Khi nói về Ca Huế, người sông Hương thường dùng từ nghe ca để chỉ việc thưởng thức ca Huế từ truyền thanh, truyền hình, từ băng đĩa hoặc, sống động hơn, từ các chiếc thuyền thả trôi trên sông Hương. Ngoài ra còn một cụm từ khác gọi là đi coi ca để chỉ việc đến với sân khấu, nhà hát để xem trình diễn ca kịch Huế.
Đây là một loại hình nghệ thuật ra đời đã lâu, từ hồi còn Pháp thuộc; cũng giống diễn tuồng cải lương trong Nam nhưng lời thoại và các bài ca đều thể hiện bằng tiếng Huế. Tuồng tích thì có hai loại: tuồng xưa và tuồng tâm lý xã hội. Tuồng xưa là tuồng lấy cốt truyện từ lịch sử, truyện thần thoại hay cổ tích hoặc những truyện lâm ly, gay cấn có tính cách đề cao đạo lý nghĩa nhân như truyện “Phạm Công – Cúc Hoa”, “Lâm Sanh Xuân Nương”, “Thoại Khanh – Châu Tuấn”…Tuồng xã hội là loại tuồng mới, nhân vật ăn mặc theo lối mới, cốt truyện phần nhiều là chuyện tình éo le, bi thảm. Khán giả không những được xem nghệ sĩ diễn xuất mà còn được nghe các điệu ca mà mình yêu thích.
Cái lối vừa ca, vừa diễn nằm trong dòng chảy của kịch xem ra sống động và hấp dẫn hơn là khi chỉ nghe ca qua đài phát thanh. Thêm vào tuồng tình yêu, để hấp dẫn khán giả hơn, ca kịch Huế còn có những “tuồng trinh thám” mang tình hình sự, có tội ác, có điều tra tìm thủ phạm, có “trả thù rửa hận”, thêm vào đó là những màn “đấu dao găm” do các diễn viên đánh võ, đấu dao một cách ác liệt, vô cùng ngoạn mục. Nói chung, ca kịch Huế mô phỏng theo kịch nói Tây phương từ việc phân hồi, phân cảnh đến bài trí, hóa trang chỉ khác ngoài kịch còn thêm ca và ca là những bài ca đặc biệt của xứ Huế ra đời từ lâu, xuất xứ từ cung đình bác học cùng các điệu lý, điệu hò dân dã gọi là ca nhạc cổ truyền. Tác giả các vở ca kịch Huế đã sử dụng những bài ca này, theo điệu ca mà đặt lời cho thích hợp với tâm trạng của nhân vật; tùy theo tính cách đối thoại mà chọn điệu vui hay buồn, lâm ly bi thảm hay hùng tráng, phấn khởi. trước khi bắt sang một bài ca, diễn viên thường “nói lối” bằng vài câu có vần, lên bổng xuống trầm rồi mới bắt sang ca. Diễn tả nỗi u buồn thì có những bản như Nam Ai, Nam Bình; không qúa bi lụy thì dùng bài Nam Xuân; hai nhân vật đối thoại qua lại thì dùng điệu Giao duyên; diễn tả nỗi nhớ thương thì dùng bài Tương tư khúc, nói lên tâm trạng vui tươi phấn khởi thì dùng bài Kim Tiền… còn những bài khác như Tứ đại cảnh, Cổ Bản, phú lục,…và rất nhiều điệu lý như Lý Năm Canh, Lý ngựa ô Huế, Lý Tình Tang, Lý Giang Nam, Lý Hoài Xuân, Lý Bốn cửa quyền,…và các điệu hò Mái Nhì, Mái đẩy, Hò giã gạo, Hò Ru em cộng thêm ngâm thơ, chầu văn đều có thể tận dụng vào ca kịch Huế.
Vì nhiều bài ca hơi dài nên thường khi tác giả chỉ cho nhân vật của mình ca một hoặc hai lớp (lớp tức là một đoạn, ví dụ: bài Tứ đại cảnh có 35 câu, 42 nhịp, chia làm 4 lớp); nếu trong kịch có một nhân vật một mình dạo chơi nơi vườn hoa vào buổi chiều mát mẻ đối cảnh sinh tình thì có thể ca trọn một bài cổ bản; một nhân vật trước khi chia tay với vợ để lên đường thì, sau vài câu thoại, có thể ca lớp chót của bài Nam Bình, tức là lớp “sang sông”.
