Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Tiểu sử nhạc sĩ

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo : Người đã có 65 năm gắn bó và nhiệt tâm với nhạc truyền thống Việt nam, nhứt là nhạc Tài tử Nam bộ.

Phần đông nhạc sư nhạc sĩ nhạc truyền thống Việt nam, kể cả nhửng người hâm mộ âm nhạc, không mấy ai lạ gì với tên tuổi của nhạc sư Vĩnh Bảo, một nhạc sĩ trí thức, đa năng, khiêm tốn và giản dị, nặng ḷòng với sự mất c̣òn của kho tàng vô giá do Tiền nhân sáng tạo và thể nghiệm lưu lại.

  Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo : Người đã có 65 năm gắn bó và nhiệt tâm với nhạc truyền thống Việt nam, nhứt là nhạc Tài tử Nam bộ.Aug 2, '08 9:46 AM
for everyone


 

Nhạc sư Vĩnh Bảo đàn đại tranh do ông sáng chế ra 

Có thể nói đây là một người vừa là nhạc sĩ trình tấu âm nhạc Tài tử Nam bộ theo kiểu ứng tác ứng tấu, nhà nghiên cứu âm nhạc, thuyết trình viên âm nhạc, giáo sư môn đàn Tranh Nhạc Viện Saigon từ năm 1956 đến 1964, giáo sư biệt thỉnh năm 1970 của Đại Học Illinois Hoa kỳ, từ nhiều năm sau nầy giảng dạy cách sử dụng đàn dân tộc cho người trong nước và qua Net cho một số người Việt và người ngoại quốc ở nước ngoài, một nghệ nhân đóng đàn Tranh có nhiều uy tín, đặc biệt là con người không khoe khoang, tự cao tự đại, luôn tự xem mình như là người đi tìm học, và lúc nào cũng muốn xan xẻ cái học hỏi và hiểu biết của mình với tất cả mọi người, bất kể lạ hay quen.

Năm 2005 ông được tặng giải ĐÀO TẤN. Năm 2006 Hội Nhạc sỉ Mỹ họp tại Honolulu vinh danh là một trong 5 bộ mặt lớn về nhạc truyền thông thế giới, tháng hai năm 2008 Bộ Văn hoá Pháp trao tặng Huân chương Văn học Nghệ thuật, loại Huân chương dành cho những ai có những đóng góp giá trị cho Nghệ thuật và Văn học thế giới.

Vất vả tìm kiếm mãi, cuối cùng tôi cũng có được số điện thoại của nhạc sư Vĩnh Bảo. Qua điện thoại đường xa Hà nội – Sàigòn, giọng nói sang sảng của ông ngỡ là thanh niên khó nhận ra là của một cụ già 90 tuổi. Ông bảo rằng còn hai tháng nữa ông mới tròn 91 tuổi ta. Thực tế cho thấy, trừ mái tóc bạc trắng, và làn da của người nhiều tuổi, gương mặt ông vẫn sáng, nhanh nhẹn, cách nói chuyện rất hấp lôi cuống người nghe.

Bài phỏng vấn nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, người đã có 65 năm gắn bó và nhiệt tâm với nhạc truyền thống Việt nam, nhứt là nhạc Tài tử Nam bộ.

Thưa ông, tên Nguyển vĩnh Bảo có vẻ như thuộc dòng dõi Hoàng tộc. Vậy giữa Nguyễn Vĩnh Thụy (cựu hoàng BẢO ĐẠI) và nhạc sư có vai vế thế nào ?

Tôi là người Nam bộ, sinh ngày 19 tháng 8 năm 1918 tại làng Mỹ Trà, Quận Cao Lãnh, tỉnh Sa đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp). Thân phụ tôi là Ông.Nguyển Hàm Ninh, người rất thích văn chưong thi phú và âm nhạc; sử dụng rất hay đàn Kìm, đàn Tranh và đàn Cò theo phong cách nhạc Tài Tử Nam bộ và Nhạc Lễ, đồng thời Ông hát bội cũng hay không kém kép hát bội.

Gia đình tôi gồm 4 trai và 3 gái (3 anh trai, 2 chị và một em gái).

Một số báo chí viết rằng nhạc sư biết chơi đàn từ khi lên 5 tuổi và nổi danh từ thuở lên 10. Điều đó có đúng không, thưa nhạc sư? Tới nay nhạc sư có thể chơi được bao nhiêu loại đàn và chơi giỏi mấy loại đàn?

