Nguyễn Đình Thi là một người thông minh, có đầu óc cải cách, đã đóng góp nhiều cho đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực văn nghệ. Ông xứng đáng được tôn vinh và nhận phần thưởng cao.
| Xin vẽ lại chân dung Nguyễn Đình Thi | ||||||
| 16/07/2008 11:58 (GMT + 7) | ||||||
| Một chân dung Nguyễn Đình Thi được vẽ lại với những góc khuất ít người nhắc đến. | ||||||
| Nguyễn Đình Thi là một người thông minh, có đầu óc cải cách, đã đóng góp nhiều cho đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực văn nghệ. Ông xứng đáng được tôn vinh và nhận phần thưởng cao.
Con người đa tài, hiện đại Nguyễn Đình Thi là một ngôi sao sáng trên nhiều lĩnh vực. Giới văn nghệ sĩ, giới trí thức và những ai đã đọc ông, biết ông đều thống nhất nhận định đó. Thật hiếm có một con người thông minh, có khả năng ở nhiều mặt như vậy. Ngay ở tuổi vị thành niên, trong khi đất nước đang sống lầm than dưới ách thực dân bán phong kiến thì ông đã xác định cho mình con đường đúng phải đi, dù vô vàn chông gai, nguy hiểm. Ông tham gia phong trào Việt Minh (1941) phong trào văn hóa cứu quốc (1943), tham gia Ủy ban giải phóng dân tộc (1944, 1945). Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, dù ông mới bước vào tuổi 20 nhưng đã được tín nhiệm cử làm thường trực Quốc hội, làm tổng thư ký Hội văn hóa cứu quốc. Ông chững chạc là một nhà hoạt động chính trị, một nhà quản lý văn hóa với thực tài của mình chứ không phải nhờ có cái mác “đi theo Đảng” sớm. Bài chính luận “nhận đường” của ông là một tuyên ngôn về hướng đi của giới tri thức, của văn nghệ sĩ, một biểu hiện rõ rệt sự nhạy cảm chính trị của một nhà hoạt động văn hóa. Thực tiễn sôi động với nhiều cái mới đau thương nhưng hào hùng đã làm máu nghệ sĩ trong người ông trào lên. Hai bài “Diệt phát xít”, “Người Hà Nội” chẳng bao lâu đã âm vang khắp các nẻo đường ngõ xóm tràn vào cả những phòng trà quán bar khắp đất nước, trở thành 2 tác phẩm tiên phong của trào lưu âm nhạc cách mạng, tạo ra chất hùng ca hoành tráng trong âm nhạc Việt Nam. Nhưng rồi con người nghệ sĩ của ông lại bước sang lĩnh vực thi ca. Ông đã có những bài thơ, những vần thơ làm say đắm lòng người, sống mãi trong sổ tay, trong ký ức ấm áp của những người lính trên mọi nẻo đường hành quân: “Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh/ Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây/ Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh/ Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây”. Ông thấy thơ ca truyền thống êm ái, ngọt ngào nhưng vẫn có cái gì đó công thức gò bó không hợp với sự biểu cảm thoải mái chân thực. Ông chủ trương thơ tự do, không lệ thuộc vần điệu và số chữ trong câu: Văn Cao là người ủng hộ nhiệt liệt và đã cho ra đời những bài thơ cũng không theo luật lệ nào, tiêu biểu là trường ca “Những người trên cửa biển”, không lụy vần nhưng có tiết tấu có nhạc điệu, đọc vẫn thấy rất thơ: “Không có tiếng vỡ trong không gian, sao có tiếng vỡ trong lòng tiếng vang âm rền rĩ…” Nhưng rồi trên văn đàn không còn sự bàn luận sôi nổi về quan điểm thơ không vần của Nguyễn Đình Thi nữa. Phái thơ Nguyễn Đình Thi yếu thế. Thơ ông phải trở lại khuôn khổ. Song trên thực tế loại thơ tự do vẫn phát triển mạnh như một dòng chảy xiết không thể nào ngăn nổi.