở vùng kháng chiến (vào những năm cuối thập niên 40)) những Lương Ngọc Châu, Đỗ Thế Phiệt, Nguyễn Anh Thường v.v. quả là những thần tượng.
Nhưng rồi một ngày kia những thần tượng này bỗng chợt khám phá ra là mình chẳng qua cũng chỉ là những con ếch ngồi đáy giếng mà thôi. Số là hồi đó nghe tin chúng tôi tổ chức trình diễn nhạc cổ-điển anh em nghệ sĩ tới thăm cổ võ rất đông, kể cả những bậc trưởng thượng như cụ Bảng Kỷ, cụ Hà Lương Tín, cụ Vi Huyền Đắc, cụ Lê Trọng Quỹ v.v. Trong số các bậc lão thành này có một vị dược-sĩ thuộc họ Nguyễn Khoa (tôi lâu ngày quên tên, hình như là Nguyễn Khoa Phước, sau có mở tiệm thuốc Tây bên hông chợ Tân Định, Saigon) vừa ở Pháp về, trước có chơi violoncelle. Vị dược-sĩ phê bình là chương-trình buổi trình tấu của chúng tôi quá nặng về loại nhạc nhẹ (musique légère). Ông hỏi tại sao ngoài hòa tấu khúc Symphonie số 8 chúng tôi không cố chơi thêm một bản concerto hoặc symphonie, chẳng hạn như Symphonie No 5 en Ut mineur hiện rất phổ biến bên Pháp và Âu châu. Đỗ Thế Phiệt muốn biết rõ hơn, hỏi bậc đàn anh: “Bản No 5 gì đó là bản nào, chúng tôi thiệt không biết?” Ông dược sĩ họ Nguyễn Khoa có vẻ ngạc nhiên phá lên cười hỏi ngược lại: “Các cậu thiệt tình không biết sao? Bản nhạc này là một trong mấy Symphonies của Beethoven được hậu thế yêu thích và phổ biến nhất và có lẽ cũng là bản symphony nổi tiếng nhất trong lịch sử âm-nhạc cổ-điển.” Sau đó cụ cho biết thêm là trong thời kỳ Đại-thế chiến II vừa qua, đối với dân chúng Anh và các lực lượng kháng chiến trên khắp lục địa Âu-châu bản Symphony số 5 được coi như là biểu hiệu niềm hy-vọng và lẽ tất thắng sắp tới của quân đội Đồng-minh. Ngoài ra còn có một sự trùng hợp khá lạ lùng là theo số La-mã thì số 5 là chữ V, chữ đầu của Victory (thủ tướng Churchill mỗi khi xuất hiện thường dùng hai ngón tay xòe thành hình chữ V để chào dân chúng). Hơn nữa theo lối đánh điện báo Morse thì chữ V được biểu hiệu bằng ba tiếng ngắn và một tiếng dài tiếp theo, đúng hệt nhịp điệu của các nét nhạc chính trong đoạn mở đầu Allegro con brio của Đại-hoà tấu khúc số V . Chính những người đồng thời cũng thường thắc mắc về ý-nghĩa của bản nhạc nên hình như Beethoven đã có lần trả lời rằng: “Quý vị không thấy sao? Đó là tiếng gõ cửa của Định mạng.” Ngay sau khi trận chiến Normandie kết thúc khúc hòa tấu này lại càng được được phổ biến và yêu thích đến độ mấy thằng nhãi vagabond hay phu quét rác ở Paris cũng biết huýt sáo miệng mấy câu mở đầu của bản nhạc để khiêu khích mỗi khi chạm trán với lính hoặc bọn SS của Đức quốc xã lúc đó đương sửa soạn rút lui khỏi thủ đô Paris.
