Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhac cu

Nhạc cụ dân tộc, VIETNAM

 

 

 


Đàn đá

Nhạc khí tự thân vang, thuộc loại xylophone, metallophone. Mỗi nhạc cụ là một bộ gồm nhiều thanh đá hợp thành. Mỗi thanh đá có kích thước và hình dáng khác nhau, được chế tác bằng phương pháp ghè đẽo thô sơ. Vật liệu để làm đàn là những loại đá sẵn có ở vùng núi Nam Trung bộ và Đông Nam bộ: túp-ri-ô-đa-xit, ri-ô-lit poóc-phi-a, đá sừng.

Căn cứ vào bộ đàn tìm được ở di chỉ khảo cổ học Bình Đa (Đồng Nai) được biết rằng việc chế tác những thanh đá này đã xuất hiện từ 3.000 năm trước.

Cho tới những năm đầu thập kỷ 90 đã tìm được gần 200 thanh đàn đá rải rác ở các tỉnh Đắc Lắc, Khánh Hoà, Đồng Nai, Ninh Thuận, Sông Bé, Lâm Đồng, Phú Yên. Số lượng thanh ở mỗi tập hợp được phát hiện là 3-15. Bộ đầu tiên ở Ndut Lieng Krak (Đắc Lắc) tìm được vào năm 1945 hiện được bảo quản tại viện bảo tàng "Con người" ở Paris. Một bộ nữa được đưa sang Los Angeles. Những bộ khác đang được bảo quản tại Việt Nam.

Âm thanh của đàn đá vang, trang trọng. Do vậy đàn đá thường được dùng trong các lễ hội lớn hàng năm của người Tây Nguyên

Đàn bầu

Nhạc cụ dân tộc độc đáo nhất vì chỉ có một dây. Dây đàn được mắc dọc theo hộp đàn. Một đầu dây cuốn vào trục ở phía dưới mặt đàn, một đầu dây mắc vào vòi đàn nơi có gắn núm đàn, như núm quả bầu khô.

Đàn không có phím, nhưng có khả năng luyến láy tài tình. Tiếng đàn bầu du dương, cuốn hút người nghe vào thế giới âm thanh tinh khiết

Đàn T'rưng

Nhạc khí cùng họ với đàn đá, rất phổ biến trong các tộc ở Tây Nguyên. Đàn gồm một số ống, chủ yếu bằng các loại tre nứa, một đầu kín, đầu kia vát một đoạn. Số lượng ống trước đây thường là 2-3 hoặc 5-6, nay có nơi làm tới 9-16 ống. Chúng được buộc song song từ nhỏ tới lớn bằng hai sợi dây thành một dàn. Đàn được mắc xéo ngang vào hai gốc cây hoặc cọc tre, gỗ...

Khi diễn tấu người ta dùng hai dùi bằng tre hoặc gỗ gõ lên các ống. Cũng có khi hai người cùng diễn tấu trên một đàn.

Là nhạc cụ của nam giới, trong dân gian t'rưng là nhạc cụ để giải trí trên nương rẫy và để đuổi chim thú phá hoại cây trồng hoặc sử dụng trong những dịp vui trong buôn làng để đệm cho hát, múa hoặc hoà tấu với một số nhạc cụ khác.

T'rưng đã được các nghệ sĩ chuyên nghiệp đưa lên sân khấu. Nó trở thành nhạc cụ quen thuộc với những người yêu ca nhạc ở trong nước và nước ngoài