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, tham gia chiến dịch Trung du, ông thấy cần đến với một thể loại văn học khác, có điều kiện để phác thảo chân dung con người thời đại rõ nét hơn: thể loại tiểu thuyết. Chỉ sau 40 ngày, ông cho ra đời cuốn “Xung kích” xuất hiện như một tác phẩm tiên phong mở đầu cho một trào lưu tiểu thuyết cách mạng. Giữa lúc lý luận, phê bình văn học nghệ thuật chưa có nền tảng, ông tung ra một loạt tiểu luận, thể hiện một nhãn quan học thuật mới. Giới văn nghệ và bạn đọc đặc biệt quan tâm đến bài đánh giá văn phẩm của Nam Cao. Qua ngòi bút phân tích của ông, nam Cao đang chìm trong quên lãng đã hiện ra như một văn nhân hiện thực tiêu biểu. Ông đã thể hiện một cách nhìn sắc sảo đầy chất triết lý đối với truyện của Nam Cao. Nguyễn Đình Thi lại đi sang lĩnh vực sân khấu. Ông viết một loạt vở kịch, đều có giá trị. Người ta chú ý nhiều đến các vở “Con nai đen”, “Rừng trúc”, “Nguyễn Trãi ở Đông Quan”. Ở đây, người ta nhìn thấy một Nguyễn Đình Thi đầy trí tuệ, một sự kết hợp tài năng Đông Tây kim cổ. Ông viết chuyện xưa mà không lụy cổ, ông viết về trời phương Đông mà có ánh sáng của văn hóa phương Tây. Tôi không được may mắn gần gũi ông, quen ông nhưng do tình cờ mà tôi đã có 4 lần ngồi cạnh ông, nghe ông phát biểu (một lần ông tiếp và trả lời phỏng vấn một nhà báo Pháp, một lần ông đến nói chuyện ở Báo Giáo dục - Thời đại, một lần ông gặp và trao đổi với một số Tổng biên tập Báo xung quanh việc thay đổi Tổng biên tập Báo Văn nghệ, một lần cùng dự tọa đàm về nhạc Văn Cao trong diện hẹp).
Tôi rất đồng tình với sự đánh giá cao tài năng và sự đóng góp của ông cho đất nước, nhất là công khai phá trong sự nghiệp văn nghệ. Tôi thấy ông rất xứng đáng được nhận những phần thưởng mà nhà nước đã ban tặng (giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, huân chương Độc lập hạng nhất…), các giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhưng đó là đứng ở góc nhìn so sánh với khách thể mà phân tích chứ nếu kết luận trên cơ sở đóng khung trong chủ thể (nghĩa là so sánh giữa kết quả hành động của ông với hoài bão của ông, tài năng đa dạng của ông) thì tôi có thể khẳng định ông chưa làm được nhiều ông đã buông lái giữa giòng. Tiếc cho con người cải cách nửa vời, tự hãm tài năng Nguyễn Đình Thi là ngôi sao cô đơn. Ở lĩnh vực nào ban đầu ông cũng xuất hiện rực rỡ nhưng rồi ông không dám mạnh dạn tập hợp tài năng thành một chùm sao kết. Ngôi sao Nguyễn Đình Thi cũng tự mờ dần sau những phút lóe sáng. Một số người đồng tình với nhận định của tôi là ông chưa thành công nhưng lại chứng minh bằng chức vụ dậm chân tại chỗ sau gần 6 thập kỷ (năm 1946 đứng đầu Hội văn hóa cứu quốc, năm 2003 trước khi mất cũng đứng đầu Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật). Tôi không hề tư duy theo hướng đó mà chủ yếu là căn cứ vào diễn biến tư tưởng và chất lượng công trình sáng tạo của ông so với mục tiêu ông tự đề ra cho mình và tài năng sẵn có của ông. Mấy cuốn sách triết học của ông tuy nội dung còn đơn sơ nhưng đã gây được sự chú ý trong giới trí thức. Thế nhưng sau đó chẳng thấy gì về triết học của Nguyễn Đình Thi nữa chỉ vì một ý kiến nửa đùa nửa thật của ông Hải Triều (nhà Lý luận Mác xít của Đảng hồi bấy giờ): “Những ông ấy đều là triết gia duy tâm. Ông viết duy tâm trong lúc này làm gì”. Nguyễn Đình Thi hình như đã sợ. Con đường triết học không còn là hướng đi của ông nữa. Một lần nữa, ông lại buông xuôi và an phận. Ông bước vào âm nhạc thật hùng dũng, nhưng rồi ông cũng chỉ đi một đoạn đường rất ngắn. Sau hai bài “Diệt phát xít”, “Người Hà Nội” là ông đã nói lời chia tay. Ông nói vui với Văn Cao: “âm nhạc mình chỉ có thế thôi”. Kể ra chỉ cần một bài nổi tiếng là tên tuổi của tác giả đã bất diệt rồi. Nhưng khi quần chúng đang hy vọng, trông chờ mà mình dứt áo ra đi là không phải đạo. Không ít người đặt dấu hỏi, người cầm kèn xung trận đã đi đâu? Có thực là