Câu chuyện ông dược sĩ mới ở Tây về kể nghe thật lý thú nhưng lúc đó hình như mấy nhà “đại nhạc sĩ” của chúng ta có vẻ ngượng và rất sượng sùng. Tối hôm đó anh em đều buồn bã không ai buồn ăn, bàn tán mãi tới khuya về cái kiến thức âm nhạc quá nông cạn của mình. Quý vị thử nghĩ coi, các nhạc sĩ tài danh của Việt Nam chúng ta lúc đó chẳng những chưa bao giờ được nghe hoặc chơi Tấu khúc số 5 (vì Việt Nam chúng ta thời đó chưa bao giờ có ban nhạc đại hòa tấu, trong khi ngành truyền thông và kỹ thuật phát thanh của chúng ta lúc đó còn rất lạc hậu và ấu trĩ) và hình như cũng chẳng được biết là trong kho tàng âm-nhạc cổ điển Tây-phương có một khúc hòa tấu gọi là Symphonie No 5 en Do mineur do Beethoven sáng tác. Cho nên bà con ta hồi đó phước đức lắm thì cũng chỉ được nghe loanh quanh hết Sur le marché Persan lại đến Méditation de Thais, hết Le beau Danube bleu lại đến Sur les flots du Danube, hoặc cùng lắm là Invitation à la danse, Romance et boléro, Romance en Fa v.v mà thôi. Thực ra thì kể từ sau cách mạng mùa thu 1945, ngoài ban nhạc “tạp nhạp hầm bà làng” của Hội Khuyến Học Hànội, đất ngàn năm văn vật của chúng ta chưa bao giờ có một ban nhạc hòa tấu cổ điển Tây phương tạm đủ để chơi những bản nhạc lớn thuộc loại symphonie hoặc concerto. Và có lẽ, theo như tôi nghĩ, cuộc trình diễn nhạc cổ điển năm đó tại Phát Diệm là một cuộc trình diễn chưa từng có trong vùng kháng chiến cũng như ở Việt Nam trước đó, mặc dầu ban nhạc của chúng tôi chỉ là một ban nhạc thuộc loại bỏ túi, chỉ đủ khả năng chơi loại nhạc nhẹ (musique légère) hoặc loại thính phòng (musique de chambre) mà thôi, đâu có thể so sánh với các ban nhạc thực sự là đại hòa tấu (orchestre symphonique).
“Vào thời 1945, khi Việt Minh hô hào kháng chiến chống Pháp, tất cả những thanh niên yêu nước đều ủng hộ bằng cách tham gia phong trào. Về sau mặt nạ rớt xuống, một số đã từ bỏ, còn một số vẫn trung thành với đường lối mà họ đã theo. Năm 1946, gia đình tôi chạy về Phát Diệm, thời đó có Đức Cha Lê Hữu Từ là người tích cực chống đường lối dã man, tàn bạo của ông Hồ Chí Minh… Tôi còn nhớ, ở Phát Diệm, mỗi chiều thứ Bảy, gia đình cô gồm các anh Lê Ngọc Huỳnh (violon), Lê Huy Giáp (accordéon), Lê Như Khôi (Saxo-Tenor), Lê Hữu Mục (Saxo-Alto, và guitar), Lê Ngọc Linh(Trompette, và trống), dựng sân khấu ngoài trời đánh những bản nhạc vui của ngoại quốc và VN cho dân chúng Phát Diệm thưởng thức. Do duyên văn nghệ, tôi đã quen với các anh của cô…”
Tôi thú thực với anh, nhờ có anh, tôi được biết về các hoạt động của các anh ruột của tôi ngày xưa. Tôi hỏi anh, anh có nghe bài Chiều Cô Đơn của anh Linh vào năm 1952, và Hẹn Một Ngày Về của anh Mục vào năm 1953 không. Anh cho biết, trời thương đã cho anh một trí nhớ tuyệt vời, chỉ cần đọc hay nghe một lần, anh có thể nhớ kỹ bài nhạc hay bài văn đó… Tôi bỗng nhớ đến lời Bích Huyền đã một lần nào đó nói với tôi: "Nhạc sĩ Nguyễn Hiền như một cuốn tự điển sống, những gì em muốn biết, em chỉ cần nhấc phone lên hỏi anh là được anh cho biết đầy đủ chi tiết cần biết.". Anh Hiền kể về những ngày tháng cũ bằng một giọng rất say mê, khiến tôi ngồi im nghe thích thú như khi xưa còn bé nghe mẹ kể chuyện cổ tích. Tôi khen bài Anh Cho Em Mùa Xuân hay quá, anh cho biết, chỉ là tình cờ, khi đi ngang qua chỗ làm việc của người bạn, anh thấy trên bàn có tập thơ Kim Tuấn, anh mở ra, gặp ngay bài Anh Cho Em Mùa Xuân. Anh đọc và thấy thích, và thế là dòng nhạc tuôn chảy. Sau đó, nhà xuất bản (anh Hiền đã nói, tôi quên tên) hỏi anh có bài nhạc nào mới không, anh Hiền đưa bài nhạc Anh Cho Em Mùa Xuân, thế là có tiền. Và anh đã chia cho Kim Tuấn một nửa. Mỗi lần tái bản, anh được tiền, anh cũng chia đều cho Kim Tuấn… Anh say sưa nhắc về các bạn nghệ sĩ thời làm đài phát thanh Sài Gòn, số 3 đường Phan Đình Phùng với Văn Phụng, với anh em Xuân Tiên, Xuân Lôi, với Nhật Bằng, Hoàng Trọng... và nhiều nhiều nữa …nhất là lý do anh gặp Đinh Hùng, đưa cho anh bài thơ vừa làm xong, anh đọc xong và phổ nhạc ngay tại tiệm phở, và anh đã đổi tên bài thơ thành bài Mái Tóc Dạ Hương…

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4427077