Các bạn có biết rằng từ lâu tôi có nhiều mặc cảm đối với các bạn nhạc khí Việt Nam được dùng trong đất nước Việt Nam không ?
![]() |
Thứ nhứt, tôi có mặc cảm không “đồng thân, đồng thủ”. Cần đàn so với thùng đàn thì quá dài. Tôi thấy mình lỏng khỏng như cây tre miễu và có rất nhiều người còn cho tôi là thứ “dị hình, dị dạng”.
Thứ nhì, tôi ít được ai biết đến, chỉ có những người sành điệu Ca trù ở miền Bắc, còn từ Thanh Hóa vào Nam chẳng ai biết tôi, duy chỉ có ở Phú Nhuận (thành phố Hồ Chí Minh) từng có xóm Cô đầu đã sử dụng tôi.
Thứ ba, tôi thiệt thòi nhất trong tất cả các cây đàn vì chỉ có kép đàn ông ôm tôi trong tay và mấy trăm năm nay không có một bóng hồng nào nâng niu tôi như đã nâng niu anh đàn kìm!
Sau khi đất nước trở lại thanh bình, những nhạc khí khác được đem ra lau chùi và lần lần tham gia vào cuộc sống âm nhạc trong nước. Riêng tôi phải chịu nằm trong xó vì Ca trù không được đánh giá đúng mức. Ca nương thường bị coi như một khách “bán phấn buôn hương”. Người thích nghe Ca trù mang tiếng là “khách làng chơi” nếu không phải “phường trên bộc, trong dâu”.
Trong nước chỉ có cố Giáo sư Nguyễn Hữu Ba là người chụp nhiều ảnh cho tôi để đưa vào tư liệu nghiên cứu âm nhạc Việt Nam của ông. Nhưng ông chuyên về nhạc Huế nên tôi chỉ được xếp vào hàng tư liệu mà không được ông sử dụng. Ngoài Bắc có nhạc sĩ Đỗ Nhuận tìm hiểu Ca trù và đã nhờ nhạc sư Đinh Khắc Ban giải thích về những kỹ thuật đặc thù của tôi, nhưng rất ít cơ hội giới thiệu tôi và nghệ thuật Ca trù cho các nhạc sĩ khác.
Thuở ấy, ít người nghiên cứu về Ca trù và không còn những cuộc biểu diễn Ca trù trong các sinh hoạt tại gia hay trong đình làng. Tôi có cảm giác rồi đây mình sẽ bị chìm trong quên lãng.
![]() |
| Đàn Đáy |
Nhưng từ năm 1976, khi Giáo sư Trần Văn Khê về nước, ghi âm Ca trù để giới thiệu cho bạn bè thế giới ngang qua đĩa hát mang nhãn hiệu Unesco (Trung tâm văn hóa Liên hiệp quốc) thì tôi mới có dịp được ghi âm vào máy có kỹ thuật âm thanh nổi (stéreo) và trong một số thư viện đại học Âu Mỹ đều có đĩa hát về Ca trù sánh vai với các truyền thống lớn ở châu Á. Tôi bắt đầu được theo Giáo sư Trần Văn Khê trong các buổi giới thiệu của ông. Tôi được ông rọi hình cho sinh viên trường đại học Sorbonne Paris, trường đại học Hawaii at Manoa tại Honolulu và nhiều trường khác trên Âu Mỹ. Tuy là ông giới thiệu bằng tiếng Anh và tiếng Pháp nhưng tôi cũng hiểu qua là ông không tiếc lời ca ngợi tôi và bắt đầu từ đó tôi hết tự ti mặc cảm mà có lẽ còn thấy tự tôn. Không thích thú sao được khi ông nói rằng đa số nhạc khí Việt Nam từ các nước khác du nhập vào như chị đàn Tranh, chị đàn Tì bà, anh đàn nhị đều có gốc từ Trung quốc, như anh trống cơm có gốc từ miền Nam Ấn độ (trống Mridangam), còn tôi cũng như anh đàn bầu (hay còn gọi là đàn độc huyền) có nguồn gốc Việt Nam. Chúng tôi lại có cả một truyền thuyết từ dân gian về sự ra đời của chúng tôi.