tài năng âm nhạc hay trong những lĩnh vực khác mà ông đã chạm tay vào là có hạn chế hay ông chỉ là kẻ không dám dấn thân (?) Về thơ, ông muốn phá luật, không lụy vần, đề xướng thơ tự do. Nhưng người ta lại nhắc ông rằng như thế là nghệ thuật không vị nhân sinh dù lý lẽ chưa thật xác đáng. Ông lại lặng lẽ rút lui. Đến khi đưa in tập thơ “Người chiến sĩ”, ông cũng phải sửa lại theo ý ông Tố Hữu. Tập thể nhà xuất bản Văn học không đồng tình tập bản thảo sửa lại vì đã làm mất hết phong cách đổi mới sáng tạo, đề nghị chỉ in tập bản thảo đầu tiên. Dù trúng ý muốn của ông nhưng ông vẫn van xin nhà xuất bản nên in tập đã sửa. Khi thấy nhà xuất bản vẫn kiên định lập trường của mình, ông đành buồn bã ra về, chờ cơ hội khác với một câu cáo từ yếu ớt: “anh em thông cảm cho tôi”. Nhà thơ Hoàng Cầm khi đó là Phó giám đốc nhà xuất bản đã kể lại cho tôi nghe chuyện này với thái độ thất vọng. Nguyễn Đình Thi vẫn tiếp tục làm thơ. Sau tập “Người chiến sĩ”, ông cho in tiếp nhiều tập khác (Bài ca Hắc Hải, Dòng sông trong xanh, Tia nắng…) nhưng ảnh hưởng của nó không còn. Tài năng thơ của ông vẫn chưa được hoàn toàn giải phóng. Do đó thơ ông chưa thể xếp lên hàng đầu cùng chiếu với Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu được. Điều mong muốn lớn nhất của ông trong sáng tác là có được một tiểu thuyết ngang tầm thời đại. Nhưng rồi tài năng sáng tạo của ông cũng không vượt lên trên được sự cản trở của công thức tư tưởng và nghệ thuật lạc hậu cũ kỹ. Cuốn “Xung kích” cũng chỉ mới có ý nghĩa mở đầu chứ giá trị thực chất của nó cũng chưa tới đỉnh cao. Tiểu thuyết “Xung kích” tuy được giải thưởng nhưng cũng bị một nhận xét của ai đó có quyền lực là chất tiểu tư sản trong tác phẩm còn nặng. Thế là ngòi bút của ông bị chùn. Những tập “Vào lửa”, “Mặt trận trên cao”, đặc biệt là “Vỡ bờ” (với một số lượng trang rất lớn) cũng chỉ nằm ở dạng trung bình khá, có không ít đoạn miêu tả nhân vật thiếu thanh thoát; chưa có cuốn nào được coi là sự kiện văn học đáng chú ý. Ông có một khả năng tư duy tốt cộng với tâm hồn phong phú và vốn thực tế nóng bỏng mà ông đã kịp thời kiên nhẫn xâm nhập, ông có quyền hy vọng vào kết quả sáng tạo nghệ thuật của mình. Nhưng rồi khi thấy kết quả không được như ý muốn, ông chợt nhận ra chính mình đã trói buộc mình. Có lần ông chân thành tâm sự với bạn văn trẻ: “Chức vụ và quyền lực chẳng là cái khỉ gì nhưng mất nó có lúc cũng thấy cô đơn; mà muốn không mất nó thì cũng có lúc phải chịu mất mình”. Tôi không coi đây là thái độ khiêm tốn, là ý thức tổ chức kỷ luật. Ông vốn là người rất tự tin, có chính kiến rõ ràng. Nhưng ông đã không dám tỏ bày, trao đổi tranh luận để bảo vệ lập trường của mình là do ông nể e sợ và là do tinh thần bảo mạng. Phải chăng cái góc tâm hồn tăm tối này đã khống chế cái tầm trí tuệ rộng lớn và ngòi bút năng động của ông, làm cho ông có lúc trở thành một thường dân trong giới trí thức và văn nghệ. Thật đáng tiếc. Tôi không trách ai đã kìm hãm tài năng của ông mà tôi thực sự không hài lòng về ông. Những năm từ đầu thập kỷ 90 trở lại đây Đảng ta đã đổi mới, có nhiều chính sách mở đối với trí thức văn nghệ sĩ nhưng ông vẫn chưa thoát ra khỏi cái lề thói tầm thường của một tư tưởng tầm thường. Tôi không muốn ông thẳng thắn trung thực để rồi gặp phải những thăng trầm đau đớn như các ông Kim Ngọc, Trần Đức Thảo vì ông là người khôn khéo trong giao tiếp văn hoá. Mong ông ở dưới suối vàng thông cảm với những điều suy nghĩ của tôi, có thể còn chưa chín nhưng là tiếng nói tự đáy lòng.
|
http://www.tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/4292/index.aspx