Tôi bắt đầu tự môt mình mò mẩm chơi đàn. Khi lên 5 tuổi, học lóm, không có thầy bà ǵ cả. Lắng nghe các anh chị đàn rồi bắt chước.

Lứa tuổi đang đi học, yêu thích đàn. Vậy Ba Má nhạc sư có ngăn cấm không?

Thân sinh tôi không cấm cản, nhưng hạn chế việc chơi đàn của các con vì sợ xao lãng việc học hành. Mẹ tôi thì ngược lại, khuyến khích các con đàn, đích thân tìm thầy đàn giỏi, mời về nuôi trong nhà để dạy cho các anh em tôi đàn. Năm 10 tuổi, tôi bắt đầu sử dụng khá thành thạo đàn Kìm, đàn Tranh và đàn Gáo.

Có người cho rằng nhạc sư là người có nhiều thầy dạy đàn nhất Việt nam, tính tới 200 người, như vậy có quá không, thưa nhạc sư?

Tính rõ ra thì tôi chỉ học đàn trực tiếp với 4 ông Thầy:

Thầy Hai Lòng ở Tam Bình (Vĩnh Long),

Thầy Sáu Tư (Cần Thơ),

Thầy Năm Nghĩa (Trà Ôn),

Thầy Ba Sáng (Trà Vinh).

Nhưng từ năm 10 tuổi đến bây giờ, trong giao lưu âm nhạc, tôi đã may mắn được tiếp xúc với khoảng 200 nhạc sư nhạc sĩ khắp 3 miền đất nước. Tinh thần cầu tiến, tính khiêm nhường, tự xem mình là người đi tìm học, cái gì chưa hiểu thì hỏi, không biết thì học. Bất kỳ người nào tôi gặp, tôi đêu thấy họ có một cái gì đó đáng cho tôi học. Nếu nói theo kiểu “nhứt tự vi sư, bán tự vi sư” (một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy) thi tôi có rất nhiều thầy, nhưng tôi lại không lệ thuộc vào một thầy nào cả. Nhạc nào, cây đàn nào tôi thấy cái hay và thích học. nhờ vậy, ngoài sở trường là đàn Tranh, tôi còn sử dụng được đàn Kìm (Nguyệt), Tranh, Cò (Nhị), Gáo (Nhị hồ), Đoản, Tam, Xến, Độc huyền (Bầu), Guitare móc phím, Mandoline, Vĩ cầm (violon bản Việt) và 3 năm đàn Dương cầm (piano) nhạc cổ điển Tây phương (mục đích học là để mở rộng thêm kiến thức, không có mộng làm thầy dạy piano). Ngoài nhạc Tài tử Nam bộ, tôi cũng học qua và chơi được đôi chút nhạc Tài Tử Huế và một số Điệu của Miền Bắc.

Nhạc sư có được mấy con và mấy người nầy có chơi nhạc không?

Tôi có 7 con. Một gái 6 trai. Tất cả đều chơi khá hay về đàn Kìm (Nguyệt), Tranh (Thập lục), Bầu nhạc Tái tử Nam bộ.

Các anh chị củng như các con của nhạc sư có bao nhiêu người hành nghề âm nhạc?

Tất cả anh em tôi đều là Tây học và chơi đàn theo phong cách nhạc Tài tử Nam bộ. Không ai sống về âm nhạc, kể các con tôi, chỉ có 2 đứa đeo theo nghề đóng đàn dân tộc.

Nghe nói nhạc sư được Trường Quốc Gia Âm Nhạc mời dạy đàn Tranh. Tại sao họ biết nhạc sư để mà mời?

Tôi sống với nghề dạy Pháp văn. Âm nhạc là ni đam mê của tôi, Những giờ rỗi rảnh, tôi thường cùng bạn nhạc sĩ đi đàn ca nơi nầy nơi nọ, thỉnh thoảng đàn chơi trên đài Phát thanh và Sân khấu Cải lương. Năm 1938 (20 tuổi), hãng dĩa KELLER (Đức quốc) tại Sàig̣òn mời tôi đàn vô dĩa nhựa BÉKA. Có lẽ nhờ vậy mà tôi được nhiều người biết đến.