Riêng tôi nghe thuật lại thì theo ông Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, dưới đời nhà Lê có ông Đinh Lễ, người có công với vua Lê Lợi, một hôm đi dạo trong một khu rừng nhỏ gặp hai tiên ông (có khi nói rõ ra đó là hai vị trong Bát tiên là Lý Thiết Quải và Lữ Đồng Tân) cho một miếng gỗ ngô đồng và một bức vẽ hình cây đàn mà nói rằng: “Đây là cây đàn trên thượng giới, con dùng gỗ cây ngô đồng mà đóng cây đàn theo hình vẽ trên đây. Cây đàn đó sẽ giúp con cứu dân độ thế.” Đinh Lễ nghe theo lời dạy, về đóng một cây đàn, tiền thân của tôi bây giờ, đem ra đàn thử thì chim chóc nghe tiếng đàn đều bay lại đậu trên cây. Khi Đinh Lễ đến bờ sông đàn, thì nhiều loại cá cũng lội đến mà nghe tiếng đàn. Trong làng, khi tiếng đàn của Đinh Lễ vang lên thì dân chúng cũng đến mà nghe. Lạ thay, người buồn thấy lòng vui trở lại, người bịnh thì tìm lại được sức khỏe.
Tiếng đồn lan rộng ra các làng gần bên. Khi chàng đến châu Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, ngồi bên suối gảy đàn, dân chúng thấy tiếng đàn linh nghiệm rủ nhau đến trình với quan châu Bạch Đình Sa. Năm ngoài bốn mươi tuổi ông này mới sinh được một gái đặt tên là Hoa, nhan sắc tuyệt vời. Năm lên mười, Bạch Hoa tiểu thơ một hôm đi chơi với mẹ trúng phong rồi bị câm. Ông bà đã tìm khắp nước mà không có lương y nào điều trị được. Năm cô mười chín tuổi, nhan sắc tuyệt vời mà chỉ buồn là không nói năng gì được. Khi Bạch Công nghe dân chúng bảo có chàng trẻ tuổi có cây đàn mầu nhiệm trị được các bịnh tật, ông cho gia nhân mang lễ vật đến mời chàng Đinh Lễ về nhà để đàn chữa bịnh cho Bạch Hoa. Sau khi thi lễ, chàng so dây và đàn một khúc. Tiểu thư đang ăn cơm sau rèm trúc nghe tiếng đàn ngưng ăn, lấy hai chiếc đũa gõ lên án thư theo đúng nhịp đàn. Khi tiếng đàn dứt khúc, nàng buông đũa mà nói to lên: “Tiếng đàn hay quá!”. Thị tì báo cho Bạch Công, ông vô cùng mừng rỡ và nài chàng đàn thêm một khúc nữa. Bạch Hoa tiểu thơ lại dùng đũa gõ nhịp. Bạch Công mời chàng vào nhà trong để tương kiến với tiểu thơ. Tiểu thơ đứng dạy chào vui vẻ như gặp người quen đã lâu. Ông bà rất vui khi thấy bắt đầu từ ngày đó, Bạch Hoa bắt đầu nói năng như xưa.
Bạch Công có lần hứa rằng ai chữa cho con gái lành bịnh có thể gả con cho người đó. Khi bàn việc thành lập hôn nhân giữa Đinh Lễ và Bạch Hoa, ai cũng tán thành.
Lễ vật hoa quả được trưng bày trong phòng hoa chúc sáng choang nhờ hàng trăm ngọn bạch lạp. Khi bước vào phòng, trước một tiểu thư trang sức lộng lẫy, chàng họ Đinh tưởng mình lạc lối đào nguyên, ôm đàn khảy lên một khúc nhạc mừng, miệng ca bài Tân hôn mà hai câu đầu là:
Động phòng hoa chúc dạ
Kháng lệ khánh kỳ duyên
Có nghĩa là :
Trong đêm động phòng hoa và đuốc sáng choang
Mừng lứa đôi sánh duyên đẹp đẽ lạ lùng
Rồi kết thúc bằng hai câu :
Khước giao trần tục phối thiên nga
Bách niên Đinh Bạch nhứt gia
Có nghĩa là :
Xui nên khách trần tục sánh duyên cùng người tiên
Hai họ Đinh và Bạch sum họp một nhà và cùng nhau sống trăm năm.