Tuân thủ theo nguyên tắc, cấu tạo của kịch, ca kịch Huế luôn đưa ra những vở éo le, gay cấn, có thắt, có mở; đủ các loại nhân vật có mặt trong xã hội với đủ tính cách, tâm trạng, lối sống; có đủ vai đào lẳng, đào độc, kép độc, kép đẹp, vai lão, vai mụ và không quên vai hề gây cười cho khán giả. Những màn đánh võ, đấu dao găm, đeo mặt nạ là để làm vừa lòng lớp khán giả thanh thiếu niên; những vai đào lẳng có giọng ca Nam Ai, Nam Bình, Tứ Đại mùi mẫu là để cuốn hút các cô, các bà. Từ 1940 trở đi, ca kịch Huế còn thêm màn phụ diễn tân nhạc, đi đầu của nền tân nhạc như Nhớ quê hương của Phạm Văn Chừng; Buồn tàn thu của Văn Cao; Bản đàn xuân của Lê Thương…Nam ca sỹ hát tân nhạc đi theo các gánh ca kịch Huế sớm nhất là Châu Kỳ. Ông rất được hoan nghênh trên đường lưu diễn, vào Nam ra Bắc, qua tận bên Lào. Sau này khi các đoàn ca kịch Huế giải thể, ông chuyển sang sáng tác nhạc mới và hát thường xuyên cho các đài phát thanh trong nước.
Các đoàn ca kịch Huế nổi tiếng ngày trước phải kể là đoàn Hồng Thu, sau đó là gánh ca Huế Kim Sanh và một vài gánh khác, nổi tiếng nhất là thầy Châu Văn Hà, thân phụ của nhạc sỹ Châu Kỳ, cùng con gái là cô nghè Minh đã nhiều năm lập gánh, theo nghề đào tạo ra nhiều nghệ sỹ trong làng ca kịch. Nổi tiếng thời đó có các nữ nghệ sỹ như các cô Vàng Chị, Vàng Em, Hồng Lê, Hồng Tuyết… Về Nam thì có kép Tư Thống, Văn Lang là những tài tử ca kịch Huế đóng góp nhiều công lao xây dựng nên bộ môn nghệ thuật này. Sau cách mạng tháng 8, tiếp đó là chiến tranh, các nghệ sỹ ca kịch Huế phân tán, lớp đi theo kháng chiến, lớp ở lại vùng tạm chiếm thì chọn nghề khác làm ăn, ca kịch Huế hầu như vắng bóng. Ngay cả trên quê hương phát sinh ra ca kịch Huế cũng không thấy có một gánh ca kịch nào còn tiếp tục hành nghề.
Rút lại chỉ còn ca Huế trên đài phát thanh, truyền hình, tại các khách sạn ở Huế hoặc trên sông Hương. Lớp trẻ ở phía Nam đương nhiên là chưa hề được xem ca kịch Huế, rất ít hiểu biết về bộ môn nghệ thuật này vì từ Huế trở vào, ca kịch Huế đã vắng mặt ngót nửa thế kỷ nay. Từ Huế trở ra Bắc, ca kịch Huế còn được nuôi dưỡng, xuất hiện nhiều lần, với những tuồng tích phục vụ yêu cầu tuyên truyền, vận động nhất là trong thời kỳ kháng chiến. Dần dần hoạt động này càng ngày càng khép lại. Người nghe ca nhiều hơn là người đi coi ca vì còn ai diễn xuất nữa đâu mà xem! Trong khi đó khách du lịch tham quan Huế ngày càng đông, nghệ sĩ ca nhạc Huế trên sông Hương càng làm ăn phấn chấn. Từ đó nổi lên những tên tuổi như Kiều Oanh, Thu Hằng, Thu Hiền, Mai Lê, Hồng Thanh, Kim Liên… Nhiều bạn trẻ khác phấn khởi đi học ca, học đàn để đáp lại nhu cầu của khách du lịch,không những là người nước ngoài hiếu kỳ mà người trong nước cũng yêu ca nhạc Huế nhờ làm quen qua màn ảnh truyền hình.
Ở Huế, đội ngũ trình diễn ca kịch Huế đang có sẵn, nên chăng cần làm sống lại một loại hình nghệ thuật đã vắng bóng từ lâu, vốn gợi sự nhớ nhung trong lòng nhiều người yêu Huế.
trich blog Trân Son