 | | Bùi Trọng Hiền - Ảnh: :Ngọc Hà |
Gặp gỡ Trông lành lành thế mà Hiền ngang lắm, cơ quan khuyến khích, rồi cả bắt đi học tiến sĩ thế nào cũng không chịu. Ở Viện nghiên cứu, cơ quan chuyên môn của Bộ, ai cũng cần gắng phấn đấu trên đường học thuật. Vậy mà Hiền cứ tửng từng tưng, lại còn bảo: Mài đít quần mấy năm trên ghế nhà trường để mà các nghệ nhân chết hết rồi thì nghiên cứu cái gì! Anh dành thời gian lao vào sưu tầm, điền dã nhạc cổ, gặp hết cụ này tới cụ kia, thân thiết với các cụ như con, như cháu. Nhiều cụ quý lắm, cụ Hà Thị Cầu còn nhận Hiền làm con nuôi. Xông xáo vào khắp chốn, tài tử Nam Bộ, ca trù, hát văn, các nhạc cụ truyền thống..., Hiền làm việc như được tận hưởng hạnh phúc. Anh "tuyên bố", làm việc còn nhằm thoả mãn chính mình, làm việc xong mà không có ai công nhận thì... tôi đốt tôi sưởi. Ban đầu, Hiền học làm nhạc công, anh tốt nghiệp đàn bầu hệ sơ cấp, rồi Trung cấp Nhạc viện Hà Nội, chuyển qua lí luận bậc Đại học rồi dạy ở trường sáu năm (1990 - 1996). Chuyển về Viện, Hiền vẫn giảng dạy môn Âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam tại khoa Sử Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội. Lần nọ vào lớp mới, học trò nhìn thầy giáo trông chả giống ai, chả đứa nào đứng lên chào. Thầy bảo bê cái ghế xuống cũng không ai làm. Được rồi, Hiền mỉm cười, anh giảng một mạch từ đầu giờ chiều đến hơn 6h tối, không giải lao, kiến thức nhạc cổ ào ào tuôn chảy. Học trò nhìn nhau, mắt tròn mắt dẹt. Về sau khi đã thân mật, chúng bảo: Hôm ấy, trông thầy giống thằng nào ý! Đại ngàn trong phòng làm việc Hiền bước tập tễnh vì hồi thanh niên bị tai nạn tàu điện, nhưng anh đi nhanh hơn tôi tưởng, hơn cả đám chúng tôi, vốn quen chạy thể dục hàng sáng. Anh đưa chúng tôi về phòng làm việc và mở máy vi tính... Từ cái “hộp đen” - sản phẩm của công nghệ hiện đại, những âm thiêng của đại ngàn cổ xưa vang xa, tràn ngập... Đâu đây, sự chuyển rung của giông bão, những thành ý nguyện cầu, từng lời thề thốt, những kiêng kỵ trong luật tục buôn làng, những huyền tích trầm sâu trong hơi thở của màn đêm rừng già, tiếng ì ầm xa xa của thác cao và đá núi, tiếng hò reo, tiếng rú trong lễ đâm trâu, tiếng than khóc trong lễ bỏ mả, niềm hân hoan mừng mùa cơm mới, rượu cần nghiêng ngả, ché tuk ché tang va vào nhau lanh canh... Hiền say sưa: Chiếc cồng lớn đen thui như con trâu mộng, núm của nó pha vàng mười. Đánh vào đó, rầm một cái..., âm thanh chảy lãng đãng trong không gian... Những thang âm dồn dập, hoà quyện, cả giọng nói của Hiền nữa, tôi thấy chính anh cũng biến thành một dàn chiêng trong nắng gió đang tuôn trào dữ dội. Cả một không gian hùng vĩ, cao vời vợi của trời xanh, sâu hút của vực thác, rộng rãi của đất đai và xa xôi, dài lâu của nghìn năm cao nguyên, đang ùa đến không ngừng trong gian phòng bé nhỏ. Quăng mình theo âm thiêng Hiền đã theo cồng chiêng giống như người ta nói về những kẻ chót “ăn phải bùa bả” của núi rừng. Ngày đầu mẹ ốm, vợ đang bụng mang dạ chửa, sắp sinh. Hiền từ chối cuộc điền dã hệ trọng - có tính chất quyết định cho việc UNESCO công nhận Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên. Nhưng rồi tháng 5 của 2004, anh lên xe với các đồng nghiệp Viện Văn hoá thông tin, giữa lỉnh kỉnh máy móc để đi sâu vào mùa mưa cao nguyên lết bết bùn. Cứ bước được một đoạn, họ lại phải lấy que gợt đế giày cho nhau. Có khi xe con