Mỗi loại hình nghệ thuật đều có ngôn ngữ riêng hay nói khác đi, mục đích tối ưu của bất cứ loại hình nghệ thuật nào cũng đạt đến hình tượng nghệ thuật. Đó là hệ quả của tư duy nghệ thuật qua các phương tiện diễn đạt đặc thù. Với âm nhạc, là loại âm thanh nghệ thuật, qua đặc điểm sắc thái cao độ và các trạng thái tâm lý (hỉ - nộ - ái - ố…) . Trong đặc thù đó, âm nhạc cải lương chỉ có 5 âm chánh : Hò - xự - xang – xê - cống mà thiên biến vạn hóa. Mỗi âm như tiếng nói của loại hình. Bài viết này, chúng tôi sẽ khảo sát và giới thiệu đặc điểm ngôn ngữ của cung « Xang » trong âm nhạc tài tử cải lương .
Từ đâu « em » đến
Hai bài viết trên hai số báo trước, đã hầu chuyện với bạn đọc và đồng nghiệp : nét độc đáo của cung « hò » và vai trò của cung « xự », thì bài này là tính ngôn ngữ của cung « Xang » (tức đặc điểm). Nếu Hò có tính dịu dàng và mềm mại, Xứ cứng rắn và phóng khoáng, thì Xang lại yếu mềm và nức nở. Không dám so sánh, nhưng có thể mường tượng rằng, Xang như tiếng lòng của người phụ nữ, vì thế mà dí dỏm với Xang « Từ đâu « em » đến » ?
Xang, là một phạm trù (musical sphere) trong loại hình âm nhạc ngũ cung nói chung và âm nhạc tài tử - cải lương nói riêng, để phản ảnh những mối quan hệ chung nhất trong đời sống âm nhạc của nó. Xang , là một đơn vị ngữ âm được xếp vào vị trí thứ ba, trong hệ thống thang 5 âm . Hiểu cách khác, Xang là một cung hay nốt nhạc (chữ nhạc) ở hàng thứ ba của nhạc ngũ cung. Nó có chức năng và đặc điểm riêng trong tham gia thành lập điệu thức và các đơn vị độc lập trong chỉnh thể của nó. Một đặc điểm cơ bản nhất của Xang trong âm nhạc tài tử cải lương, khi nhạc công diễn tấu thường nhấn chữ Xang nhiều nhất so với các chữ nhạc khác trong cùng một thể điệu. Đây cũng là chuẩn mực để nhận định tài năng và sở trường của người diễn tấu loại nhạc cụ nào đó. Ví dụ, lối nhấn chữ Xang của cố đệ nhất danh cầm guitar phím lõm Văn Vĩ rất sắc nét độc đáo, cho đến bây giờ chưa có ai qua được. Đối với người ca, biết rằng mỗi người đều có phong cách riêng và sở trường riêng, nhưng Xang là cơ sở sinh học, để người ca ngâm biểu đạt làn hơi - chất giọng của mình, nhất là ngân hơi rung giọng : mượt mà – mùi mẫn – sâu lắng.
Cơ cấu và vị trí đa thể
Trong âm nhạc tài tử cải lương, Xang là âm chủ của bản Bình bán chấn, bản thứ ba trong 6 Bắc chánh. Nó gồm 4 lớp, 44 câu - nhịp tư, vô đầu bản là Xang và kết thúc bản cũng là Xang (bậc trầm là Xàng). Xang , đóng vai trò chính trong điệu thức Nam và là âm chủ (vô đầu bản) của ba bản Nam Ai – Nam Xuân - Đảo Ngũ Cung . Một số bản vắn như : Ngựa ô nam, Lý con sáo, Lý sâm thương, Trăng thu dạ khúc… cũng vô đầu bản là chữ Xang. Như vậy , Xang không chỉ có chức năng tham gia cấu tạo câu, bản (văn bản), mà còn có vai trò làm âm chủ cho nhiều bài bản, làm nhiệm vụ khơi mào rất quan trọng trong nhiều giai điệu.
Trong từng loại nhạc khí (musical instrument), Xang có âm sắc riêng nhưng tính chất chung luôn ngọt ngào và mùi mẫn. Mỗi nhạc khí là một phương tiện biểu đạt cho nhiều loại hình âm nhạc của nhân loại, nhưng nó chỉ nói lên được một thứ tiếng nhất định có « hồn », đó là âm nhạc dân tộc để nó có được bản sắc riêng của mình. Chẳng hạn , guitar, violon là nhạc khí của phương Tây ; kìm, cò, tranh, sến… là nhạc khí của phương Đông, tất cả chúng có thể tấu được các loại hình âm nhạc trên thế giới mà không phải vốn là bản sắc của chúng . Nhưng khi được Việt Nam hóa thành nhạc cụ thuần Việt, chúng hoàn toàn nói ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam bằng phẩm chất rất cao. Và đây, chính là một đặc điểm ngôn ngữ chung nhất của âm nhạc, cũng là nét khác biệt đặc điểm với các loại hình nghệ thuật khác .