Năm 1956, lần đầu tiên Sàig̣òn thành lập Trường Âm Nhạc. Giám đốc đồng thời là sáng-lập-viên là Ô. Michel Nguyễn Phụng,người sanh trường ở Bến tre. Chính Ô. Michel Nguyển Phụng mời tôi dạy đàn Tranh, và kiêm luôn Trưởng Ban Giáo sư nhạc Miền Nam. Ngoài việc dạy đàn, tôi còn có những đóng góp khác như là soạn giáo trình, ghi chép bài bản giảng dạy, mời một số nghệ nhân tên tuổi Sân khấu Cải lương và Hát bội. Năm 1964 tôi rời trường về nhà tiếp tục dạy đàn tại gia và lo việc đóng đàn.

65 năm sự nghiệp, ngón đàn Tranh của nhạc sư được người sành nhạc đánh giá là sang trọng, đài các, dẫn dắt người nghe thư thái vào thế giới âm thanh, lâng lâng qua cách nhấn, vuốt rất đặc biệt. Nhạc sư có thể cho độc giả biết là để có tiếng đàn quyến rũ lãng người, nhạc sư đả khổ luyện như thế nào?

Âm nhạc gắn liền với cuộc sống sâu kín của tôi, giúp tôi thấy đời thật là đơn giản nhưng thật là đẹp, thật là phong phú, gắn chặt tôi vào xứ sở nầy. Nó cho tôi dòng nghị lực để thắng chính mình, không quá bận tâm mình đang sống ra sao, để bằng lòng với cái tối thiểu mà cuộc sống mang lại. Cuộc sống không cho mình uốn theo ý của mình. Nó chỉ đãi ngộ những ai ít đòi hỏi, biết phục tùng. Có phản kháng, cũng chả được gì. Mỗi khi đàn, tôi cảm thấy mình đang đắm chìm trong trạng thái tỉnh lặng, đưa tôi gần gũi với Thiền. Khi đàn, tôi chắc chiêu nuôi dưỡng từng câu, từng nốt nhạc, để nói thay tôi những vui buồn của cuộc sống đậm nét hào hoa, phong sương cũng lắm, phong ba cũng nhiều. Nhiều người thích lối đàn ứng tác ứng tấu của tôi, trong đó có anh Nguyễn văn Đời, nhạc sinh Trường Quốc gia âm nhạc, sau 1975 là Trưởng khoa nhạc dân tộc Nhạc viện Sài gòn thốt lên câu: tiếng đàn của Thầy Vĩnh Bảo là phù thủy, liêu trai.

Có phải nhạc sư là một trong những nhạc sư nhạc sĩ hiếm hoi của Việt nam chơi đàn ứng tác ứng tấu, là người duy nhất vừa là nhạc sĩ trình tấu, vừa là giáo sư giảng dạy âm nhạc âm nhạc truyền thống và đóng đàn sáng tạo dân tộc?

Không riêng gì tôi, phần đông nhạc sĩ nhạc truyền thống đều không những là người diễn tấu đơn thuần, mà còn là người đàn theo kiểu ứng tác ứng tấu theo tâm tư tình cảm, lúc đàn tô điểm vẽ vời thêm hầu bản đàn của mình mang một sức sống mới.

Những người biết nhạc dân tộc ngày càng ít đi? Ông có góp ý gì để bảo tồn nhạc dân tộc và những tinh hoa mà cả đời ông đã có?

Ai ai cũng nhìn nhận nhu cầu tất yếu là bảo tồn kho tàng Nghệ thuật dân tộc của Ông Cha ta đã dày công sáng tạo và thể nghiệm lưu lại cho chúng ta. Nhưng khi nói về đường lối bảo tồn, bởi không nắm vững truyền thống, nên chỉ nói qua loa theo cảm tính, rốt cuộc không đi đến đâu. Bằng cớ đã cho thấy giới trẻ ngày nay rất mơ hồ về cái kho tàng nầy, chưa thấy đuợc cái tầm quan trọng của nó. Nghệ thuật chung, trách nhiệm chung. Sự đóng góp của mỗi người tuy có khác nhau, nhưng việc làm của mỗi người đều được đời sau tôn vinh nếu nó có một ý nghĩa nào đó, được nhiều người chấp nhận, tìm nghe và học. Tôi cũng nuôi mộng xan xẻ phần nào về những gì đã học và biết, nhưng chẳng biết đóng nơi nào và góp với ai? Tôi đề nghị hướng dẫn cho người ta đàn cho đúng phong cách nhạc Tài tử Nam bộ, người ta bảo là đã có người rồi. Tôi lùi lại một bước, xin dạy cho cách lên dây đàn, người ta bảo đả có người đảm nhiệm việc nầy rồi. Quay sang qua xin làm thính giả để vỗ tay cổ võ. Người ta bảo đã có người vỗ tay rồi. Thế là tôi phải chịu thua và đi chỗ khác chơi, để rồi âm thầm lủi thủi đơn đôc trên con đường bảo tồn và xây dựng âm nhạc trong cái tối thiểu của mình.