bị sa lầy, phải nhờ xe tải vào kéo. Một tháng cấp bách và ròng rã, đi và làm việc, từ Bắc tới Nam Tây Nguyên, qua bao nhiêu buôn, sóc, thu âm hàng trăm bài cồng chiêng, quay tư liệu các lễ hội, phỏng vấn, ghi chép tỉ mỉ, ăn nằm ở đậu dưới nhà rông, nhà dài, sẻ san với rừng núi khoáng đạt, với những con cái của đại ngàn: Chu ru, Mạ, Xê đăng Xteng, Jarai Aráp, Mnông Gar, Mnông Buđongnoong, Bana Concơđe, Êđê Kpar, Êđê Bir... Bắt đầu từ Lâm Đồng, sang Đăk lăk, Gia Lai, xuống Kon Tum, Đăk Nông, trở về Đăk lăk, quay lại Đăk Nông, lại Đăk lăk, qua Gia Lai rồi xuống Quy Nhơn về Hà Nội. Một cuộc đi như bước chân vào huyền thoại. Khi trở ra, đoàn cán bộ trông giống “bầy người rừng”, đen đúa và hốc hác. Hiền kể lại: Nếu vào sâu quá, chúng tôi ngủ lại, còn thì đều cố trở về nhà nghỉ để tắm giặt và ăn uống cho khỏi kiệt sức. Chai Lavi mở ra, nửa ngày đã thiu, nếu không phải toàn người khoẻ, công việc đã bị đình trệ. Vào khi đã gần qua mùa lễ hội, chúng tôi phải nhờ đồng bào dựng lại rất nhiều. Có những hôm thu âm suốt đêm, sáng ra mới biết có nhiều đồng chí công an mặc thường phục gác mấy vòng quanh khu vực. Lại có lần đồng bào mời, bước lên sàn lúc nhập nhoạng, cầm lấy cái bát, chưa kịp ăn tay đã nhờn mỡ... Rồi tinh mơ hôm sau, chẳng bảo nhau, từ đoàn nghiên cứu đến lực lượng an ninh, ai cũng có mặt ngoài suối... Bừng sáng trong cuộc lao lực Ra Hà Nội một cái là Hiền giam mình trong phòng kín. Năm tháng ròng không thứ Bảy, không Chủ nhật, hầu như chỉ toàn ăn cơm với mù tạt, mạch máu nổi rần rật như hai cái đũa bên thái dương. Nói chuyện với chúng tôi, tức là sau thời điểm đó một năm, những lúc “cao trào”, Hiền vẫn phải ngừng lại, đưa ngón tay lên giữ... Năm tháng, Hiền làm được cái việc từ trước đến nay chưa ai làm nổi - là nghe, đo đạc thang âm, lập tổng phổ các bài cồng chiêng. Anh chỉ lên màn hình, ở đó, từng khuông nhạc kéo ngang, những nốt nhạc nhảy nhót đều đặn, và âm thanh vẫn lang thang không ngừng. Bè trầm bò lan man, bè cao thánh thót, bè trung êm nhẹ, bè chính xuyên ngang vững chãi và hoà âm đi mênh mang... Nhiều dàn chiêng được bồi thêm bởi trống trầm hùng, chũm choẹ gai xóc xóc như nắm đinh trong hộp, và có cả những tiếng thét... Căn phòng nóng lên, người nghe muốn đứng dậy để đưa chân theo một chuyển động mơ hồ nhưng mạnh mẽ. Hiền nói: Khoảng cách nghe xa hay gần, người nghe đứng ở “khúc giữa”, phía đầu hay cuối..., đều nhận được hiệu ứng âm thanh khác nhau. Dàn chiêng đi theo đường thẳng, đi vòng tròn hay hình rắn bò..., hiệu ứng đến tai người nghe cũng khác nhau. Đó chính là hiệu ứng âm thanh nổi rất thú vị. Hiền còn giải thích, đại đa số các bài bản đều kết cấu theo mô hình cố định, gọi là những cấu trúc môđun hay cấu kiện đúc sẵn, vì thế mỗi dàn chiêng là một cây đàn lớn mà mỗi người chỉ đảm nhận một nốt, khi biểu diễn, cây đàn cứ trở đi trở lại những nốt đó theo một thứ tự đều đặn mà không ai quên vị trí của mình. Và điều này nữa, chính nó càng làm cho Hiền nhọc, mỗi tộc hay nhóm tộc người lại thể hiện những thang âm khác nhau, các dàn chiêng cũng có số lượng nhiều ít khác nhau, có khi chỉ vài chiếc, có lúc lên tới 16, 17 chiếc... Không còn cách gì khác là phải nghe hết, thử hết. Hỗ trợ cho anh là một chiếc máy đo thang âm mà con trai của GS Trần Văn Khê mến tặng. Nhưng máy thường đọc cả âm bồi của chiêng, gây khó khăn khi xác định âm chính, nên Hiền phải căn cứ trên dây rung và chủ yếu nghe bằng tai. Năm tháng trời, mở máy, nghe, ghi chép, lúc nào cũng nghe, đêm, ngày, bất kỳ lúc nào có thể được, tổng cộng gần 100 cái cồng, chiêng, Hiền bị thông tai, loét dạ dày, đi ngoài ra máu, từ 70 cân to khoẻ, xong việc, Hiền tụt xuống 61. Thân hình cao lớn của anh, khi ấy trông lòng khòng... Ngày 20 tháng 11 của năm 2004, học trò đến cảm thông: “Cồng chiêng ăn thịt thầy!”