Vài đặc điểm ngôn ngữ
Chức năng của ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chung cho một cộng đồng, mà mỗi phương tiện đều có đặc điểm riêng thì đối với nhạc khí, đó là tiếng nói của chúng. Bởi lẽ, xét về ngữ âm thì âm học và âm nhạc lại có những mối quan hệ tương tác, tương đồng nhưng không thống nhất nhau.
Ba đặc điểm cơ bản của Xang trong âm học và âm nhạc
-Độ cao (cao độ), phụ thuộc vào tần số dao động. Tần số dao động càng lớn thì âm thanh càng cao (tiếng đờn). Độ cao của các âm tố ngôn ngữ phụ thuộc vào tần số chấn động của dây thanh (âm tố chữ nhạc thì nhận thấy được còn tiếng đờn rất khó nhận ra âm tố). Còn các tần số chấn động này lại được xác định bởi độ dày và mức căng thẳng của dây thanh (dây đờn) và phụ thuộc vào áp suất của không khí phía dưới và phía trên của thanh hầu (thùng đờn). Tai người có thê phân biệt độ cao từ 16 đến 20.000 Hz.
-Độ mạnh (cường độ) , phụ thuộc vào biên độ dao động, tức là khoảng cách từ điểm nâng cao nhất và điểm hạ thấp nhất của sóng âm (tiếng đờn phát ra). Biên độ càng lớn, âm thanh càng to (tiếng đờn). Đối với ngôn ngữ, cường độ âm thanh đảm bảo sự minh xác trong giao tế và nó là cơ sở để tạo thành các kiểu trọng âm khác nhau. Đối với Xang, là mối quan hệ liên kết với các âm khác và là cơ sở tạo lập các chu kỳ của Xang trong thể điệu.
- Độ dài (trường độ), là thời gian kéo dài của âm thanh (tiết tấu). Đối với ngôn ngữ, quan trọng là thời gian tương đối của âm thanh . Ví dụ, các nguyên âm có trọng âm thường dài hơn nguyên âm không có trọng âm. Độ dài được sử dụng để phân biệt các nguyên âm dài và ngắn, như phân biệt a với ă, ơ với â trong tiếng Việt. Đối với Xang, là kỹ thuật nhấn nhá của người diễn tấu, nguyên âm ngắn được thể hiện chữ nhấn nhanh và nhẹ, nguyên âm dài chữ nhạc nhấn chậm và mạnh hơn để diễn tả trạng thái của âm sắc.
Ngoài ba đặc trưng trên , các âm còn phân biệt nhau nhờ âm sắc của chúng. Ví dụ, cùng diễn tấu một bản nhạc mà tiếng guitar phím lõm khác với tiếng đờn kìm, tiếng kèn hay tiếng sáo, cùng nói một câu mà giọng mỗi người mỗi khác, đó là do sự khác biệt về âm sắc.
Âm sắc có được là do cộng minh (còn gọi là cộng hưởng), tức là sự khuyếch đại một hay một số thượng âm nào đó trong một cộng minh trường, tạo nên mối quan hệ phức tạp với âm cơ bản và tiếng ồn. Âm cơ bản là nhạc thanh do chấn động toàn bộ vật thể (các dây của đờn) tạo ra, thấp nhất và mạnh nhất, còn thượng âm được tạo ra do chấn động của bộ phận vật thể, thường cao hơn âm cơ bản. Cộng minh trường là khoang rỗng chứa khí (ví dụ như, thùng đờn trong các nhạc có dây, những khoang rỗng của nhạc cụ thổi hơi, và khoang miệng, khoang mũi, vv…)
Trong hiện tượng cộng minh, các tần số được tăng cường được gọi là phoóc – măng (formant) (viết tắt là chữ F) thể hiện trên phổ đồ . Các nguyên âm trong ngôn ngữ khác với phụ âm là chúng có cấu trúc phoóc-măng. Fo tương ứng với tần số âm cơ bản, còn F1, F2, F3 cao hơn, tương ứng với các thượng âm được cộng hưởng. Các nguyên âm thường là nhạc thanh hay tiếng thanh (tức là các tiếng Xang có chu kỳ). Còn các phụ âm thường có nhiều tiếng ồn (những chấn động không có chu kỳ).
Ba thành tố sinh học và âm nhạc.
Chúng ta có thể tạm so sánh, Xang trong mối quan hệ sinh học và âm nhạc. Sinh học ở trong cơ thể người, là bộ máy phát âm ; còn âm nhạc là gồm các bộ phận truyền âm của nhạc khí.
· Phổi tương đồng với bộ phận cộng hưởng
· Thanh hầu và dây thanh, tương đồng với cần và các dây đờn trong một nhạc cụ
· Các khoang trên thanh hầu tương đồng với thùng đờn (bầu đờn).