Có phải nhạc sư là người cải tiến đàn Tranh 16 dây ra đàn Tranh 17, 19 và 21 dây, và việc cải tiến nầy ông bị nhiều chỉ trích. Nhạc sư có thể cho biết việc cải tiến nầy nhạc sư ấp ủ bao lâu và đã đem lại lợi ích gì?

Như chúng ta biết, nhạc khí vẫn đóng một vai tṛò quyết định trong việc tiến triển của âm nhạc. Cứ nhìn sơ qua hai nhạc khí Vĩ cầm (Violon) và Dương cầm (Piano) cũng đủ cho chúng ta thấy cái tầm quan trọng của nhạc khí. Nếu các đại nhạc sĩ không có trong tay những cây đàn Dương cầm và Vĩ câm như ngàỳ nay chúng ta thấy, thì thế giới sẽ mất đi cái hào hứng thưởng thức những áng nhạc tuyệt vời. Nhạc khí của ta âm thanh kêu không to và mang một vài khuyết điểm cần bổ túc. Ví dụ cây đàn Tranh 16 dây: mặt đàn quá cong, khó đàn. Con nhạn đứng không vửng trên mặt đàn. Trục đàn hay tuột. Mỗi khi đàn đứt dây phải mất nhiều thì giờ để mắc dây lại. Đàn dân tộc khi lên dây thì áp dụng âm giai ngũ cung (chỉ có 5 nốt chánh là: Hò xự xang xê cống - tạm dịch là Sol la do ré mi - do đó, khi đàn từ bản nầy sang bản khác, nguời đàn phải chỉnh dây lại cho phù hợp với bản.

Việc cải tiến đàn Tranh bắt đầu từ năm 1950, nhưng mãi đến năm 1955 mới ra mắt cây đàn Tranh 17 dây. Đàn Tranh cải tiến, kích thước to hơn đàn Tranh 16 dây, Âm thanh vang to và đẹp, tránh đựơc phần nào việc chỉnh dây lại. Việc làm của tôi lúc ban đầu gặp nhiều chỉ trích từ phía nhạc sư nhạc sĩ. Nhưng khi nghĩ rằng mình đi đúng hướng thì đường tôi mạnh dạn đi. Năm 1955, tôi cho ra đời cây đàn Tranh 17 dây. Năm sau là đàn Tranh 19 và 21 dây. Khi đàn Tranh của tôi ra đời thì những nhà sản xuất đàn ngưng sản xuất loại đàn Tranh 16 dây để nhái theo kiểu đàn của tôi.

Việc làm của tôi không vì danh vì lợi mà là nhằm phục vụ cho nghệ thuật, Trong lãnh vực nào cũng có cái màn nhái và bắt chước, đó là chuyện bình thường. Nhưng cây đàn không phải là cái bàn hay cái ghế. Dã sử có nhái bắt chước thì cũng chỉ là nhái bắt chước cái bên ngoài của nó mà thôi chớ không phải cái linh hồn của nó, cái mà người chơi đàn đam mê. Người sành điệu, khi chọn cây đàn là cho lỗ tai chớ không phải cho con mắt. Có một số người làm đàn nghĩ đơn giản rằng chỉ cần bỏ tiền ra mua một cây đàn tốt, về tháo ra xem và bắt chước làm y chang, như vậy là được. Người ta đã quên rằng miếng gỗ mà họ dùng để bắt chước nó không cùng tuổi, cùng tính chất vật lý với gỗ của cây đàn mà họ bắt chước. Gỗ làm đàn không như miếng thau, miếng thép, cùng độ cứng (dureté), dẽo (flexibilité) như nhau. Nhiều miếng gỗ xả ra từ một khúc, vẫn có khác nhau về tính chất vật lý.