. Chạy nước rút Xong phần việc của Hiền thì tình hình đã cấp bách, hạn gửi bộ hồ sơ sang UNESCO ở Paris đã sát sườn. Anh lại hỗ trợ cùng đồng nghiệp vắt chân lên cổ để soạn, sửa, chỉnh lí tài liệu, phim, ảnh... cho bộ hồ sơ nặng 6 cân kịp lên máy bay sang Pháp. Từ khi bắt đầu lên xe cho đến lúc hoàn thành mọi việc, đến ngày cồng chiêng vinh danh, và có lẽ sau này nữa. Là cả một chặng đường rã rời mà tôi nghĩ, mai kia Bùi Trọng Hiền sẽ viết hồi ký, những trang giấy thấm đẫm nụ cười, nước mắt, buồn vui, lo toan, băn khoăn, sung sướng, và cả phẫn nộ... Hiền không bao giờ quên được cuộc gặp gỡ Giáo sư Trần Văn Khê ở Hà Nội vào năm 2005. Chiều hôm trước, với tư cách là người đánh giá phản biện bộ hồ sơ và cố vấn cho Hội đồng UNESCO trong việc thẩm định và công nhận Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Giáo sư gọi điện hỏi Bùi Trọng Hiền là ai, và ông muốn gặp, vì hình như... bộ hồ sơ "có vấn đề". Cả đêm Hiền không ngủ. 10 rưỡi sáng hôm sau, 25 tháng 5, anh có mặt ở khách sạn trên đường Nguyễn Thái Học, gặp cụ, bỗng nhiên anh run. Vốn am hiểu về cồng chiêng nhiều nước khu vực Đông Nam Á, Giáo sư Khê hỏi anh về sự độc đáo của cồng chiêng Tây Nguyên, Hiền trình bày còn ông cụ quay camera. Vô tuyến và các đồ đạc trong phòng được bày ra làm dàn chiêng ví dụ để Hiền diễn giải. Hai bác cháu chỉ nghỉ ít phút ăn trưa. Anh rời khách sạn lúc 5h chiều, trong người như có những đôi chân nhảy múa. Về sau, Giáo sư Khê nói với báo chí: Hồi tôi đọc hồ sơ cồng chiêng mà chưa đọc phần của Hiền, thì tôi thấy nó có lạ, có hay nhưng không thấm đến nỗi để mình khen một cách rất mạnh dạn. Những nhận xét của Hiền soi sáng cho tôi thấy được những điều độc đáo của hồ sơ cồng chiêng. Và trong thành ý của mình, Giáo sư mong mỏi công trình của Hiền về cồng chiêng Tây Nguyên sẽ được xuất bản sang tiếng Anh, tiếng Pháp, để nhiều người trên thế giới cùng hiểu được sự tuyệt vời của cồng chiêng Tây Nguyên. Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là di sản phi vật thể và kiệt tác truyền khẩu của nhân loại. Niềm phấn khởi lớn lao đối với văn hoá Việt Nam, mà trước hết là sự vinh danh cho đồng bào Tây Nguyên - những người gìn giữ và lưu truyền hơi thở đại ngàn. Rồi đến những người đã tham gia làm nên thành công của cuộc chạy nước rút. Lễ hội cồng chiêng và đón nhận danh hiệu Di sản phi vật thể và kiệt tác truyền khẩu của nhân loại được tổ chức ở Tây Nguyên vào giữa tháng Ba năm 2006, Hiền sướng đến chảy nước mắt. Nhưng có một nỗi đắng đót mà ít người biết. Đó là hồi đi điền dã, ở Tây Nguyên ra ngày mùng 7, thì sáng mùng 8 vợ Hiền đẻ con trai. Da mũi thằng bé mốc hết cả, mọi người bảo là nó nhớ bố. Được hơn một tuần, vợ anh bế con về bên ngoại. Năm nay tuổi tròn 40, chưa già nhưng lúc được hưởng niềm hạnh phúc làm bố cũng không còn sớm. Hôm chúng tôi gặp, Hiền vẫn lọ mọ ngày đi làm, tối về cơm nước một mình. Không biết bây giờ thế nào rồi...
NGUYỄN QUANG HƯNG |