Vai trò của phổi là tạo nên luồng không khí, lời nói tạo thành do năng lượng của luồng không khí đi ra. Bộ phận cộng hưởng tạo ra các phoóc-măng của nhạc. Tiếng nói của người được tạo thành trong thanh hầu do hoạt động của dây thanh, còn tiếng nhạc được tạo thành trên cần đờn do vận hành của các dây đờn. Vậy, Xang là một thành tố có mối quan hệ tổng hòa trong các bộ phận vừa nói. Nếu không chịu các điều kiện xúc tác đó thì Xang sẽ không có « hình thể mỹ miều » và không có Xang trong hệ thống vận hành của âm nhạc thì các thể điệu sẽ không có hương vị đầy đủ…
Âm tiết tiếng Việt
Xang là một âm tiết, tương đương với một tiếng, có vỏ âm thanh là một hình vị, tương đương với một từ. Xang , với tư cách là một đơn vi nhỏ nhất có nghĩa trong ngữ âm và âm nhạc. Đó là một tín hiệu có cả hai mặt, mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện. Mặt biểu hiện vỏ ngữ âm là « xang », mặt được biểu hiện, Xang là một đơn vi biểu đạt tính mềm yếu và nức nở trong âm nhạc tài tử cải lương (đặc trưng của chất cải lương ). Về thanh điệu, Xang có một thanh điệu ngang (không dấu, được biểu thị số « 1 »). Trong tiết tấu âm nhạc, Xang có đặc điểm khác với ngữ âm về hiện tượng ngôn điệu. Trong ca từ cải lương, Xang có thể tương đương với thanh bằng (số 2) mà vẫn chấp nhận được. Ví dụ, ca từ « ân tình, cuộc đời, hết rồi.. » cuối các âm tiết là thanh huyền (số 2) đờn và ca không thể rơi trọng âm vào Xang chánh hoặc Xang cao (Xáng, Xảng) mà phải rơi vào Xang trầm tức Xàng (song thinh). Như vậy, Xang có sự tương đồng với một số phương tiện trong ngôn ngữ, nhưng có những trường hợp cá biệt chúng vẫn không thống nhất nhau trong âm nhạc, như hiện tượng điệu vừa nêu…
Xang mềm yếu và nức nở
Chữ Xang hay cung Xang, là linh hồn của điệu thức Nam – Oán, đặc biệt trong bản Vọng cổ. Xang, biểu đặc tính chất rất đa dạng và phong phú. Ở các bài bản Nam và Oán, Xang có lời tự tình rất đẹp được xem là một phạm trù thẩm mỹ của âm nhạc ngũ cung. Xang luôn đem lại trạng thái bồi hồi, xúc động cho đối tượng của mình và hoàn thiện phẩm chất của đối tượng cảm âm.
Mối quan hệ của Xang và nhạc sĩ diễn tấu, là mối quan hệ đồng cảm và nhấn chữ Xang là một thiên tư, không ai giống ai. Nó đồng nhất nhưng không thống nhất, đó là kỹ năng và sở trường riêng của từng nhạc sĩ diễn tấu. Nó là điểm nút của sự biểu đạt tâm tư, tình cảm, mọi trạng thái hoàn cảnh của người nhạc sĩ, được gọi là « tâm tấu ». Khi vui, hưng phần thì niềm hân hoan tạo cho ngón đờn quan chữ Xang trở nên mượt mà, ngọt ngào ; khi buồn, nhấn chữ Xang nghe man mác, sâu lắng như tâm sự chỉ riêng mình ; khi đau khổ, nhấn chữ Xang nghe bi thảm đến não nề như nghẹn ngào để kể lể thay cho lời than thân trách phận… Bởi « nhạc là nhân »là ở chỗ đó.
Lúc đương thời, cố đệ nhất danh cầm Văn Vĩ nhấn chữ Xang như một người đang kể lể, rồi nức nở trong tâm trạng bi thương vậy. Nhiều nhạc sĩ, đạt trình độ chuyên nghiệp thì lối nhấn chữ Xang đều có nét tương ứng : Xang - Xảng – Xang - Xang ơi là Xang, Xang hỡi Xang ơi !... Đó là đỉnh điểm cái đẹp của Xang.
Một lần chúng tôi được nghe một nghệ sĩ cải lương tên tuổi ở Hà nội diễn tả về chữ Xang. « Xang cực kỳ giàu có trạng thái, người ca và người đờn khi ghé lại chữ Xang là ngọt như mía lùi, mùi như trái chín, nức nở như lệ chảy dầm dề… « bà Xang » tuyệt trần gớm nhỉ ? ».. Phải chăng « em » là như thế ?
Đỗ Dũng
Trích Sân Khấu Thành phố, số 907 ,18 tháng 8, 2008, trang 30-31.