Muốn tạo ra một cây đàn âm thanh tương đối tốt, thì người đóng đàn, tối thiểu phải hội đủ những điều kiện như sau:

a. PPhải là nhạc sĩ, hay biết sử dụng loại đàn mà mình đóng, để khi đàn làm xong, đàn thử, đánh giá chất lượng âm thanh của nó, xem cây đàn dễ hay khó đàn.

b. TThẩm âm của tai để nhận ra âm thanh (sonorité) và âm sắc (timbre) của cây đàn.

  1. Vật lý của gỗ (mềm, cứng, vân của gỗ) (propriétés physiques des bois).

d. LLuật về Âm-thanh-học (acoustique).

e. Nghề mộc và thẩm mỹ.

Một cây đàn có nhiều bộ phận khác nhau. Mỗi bộ phận mỗi vai trò, nhưng chúng lại liên kết chặt chẻ với nhau. Điều quan trọng là làm sao hài hòa chúng lại.

Gỗ dùng làm đàn cũng đóng vai trò quan trọng. Mặt đàn cũng như đáy đàn không phải cây đàn nào cũng cùng một độ dầy y chang như nhau. Không thể định trứoc độ dầy của mặt và đáy đàn khi trong tay chưa có miéng gỗ. Tóm lại là phải đánh giá đúng mức tính chất của gỗ (sentir le bois).

Thời gian bỏ ra để thực hiện một cây đàn tốt thì không lâu bằng thời gian dành cho sự tính toán. (le travail du luthier est mental. Ce travail prend beaucoup plus de temps que l’opération elle-même).


Ông học máy vi tính đã rất lớn tuổi. Việc học đó có khó khăn không?

Năm 2003 có người học trò bên Mỹ gửi về tặng một máy vi tính. Tôi nhờ con gái tìm thầy dạy cho tôi. Nhưng vì nó bảo là dạy cho ông già ngoài 80 nên chờ mãi không con ma nào đến. Tôi bảo con gái chỉ nói là mời đến dạy cho người nhà. Một hôm một cậu dạy vi tính đến, gặp tôi hỏi: Thưa Cụ, nhà ai học vi tính? Tôi trả lời “tôi học”. Cậu nầy khựng lại, trố mắt nhìn tôi và định quay lưng ra về. Tôi hỏi: Câu xem tôi học được không? Với giọng yếu ớt “Thưa Cụ, Cụ học được cơ ạ”. Tôi học 4 buổi rồi ngưng không học nữa, và tiếp tục tự mò. Nhờ biết chút ít tiếng Anh, nên tôi không thấy có gì là khó lắm.

Theo nhạc sư vì sao người trong và ngoài nước lại muốn học đàn dân tộc và chọn cách học qua vi tính mà nhạc sư đã tạo ra? Được biết nhạc sư là người Việt nam cao niên nhất trên thế giới dạy nhạc truyền thống qua internet cho học trò,. nhạc truyền thống lâu nay là dạy theo truyền khẩu truyền ngón, thầy trò ngồi đối diện nhau. Khi dạy cho người ngoại quốc hay người Việt chưa biết tí gì về nhạc dân tộc Việt nam, Nhạc sư đã gặp những trở ngại gì ?

Phong trào chơi nhạc dân tộc ngày càng thịnh hành. Một số người trước đây đã thờ ơ với nó hay khinh thường nó, nay tìm học, nếu không phải để trở thành nhạc sĩ, thì ít ra cũng có được một số kiến thức nào đó hầu thưởng thức nó.

Việc dạy qua internet thiết nghĩ nhạc sĩ nào cũng làm được như tôi hoặc hơn tôi. Miễn là bản đàn soạn ra cho rõ ràng, cộng thêm phương pháp giảng dạy có sư phạm. Lối dạy của tôi là theo kiểu đo ni đóng giày. Đối với những người chưa biết nhạc, hoặc có chơi chút ít một loại đàn dân tộc hay của nước ngoài thì tôi tạm mượn phương pháp ký âm bản đàn theo Tây phương (Do ré mi fa sol la) để giúp họ dễ làm quen với Hò xự xang xê công Việt nam và phương pháp ký âm do tôi sáng chế. Người nước ngoài học đàn với tôi Việt có, Pháp, Mỹ có.

Họ liên lạc với bằng ngoại ngữ Pháp hay Anh, ngoài ra cũng có một số người Việt, yếu tiếng Việt, cũng dùng ngoại ngữ với tôi. Dạy đàn ví như việc làm dâu trăm họ. Tôi nuông chìu từng người. Một số người, kể cả nhạc sĩ cho rằng tôi quá dễ tính, e rằng khó tránh bị người xem thường. Tôi đáp: nhạc dân tộc có thể vì như hàng ế khách, do vậy phải bán theo kiểu khuyến mải (sale/solde), bán một tặng một. Làm khó làm dễ, họ bỏ cuộc.