Bạch Hoa tiểu thơ vừa gõ nhịp, vừa hát theo tiếng đàn. Sau lễ cưới đôi vợ chồng trẻ trở về sống làng Cổ Đạm và lập nghiệp nơi đó.
Thật ra nếu phải lần tìm gia phả, tôi cũng không thể biết ai đã chế tác ra tôi bởi vì theo lời truyền miệng các nghệ nhân trong giáo phường Lỗ Khê thì người đầu tiên chế tạo ra tôi không phải Đinh Lễ mà là Đinh Dự. Đinh Lễ và Đinh Dự cũng đều là người có công với người anh hùng áo vải Lê Lợi đã đánh đuổi quân Minh và lập nên nhà Lê. Giáo sư Trần Văn Khê khi đi tìm nguồn gốc của tổ tiên tôi đã đọc nhiều quyển sách và đã có ghi lại nhiều truyền thuyết làm cho ông băn khoăn tự hỏi là chân lý ở nơi nào?
![]() |
| Một canh hát Ca trù xưa |
Đoạn nói về hát ả đào trong Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ không thấy nói chi đến nguồn gốc, chỉ ghi rằng: “Hát ả đào dưới triều Cảnh Hưng đã thất truyền sau đến cuối đời Lê chỉ có ả đào già mới hát được những điệu cổ. Nếu đem bắt những ả đào non hát thử thì lè lưỡi xin chịu không hát được”. Theo cụ Phạm Đình Hồ, lối hát ả đào bắt đầu có từ đời Hồng Đức (1470-1497). Đến năm 1919, cụ Hoàng Yến trong khi nghiên cứu âm nhạc tại Huế đã đăng trong Tạp chí của những người bạn cố đô Huế (Bulletin des amis du vieux Huế) số tháng 7 và tháng 9/1919, có nhắc lại chi tiết: ả đào làng Cổ Đạm huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà tĩnh mỗi năm tế tiên sư đều khấn vua Hán Võ Đế, Đông Phương Sóc và Lý Thiết Quải, vì căn cứ theo một truyền thuyết thì Lý Thiết Quải là một vị trong Bát tiên đã chế ra cây đàn Đáy. Theo khảo luận Cuộc hát ả đào của Nguyễn Đôn Phục đăng trong tạp chí Nam Phong (tháng 4/1923, trang 277): khi xưa có bà Mãn Đào Hoa công chúa, con ông Bạch Đinh Xà đại vương chế ra âm luật và cách bộ hát ả đào để dạy đời. Lúc hát ả đào còn thạnh, mỗi năm hai lần vào mùa xuân và mùa thu có hát chầu để tế tiên sư mà tiên sư của ả đào là Đông Phương Sóc và Lữ Đồng Tân. Qua một loạt bài về hát ả đào đã được đăng trong các số Bách khoa 81- 82, năm 1960, Giáo sư Trần Văn Khê đã tỏ ra nghi ngờ về sự xác thực của một số truyền thuyết. Đông Phương Sóc là một văn sĩ Trung Hoa đời Hán, Lữ Đồng Tân là một người tu tiên đắc đạo đời Đường xét ra chẳng có lý gì gán cho hai ông chế ra lối hát ả đào.
