Bình Định là một trong những cái nôi của hát tuồng (còn gọi là hát bội hay hát bộ). Những nghệ sĩ tuồng tài năng một thời của Đoàn Tuồng Liên khu 5 như Nguyễn Nho Tuý, Ngô Thị Liễu, Đàm Liên…đã để lại trong lòng công chúng yêu tuồng những dấu ấn khó quên.
|
| Một cảnh trong vở tuồng Mộng Bá Vương của Nhà hát tuồng Đào Tấn. Ảnh: Đào Tiến Đạt |
Là dân Bình Định, ít hay nhiều, chỉ thích thôi hay say mê, có thể nói người nào cũng giữ trong một góc lòng kỷ niệm về tuồng. Vì vậy mà đã chừng ấy năm trôi qua, tôi vẫn không quên cái cảnh cha tôi nằm trên võng, võng đưa kẽo kẹt còn ông thì cất giọng hát một đoạn trong lớp tuồng Nguyệt Hạo đi tu:
Phụng mệnh Như Lai khiến
Nào dương cảnh thành hoàng Nghe ta dặn đâ…ây
Nay có bà Nguyệt Hạo nương nương
Mộ đạo mới xuất gia đầu Phật Vun lòng nhân đức-có dạ tu tri Mà đây gần sơn tự ác tăng Khá bảo hộ người lành kẻo hại…ải…ải. Đoạn hát này là lời của Hộ Pháp dặn Thành Hoàng phải bảo vệ bà Tam Cung Nguyệt Hạo trong vở tuồng Sơn Hậu (San Hậu), sau khi đã cứu thứ phi Phượng Cơ, hoán đổi Đổng Mẫu, xuất gia đi tu. Những ai yêu thích tuồng đều không thể không biết đến vở tuồng này, nó thuộc dạng tuồng đồ, tức là loại tuồng mà cốt truyện do tác giả bịa ra, không có thật trong sử sách, hay nếu có dùng điển tích thì cũng hư cấu thêm cho hấp dẫn, còn tuồng pho là loại tuồng được viết dựa vào cốt truyện hay sử sách Trung Hoa.
Sơn Hậu là một vở tiêu biểu nhất của nghệ thuật hát bội, đầy kịch tính, nhiều tình huống gay cấn, mâu thuẫn gần như chuyện ngoài đời, mang tính cách xã hội nên được khán giả ưa thích, nó có nội dung trung hiếu- tiết- nghĩa, ca ngợi nghĩa bạn bè, tình anh em và lòng hiếu thảo. Có người bảo tôi: “Anh khoe là ngày còn bé, đã xem đi xem lại vở ấy đến mấy lần, vậy chớ anh có còn nhớ nội dung câu chuyện nó như thế nào không? “. Có chứ, hãy nghe tôi kể tóm tắt, sai hay thiếu đâu thì sửa giúp nhé: “Nhân lúc vua Tề ốm nặng, Tạ Thiên Lăng cùng ba em bà Nguyệt Hạo là Ôn Đình, Lôi Phong, Lôi Nhược cướp đoạt ngôi vua bất chấp đạo lý. Chúng đã thẳng tay trừ khử Kim Lân, Linh Tá, bắt thứ phi Phượng Cơ trong lúc bà đang bụng mang dạ chửa hòng tiêu diệt mầm mống của nhà vua. Trong cơn nguy biến, Nguyệt Hạo dám đứng ra đương đầu với các em mình, bà bất chấp mọi nguy hiểm, đã cùng Kim Lân, Linh Tá và Tử Trình, những trung thần của nhà Tề, bàn mưu cứu thứ phi và hoàng tử. Chuyện bại lộ, Tạ Thiên Lăng cho quân đuổi theo, Khương Linh Tá ở lại cản đường để Đổng Kim Lân đưa thứ phi và hoàng tử mới sinh chạy trốn. Linh Tá chống không nổi quân Thiên Lăng và bị chém đứt đầu. Kim Lân bị lạc trong rừng, Linh Tá hiện lên thành ngọn đuốc đưa đường cho Kim Lân dẫn hoàng tử và thứ phi về được đến thành Sơn Hậu. Đổng Kim Lân củng cố lực lượng và tiếp tục chiến đấu chống Tạ Thiên Lăng. Tạ Thiên Lăng bắt mẹ của Đổng Kim Lân làm con tin, nếu Kim Lân phá thành chúng sẽ giết mẹ ông. Nhờ sự giúp đỡ của Nguyệt Hạo, quân của Đổng Kim Lân đã đưa bà đổi lấy Đổng Mẫu. Cuối cùng, quân Kim Lân chiến thắng. Hoàng tử lên ngôi vua. Sau cơn nguy biến, Nguyệt Hạo ghét cảnh lầu son gác tía, tranh giành ngôi vị của các em, bà đã gạt tình máu thịt, dứt bước ra đi trong nỗi niềm tâm sự, lên chùa xuống tóc đi tu…”.