Cồng - Chiêng

Tên gọi hai nhạc cụ bằng hợp kim (chủ yếu là đồng có pha thêm bạc, vàng hoặc đồng đen). Cồng có núm ở giữa, Chiêng không có núm. Mặt Cồng - Chiêng hình tròn, có thành cao, đường kính loại nhỏ 20cm, loại trung từ 50 đến 60cm, loại cực đại từ 90 đến 120cm. Cồng - Chiêng có thể dùng đơn lẻ đệm cho dàn nhạc, có thể dùng theo bộ, tới hàng chục chiếc để tạo khí thế sôi động. Cồng - Chiêng là loại nhạc cụ thiêng, chủ yếu dùng cho các nghi lễ cúng tế, tang ma, cưới xin, mừng năm mới, các lễ nông nghiệp, lễ chiến thắng,... Tiếng Cồng - Chiêng là tiếng nói tâm linh của người Tây Nguyên

Khèn

Là loại nhạc khí rất cổ, xuất hiện ở Việt Nam từ trước Công Nguyên. Khèn là nhạc khí đa thanh, được chế tạo từ các đoạn ống tre hoặc trúc nhỏ có lưỡi gà ghép vào nhau qua một hộp cộng hưởng. Số ống trúc ghép lại là số chẵn, ít là 6 ống, nhiều tới 14 ống. Mỗi ống có một lỗ bấm để khi thổi phát ra âm thanh.

Khèn là nhạc cụ quen thuộc của các chàng trai dân tộc ít người từ Bắc đến Nam. Đặc biệt, đối với dân tộc H'Mông, khèn là một nhạc cụ gắn liền với đời sống của mỗi người dân

Đàn Klôngpút

Là loại nhạc khí của người Tây Nguyên. Một dàn gồm 2 - 3 cho tới 5 - 12 ống nứa, lồ ô hoặc tre cỡ tương đối lớn. Đường kính các ống khoảng 5 - 8 cm, chiều dài 60 - 120 cm, có khi 20 - 200 cm. Klông pút có loại kín một đầu và có loại rỗng hai đầu. Khi diễn tấu các ống được đặt nằm ngang vừa tầm tay người vỗ trong tư thế đứng lom khom hoặc quỳ. Dùng hai bàn tay khum vỗ vào nhau trước miệng ống, các cô gái tạo nên luồng hơi lùa vào ống làm vang lên âm thanh.

Klông pút được coi là nhạc cụ gắn với sản xuất nông nghiệp và là nơi trú ngụ của Mẹ Lúa. Vì vậy klông pút là nhạc cụ của giới nữ và chỉ được chơi trên rẫy vào mùa tra lúa và trong buôn làng vào ngày lễ đóng cửa kho lúa hoặc vào dịp tết của tộc và lễ hội ăn lúa mới với số lượng bài hạn chế. Ngày nay klông pút đã được đưa lên sân khấu ca múa nhạc chuyên nghiệp để diễn tấu nhiều loại bài bản khác nhau

Đàn Nguyệt

Mặt đàn hình tròn như mặt trăng đêm rằm, có lẽ vì thế có tên đàn nguyệt (mặt trăng). Đây là nhạc cụ dây có vị trí quan trọng trong dàn nhạc dân tộc, người chơi đàn hầu hết là nam giới, nên còn được tôn là "quân tử cầm".

Tiếng đàn nguyệt trong, vang xa, khả năng diễn cảm phong phú, khi sôi nổi rộn rã, lúc nỉ non sâu lắng...

Sáo trúc

Nhạc cụ hơi làm bằng một đoạn trúc (được tiện từ thân cây trúc đã được chọn lựa kỹ) dài chừng 40cm, đường kính khoảng 2cm. Thân sáo được khoét 6 lỗ bấm và một lỗ để thổi. Có lẽ không có loại nhạc cụ nào đơn giản hơn cây sáo trúc. Vậy mà người nghệ sĩ thổi sáo đã truyền tới người nghe những âm thanh đi sâu vào lòng người.

Hình ảnh trẻ chăn trâu ngồi trên lưng trâu thổi sáo trúc đã là một biểu tượng của nông thôn Việt Nam thanh bình từ xa xưa


http://www.cinet.gov.vn/Vanhoa/chuyende/55vhtt/vanhoa/an06.htm 

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4820063