Bản đàn nhạc dân tộc, nhạc sư chép theo Hò xự xang xê cống. Tại sao không áp dụng cách ký âm Tây phương Do ré mi fa sol la cho nó rõ ràng?

Tôi nhìn nhận lối ký âm của Tây Phưong khoa học và chính xác. Nhưng lối ký âm nầy, đối với nhạc truyền thống như Việt nam, Trung Quốc, Ấn độ, Nhựt bổn thì vấp phải những bất tiện như sau:

Một là: khi xướng âm bản nhạc Việt theo Do ré fa sol la thì người nước ngoài họ ngạc nhiên tự hỏi một dân tộc với bốn ngàn năm văn hóa văn hiến lại không nặn ra nỗi tên nốt đàn của mình mà phải đi vay mượn của người khác?

Hai là: khi xướng âm bản đàn Việt theo Ḥò xự xang xê cống, người nghe cảm thấy thấm thía hơn là theo Do ré fa sol la.

Ba là: ký âm theo Do ré fa sol la thì không ghi được những trang trí như: rung, mổ, nhấn, luyến láy là nét đặc thù của nhạc Việt nam, tương tự như nói tiếng Việt không có dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Nhạc sĩ Tây phương không đặt trọng tâm vào những trang trí nốt đàn, nhưng đối với nhạc Việt nam thì rất là quan trọng, bởi chúng nói lên cái Điệu thức (mode) và Hơi (air) của bản đàn.

Bốn là: Bản đàn ghi là nốt Mi. Nhạc sĩ phương tây thì đàn ngay nốt Mi. Còn nhạc sĩ truyền thống cho rằng đàn như vậy thì nghe khô khan, không hay bằng mượn nốt nhấn ra Mi.

Năm là: Bản đàn ký âm theo phương tây, người nhạc sĩ quan niệm là một thực thể cố định, bất biến, viết sao đàn vậy, không dám thêm hay bớt. Chúng ta cũng đừng quên rằng người nhạc sĩ truyền thống không chỉ là người diển tấu đơn thuần, mà còn là người vừa ứng tác ứng tấu ngay khi đàn, tùy theo tâm tư tình cảm thêm thắt hoa lá vẽ vời cho bản đàn của mình mang lại một sức sống mới. Do đó, một bản đàn thường khi có nhiều dị bản, và người nghe sẽ đánh giá tài năng của nhạc sĩ xuyên qua những dị bản cá nhân.

Sáu là: Triệt tiêu sức sáng tạo của nhạc sinh, bởi bản đàn viết sao thì đàn vậy.

Bảy là: Đánh mất đi cơ hội khi nhạc sinh có nhu cầu thu thập cái hay của từng nhạc sĩ. Lý do là nhạc sĩ truyền thống không rành Do ré fa sol la, mà nhạc sinh thì không hiểu Hò xự xang xê cống là gì, như vậy thì làm sao mà trao đổi?

Tám là: Việc làm nầy vô tình loại đi những bực thầy giỏi về nhạc truyền thống.

Gần một thế kỷ là nghệ sĩ đàn ca Tài tử, Năm 2005 được giải ĐÀO TẤN, năm 2006 được tôn vinh tại Hội nghị âm nhạc tại Honolulu và 2008 Chánh phủ Pháp trao tặng Huân chương Văn Học Nghệ Thuật. Những điều đó có làm cho nhạc sư hãnh diện không? Những giải thưởng đó có làm đơn xin không?

Mình biết mình. Người liêm sĩ, biết tự trọng, không nên xin ơn mưa móc của ai. Việc Chánh phủ Pháp tặng Huân chương Văn học nghệ thuật cho tôi là chuyện bình thường. Nước văn minh, tự do, không có tinh thần bộ lạc. Họ có nhiệm vụ khám phá ra nhân tài và bảo vệ họ, bất kể luận nhân tài ấy là ai, quốc tịch gì. Bằng khen và Huân chương nói trên mang đến cho tôi cái vui và an tâm thấy việc làm của mình được người biết và nhìn nhận. Nói về hãnh diện thì hoàn toàn là không, bời còn bao người như tôi, giỏi hơn tôi hiện còn nằm trong bóng tối .