Tôi lại còn nhớ, dưới tán lá của rừng dừa Bồng Sơn quê tôi, ánh đèn măng sông xanh dịu, tiếng trống chầu âm âm trong ngực, đến cái đoạn Khương Linh Tá đã mất đầu, một tay cầm đầu, một tay cầm đuốc, dẫn Đổng Kim Lân, thứ phi và hoàng tử băng qua rừng, thì phía trước, phía sau tôi có tiếng khóc rấm rứt của các bà, các chị. Bây giờ ngẫm lại tiếng khóc ấy, tôi bỗng nhận ra một điều: vật đổi sao dời, dẫu thời thế đổi thay thế nào thì lòng dân vẫn chỉ có một: ghét kẻ bất tài, xu nịnh, gian ác, thương người trung nghĩa.
Vì cha tôi cũng là một người yêu tuồng, nên sau khi mẹ tôi mới mất, những buổi xế chiều, nắng nhạt trên sân, nhà ngang vắng vẻ, ngẩn ngơ chim sẻ, kẽo kẹt võng đưa, mắt dân dấn ướt, ông ngâm nga những trích đoạn tuồng để cảm thương cho số phận của các nhân vật hay cho chính số phận của mình. Hết Sơn Hậu, ông hát đến Tam Nữ Đồ Vương, Đào Phi Phụng, Đông Lộ Địch…, những di sản của nhà soạn tuồng Đào Tấn. Nghe ông hát trích đoạn của vở Đào Phi Phụng, ba tiếng “dạ” của Liễu Nguyệt Tiêm trả lời chồng là Đào Phi Phụng khi hai vợ chồng mắng nhiếc nhau, vừa giận, vừa thương; ba tiếng “dạ” ông thể hiện với ba cung bậc tình cảm khác nhau, tiếng “dạ” cuối cùng nhẹ nhàng như sương, như khói tôi vẫn còn nhớ đến tận bây giờ. Có lúc ông còn cao hứng kiêm thêm nhiệm vụ của nhị, của kèn và trống, dĩ nhiên là mô phỏng bằng miệng những điệu Nam, điệu Quảng:“Cắc cắc tang tang cắc tờ rang cắc tang/Tang tang cắc cà rụp tắc xờn cắc”. Tôn trọng sự riêng tư của ông, tôi-lúc ấy là một thằng bé 13 tuổi-ngồi yên ở trong buồng, nghe ông hát mà như thấy hiển hiện trước mắt mình những đào, những kép, công hầu khanh tướng với những động tác ước lệ có tính khái quát cao: một cặp chân mày dựng ngược, một ánh mắt long lên, một thớ thịt rung giật trên mặt cũng đủ sức thể hiện nội tâm nhân vật một cách mạnh mẽ, cái roi thay cho con ngựa, mái chèo thay cho con thuyền, đôi ba vòng chạy quanh sân khấu là gian lao vạn dặm sa trường, những động tác múa nội ngoại tương quan, tả hữu tương ứng, thượng hạ tương phù có khả năng thay thế cho lời nói, điệu hát để diễn đạt tâm trạng, tính cách của nhân vật…
Đến tận bây giờ tôi vẫn yêu tuồng. Ước gì tôi lại được về dưới tán lá của rừng dừa Bồng Sơn quê tôi, kê vỏ dừa ngồi đối diện với sân khấu tuồng, những đào, những kép với xiêm y rực rỡ dưới ánh đèn măng sông xanh dịu, ngực âm âm tiếng trống chầu giữ nhịp…để say sưa với những “ Lê Lai đổi áo”, “ Mạnh Lương bắt ngựa”, “Tam Nữ Đồ Vương”…
tancogiaoduyen (Theo Huỳnh Văn Úc - BBD)
http://cailuongvietnam.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=4778