Nếu theo truyền thuyết của hai tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề ghi lại thì hai vị tiên ông Lý Thiết Quải và Lã Đồng Tân đã hiện ra và bày cho Đinh Lễ tạo ra cây đàn Đáy đầu tiên và như vậy tổ tiên của tôi là người Việt chứ không phải người Hoa thì tôi tạm yên lòng với lập luận của hai tác giả này. Thật ra không ai biết rõ hình thù và kích thước của tôi một cách rõ rệt. Trong những tư liệu còn để lại chỉ thấy rằng cụ Phạm Đình Hổ có tả hình dáng của tôi như sau: “Đàn Đáy cũng giống như đàn Tàu ba dây (tức là cây đàn Tam) nhưng đáy vuông, dọc đàn dài, trên dọc đàn gắn 16 phím tỷ với đàn 3 dây cũng hơi khác. Khi kép ra hát thì lấy dây lưng điều mà treo đàn ngang lưng để gảy với đào xướng họa, tùy theo giọng hát mau khoan mà ứng nhịp với nhau nhưng tiếng đàn thấp kém không cao hơn tiếng hát được” (Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút, tờ 43b và 44a). Câu dịch trên từ chữ Hán do Đông Châu đã đăng trong Tạp chí Nam Phong tháng 10-1927. Vừa mới nghe qua đoạn này, tôi cũng không hiểu rõ nội dung câu văn chữ Hán do Phạm Đình Hổ viết ra. Giáo sư Trần Văn Khê tìm lại bản gốc chữ Hán thì thấy có bốn chữ “thăng, giáng, cương, nhu” dịch ra là “lên cao, xuống thấp, cứng và mềm”. Giáo sư cho rằng có lẽ đó là chữ đàn hay tiếng hát “khi cao, khi thấp, khi to, khi nhỏ”, chứ còn “mau khoan” tức là khi nhanh, khi chậm, mà theo thuật ngữ âm nhạc Việt nam thì chậm thường gọi là “hoãn điệu phách” còn mau là “cấp điệu phách”.
![]() |
| Phách Ca trù |
Phạm Đình Hổ đã miêu tả tôi cùng chung với nhạc khí khác trong một dàn nhạc mang tên là Giáo phường thường được dùng trong cung đình để thay thế cho hai dàn nhạc Đồng Văn và Cổ nhạc, Như vậy tức là cuối đời nhà Lê tôi cũng có mặt trong dàn nhạc Cung đình và phụ họa cho ca nương, ả đào cũng có nhiều nhạc khí khác: hai loại trống, trống cơm và trống mảnh (cũng gọi là trống cái), hai loại phách, trường cùng và cái sênh (hoặc sênh tiền), hai loại sáo, trúc và địch quản. “Trường cùng là một cái phách làm bằng tre già, hình dẹp như cây đòn gánh, dài độ ba, bốn thước ta. Phách đó do bà gìa gõ nhịp” (Phạm Đình Hổ, Vũ trung tuỳ bút, bản dịch Đông Châu trang 367). Như vậy trường cùng là tiền thân của cổ phách mà đào nương dùng ngày nay.
Theo cụ Hoàng Yến, người Nghệ An và Hà Tĩnh đánh đàn Đáy rất hay. Tác giả có kể lại những nhạc công nổi tiếng là: Cửu Xướng, Cửu Ninh và Cửu Đạm
Càng đọc nhiều bài về nguồn gốc của Ca trù của các tác giả châu Âu như Gustave Dumoutier, Georges Cordier (Pháp), Gaston Knosp (Bỉ) thì chúng ta càng thêm hoang mang vì những bài nghiên cứu có phần nào phiến diện. Vì vậy, hôm nay tâm sự với các bạn, tôi chỉ muốn nói rõ một điều là tôi tin chắc rằng tổ tiên tôi là người Việt - Đinh Lễ hoặc Đinh Dự đã chế tạo tôi ra dưới thời nhà Lê vào thế kỷ thứ XV. Trong giới Ca trù có người cho rằng nghệ thuật Ca trù có từ đời nhà Lý, tôi sanh sau đẻ muộn, không biết rõ thế nào. Nhưng phần tôi thì tôi chưa thấy những bức chạm trên gỗ hay hình vẽ nào của tôi trước thế kỷ XV. Nghệ thuật Ca trù có thể có trước thế kỷ XV, nhưng tôi chỉ biết phận mình là tổ tiên tôi đã chào đời từ thế kỷ XV.
Trong chương trình nghiên cứu về nghệ thuật Ca trù, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan cũng ghi lại xuất xứ của cây đàn Đáy theo sách của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề. Trong các nghệ nhân mà nhạc sĩ đã gặp, cụ kép đàn Trần Ngọc Quế (86 tuổi ở Hải Phòng) nói rằng: “Trong hát chơi cũng có hai ngón đàn là ngón “mỡ” và ngón đàn “nục nạc”. Ngón đàn “mỡ” thì ít nhấn nhá còn ngón kía thì nhấn nhá nhiều”.