Xin nhạc sư cho biết đầy đủ của tấm Huân chương.

Tôi chỉ được Đại sứ Pháp ở Hànội báo tin qua điện thư là Chánh phủ Pháp ký ban Huân chương cho tôi vào ngày 26 tháng 2 năm 2008, nhưng mãi cho đến nay vì chưa trao, nên tôi không thấy mặt mũi của nó ra sao. Mặc dù vậy, tôi cũng hiểu đôi chút Huân chương nầy Arts et Lettres là dành cho những ai có đóng góp đáng kể vào Nghệ Thuật Văn Học trong hay ngoài nước và có liên hệ mật thiết với việc xây dựng văn hóa nước Pháp.

Tài hoa như nhạc sư, hồi trẻ có nhiều bóng hồng lai vảng lắm, và tình yêu chắc chắn cũng “sôi nổi” một thuở, đúng không, thưa nhạc sư? Đã là nghệ sĩ tài hoa thì dù có gia đình cũng vẫn có những người đẹp phải lòng thời trai trẻ không. Thưa nhạc sư?

Phần đông người ta hay nghĩ rằng khi rơi vào một trong bốn vách “Cầm, kỳ, thi, họa”, muốn để có nguồn cảm hứng là chỉ cần có một cuộc sống lãng mạng trát tán, ví dụ như nhiều bạn gái, biết nàng tiên nâu, nhậu nhẹt. Nhạc làm dịu lòng người. Một nhạc sĩ, đúng với cái tên gọi, có nhiệm vụ làm ấm lại những gì đã lạnh, đôi lúc khóc thầm trong khi mọi người xung quanh mình cười. Tôi luôn luôn đứng sau mọi người để phục vụ. Lấy cái vui của người khác, làm cái vui của minh. Cái khổ đau, cái bất hạnh của người làm của minh. Không tự làm khổ mình, đánh mất mình, nên việc dùng tiếng đàn để chinh phục trái tim người khác là điều tối cố gắng kiên cử.

Khi ôm trong tay cây đàn thì một trăm phần trăm tôi là nhạc sĩ, tự do thả hồn theo mây gió. Nhưng khi buông đàn ra, thì tôi trở lại là con người bình thường, sống có ngăn nấp trật tự. Tôi chấp nhận cuộc sống lâu nay của tôi là “nhứt nhựt tri nhứt nhựt” trong căn nhà nhỏ trong một hẻm cùng, rất ít bàn ghế. Khi đọc sách, viết lách hay tiếp khách, bất luận khách thuộc thành phần nào, tôi luôn ngồi bệt trên nền gạch, mà không có gì phải đỏ mặt khi tự vạch lưng cho người ta thấy cái nghèo của mình.

Sàigòn, 01-08- 2008

VĨNH BẢO

Liên lạc :

Nhạc sư NGUYỄN VĨNH BẢO

Những dĩa hát ông đã thu ở Pháp :

Dĩa 30cm/33 vòng

1. « Vietnam/ Tradition du Sud » với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần Văn Khê, OCORA OCR 68, Paris, 1973

2. « South Vietnam : Entertainment Music » với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần Văn Khê, Philips 6586028, collection UNESCO Musical Sources, Amsterdam, Hòa Lan, 1973

Dĩa CD

3. « Vietnam/Tradition du Sud » par Nguyễn Vĩnh Bảo et Trần Văn Khê, CD, OCORA C580043, Paris, 1993.

4. « Vietnam / Tradition of the South », by Nguyễn Vĩnh Bảo and Trần Văn Khê, AUVIDIS D 8049, UNESCO Collection, Paris, 1993

5. « Musique du Vietnam / Ensemble Nguyen Vinh Bao », OCORA C 560 160, Paris, 2002

Sách về đàn tranh

Nguyễn Vĩnh Bảo, 2003 : « Thử tự học đàn tranh », Trung tâm văn hóa thông tin tỉnh Long An, 229 trang, CD minh họa, 100 giai điệu bài bản cơ bản, tài tử cải lương .

Địa chỉ của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo

282/B21 Bùi Hữu Nghĩa

Ph 2, Q. Bình Thạnh

TP Hồ Chí Minh

Việt Nam

Điện thoại : 84-8-8430 454

Điện thư (email) : vb1908@gmail.com

hình trích từ trang nhà http://vinhbao.theonly1.net

 

 

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4819864