Theo truyền thống xưa mà nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã ghi lại, có những câu dạo đàn đủ năm cung: nam, bắc, huỳnh, pha, nao. Khi vào đàn có bốn khổ: sòng, đơn, rải, lá đầu. Tay mặt khảy có tiếng: vê, vẩy, lia, tay trái nhấn có cách “nhấn chùn” rất đặc biệt. Kép đàn ngày nay đã bắt đầu được luyện tập theo lề lối của ngày xưa và tôi hy vọng rằng trong tương lai, tôi sẽ được nói lại những tiếng đặc thù, độc đáo, tuyệt vời của cây đàn Đáy cổ. Theo Phạm Đình Hổ thì ngày xưa, tôi có 16 phím nhưng ngày nay chỉ còn 10 hay 11 phím, nhưng với số phím này, những người đàn hay như cụ Nguyễn Phú Đẹ (85 tuổi ở Hải Dương) đủ làm cho người nghe thích thú. Ngoài ra, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan còn kể tên những nghệ nhân đã gặp ở các nơi khác. Trong số đó thật ra ít người còn nhớ nghề và nhiều cụ cao niên sau mấy chục năm bỏ nghề khó giữ được phong độ như xưa. Trong giới trẻ ngày nay có nhiều người biết đờn theo ca nương trong câu lạc bộ ở các tỉnh. Hai kép đàn Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Mạnh Tiến đã được cụ Phó Đình Kỳ dạy đàn, có thể coi như được chân truyền.
![]() |
| Tiến sĩ Barley Norton |
Tôi rất ngạc nhiên khi một người Anh là Barley Norton ôm tôi trong lòng khảy lên những tiếng phụ họa cho ca nương. Tôi xúc động vô cùng vì không ngờ một người nước ngoài biết cách sử dụng đàn Đáy, trong khi bao nhiêu thanh niên Việt Nam lại thích ôm ghi-ta điện để biểu diễn những điệu nhạc của nước ngoài. Trả lời phỏng vấn của Đài Truyền hình, Barley Norton cho biết: giọng hát của bà cụ Quách Thị Hồ và tiếng đàn Đáy của ông Đinh Khắc Ban trong đĩa hát Ca trù của Unesco làm cho anh thích thú và đã sắp đặt thời gian sang Việt Nam tìm học cho được nghệ thuật chơi đàn Đáy. Anh tiếc cho thanh niên Việt Nam không thấy được nét tinh vi và tế nhị của đàn Đáy mà bỏ thời gian và công sức để học đàn ghi-ta điện. Sau này nếu các nghệ sĩ đàn Đáy theo qui luật thiên nhiên sẽ qua đời thì còn ai giữ lại được phong cách đàn Đáy nữa?
Khoảng 10 năm sau này, trong các CLB ở tỉnh và tại Hà Nội có nhiều thanh niên học đàn Đáy và nhiều thiếu nữ học ca. Tôi rất sung sướng khi được cùng các bạn trẻ ấy biểu diễn Ca trù. Tuy ngón đàn của các cậu chưa bằng các nghệ nhân, nhưng tôi nghĩ rằng đây là những bước đầu và thế nào trong đám thanh niên yêu thích nghệ thuật Ca trù sẽ có những “nghệ nhân” trẻ. Tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi được một phụ nữ dùng tôi để đàn theo những nghệ sĩ ngâm thơ. Một vài người mộ điệu nói rằng ngón đàn của bà ấy tươi tắn, nghe được, nhưng bà ấy học không có thầy.
![]() |
| Đào nương Phạm Thị Huệ cùng nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc |
Tại miền Bắc, trong năm 2006, có một ca nương trẻ vừa học bài bản Ca trù theo truyền thống với bà Nguyễn Thị Chúc ở Hà Tây, vừa học đàn Đáy với cụ Nguyễn Phú Đẹ ở Hải Dương. Đó là cô Phạm Thị Huệ giảng viên dạy môn Tỳ bà tại Nhạc Viện Hà Nội. Hiện cô là môn sinh chân truyền của hai “nghệ nhân dân gian”. Tôi vô cùng ngạc nhiên vì trong buổi học đàn với cụ Nguyễn Phú Đẹ, tuy cô chưa biết đàn Đáy mà đã lập lại được những câu thầy mới đàn. Thầy ngạc nhiên và sau đó đã nhận cô làm học trò chính thức. Thầy nhiều lần đã khen cô có bàn tay vàng, học mau, nhớ lâu. Trong một buổi mạn đàm với GS Trần Văn Khê, thầy Nguyễn Phú Đẹ có nói: “Con bé này học rất mau. Mình đàn cho nó nghe câu nào là nó “cướp” mất câu đó. Tôi đã dạy nhiều học trò mà chưa gặp được đứa nào có tiếng đàn giống tiếng đàn của tôi như cô này. Tôi rất vui vì nghĩ rằng sau này dầu không còn trên đời này nữa vẫn có người giữ được tiếng đàn và cách đàn của tôi”.
Riêng tôi, chưa bao giờ tôi được một nghệ sĩ thuộc về phe nữ, trẻ và đẹp, có sắc lại có tài cho tôi phát âm ra được những tiếng đàn vừa gân guốc, vừa bay bướm như cô Phạm Thị Huệ. Cô không phải chỉ học cho biết qua loa, thỏa tánh hiếu kỳ, mà cô quyết tâm học đến nơi đến chốn với cả tâm và trí của mình.
Sau khi được hai thầy cho làm lễ “mở xiêm áo”, cô vẫn tiếp tục học với hai thầy, đồng thời trao lại tiếng đàn đó cho tuổi trẻ. Cô giới thiệu nghệ thuật Ca trù, cách hát, cách đàn và cầm chầu cho những thính giả thanh niên các giới, nhất là cho học sinh, sinh viên. Trong một buổi giới thiệu định kỳ về nghệ thuật Ca trù của nhóm Thăng Long do cô lập ra, dưới sự hỗ trợ của hai thầy và nhiều chuyên gia nghiên cứu Ca trù, cô có cho một cô học trò rất trẻ ôm đàn Đáy để phụ họa một bài hát. Tôi sung sướng, rung động dưới bàn tay non nớt của em bé đó và lòng tràn đầy niềm tin rằng từ đây tôi sẽ không còn sợ bị chìm trong quên lãng.
Các nhà đóng đàn từ mấy năm sau này được đặt đóng đàn nhiều hơn trước. Những cây đàn đáy mới được đóng cẩn thận, chạm trổ khéo, nhưng hình như chưa có cây nào có thể sánh được với những cây đàn cổ ngày xưa về mặt âm thanh?
Dẫu sao, tôi cũng rất lạc quan vì thấy nghệ thuật Ca trù đang có được một nguồn sinh lực mới. Mấy năm gần đây, tôi được nhiều thanh niên, cả thiếu nữ, nâng niu tôi, bỏ thời gian học cách sử dụng một cách nghiêm túc. Mong rằng ngọn lửa trong tim của các bạn trẻ sẽ không phải là ngọn lửa rơm bộc phát bộc tàn, mà là ngọn lửa thiêng sẽ cháy mãi, cháy bừng với thời gian !
Các bạn ơi! Tôi đã hết mặc cảm tự ti rồi. Và chỉ mong những ngày tới đây tôi sẽ được nhạc sĩ miền Trung, miền Nam nước Việt tìm nghe và học tập. Tôi xin cám ơn các bạn đã chịu khó nghe những lời tâm sự của tôi. Xin đọc tặng các bạn bốn câu nhà thơ Nguyễn Hải Phương đã viết về tôi:
Tên Em như có mà không
Bốn dây dẫn dắt trăm sông về nguồn
Ca trù, đổ hột, phách giòn
Tuổi phai xanh, chạm tiếng đàn lại xanh!
http://www.vnmusicology-inst.vnn.vn/vietnamese/thongtin/Bai_Danday_TVKhe_7_08.htm