| HÁT VĂN | Jan 21, '09 7:57 AM for everyone |
| | ||||||||||||
(VieTimes) - Tên gọi "Hát văn" bắt nguồn từ điệu hát "vãn ca" trong hát tang lễ, điệu hát mở đầu cho hệ thống vãn, mang âm điệu buồn thảm thiết, xúc cảm mãnh liệt. | ||||||||||||
| Trong sân khấu chèo hình thành cả một hệ thống về hát văn: vãn ca, vãn cầm, vãn theo, vãn non mai... Được sử dụng trong hoàn cảnh thất vọng hay cảnh chia li chết chóc. Hát văn, còn gọi là chầu văn hay hát bóng, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc trong nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ, một tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Hát văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc bộ. Gắn với một phức hợp tín ngưỡng của người Việt, sau nhiều thế kỷ phát triển, hát văn (hoặc hát chầu văn) đã xây dựng được nhiều kiểu gõ nhịp và một hệ thống làn điệu, bài bản phong phú với những quy ước về cách vận dụng cho từng hàng thánh và từng loại phủ.
Hát văn có hai loại là hát thờ và hát lên đồng: Hát thờ: được hát trước ngày tiệc, đầu rằn, mồng một, ngày tất niên và hát trước khi vào các giá văn lên đồng. Hát lên đồng, hay còn gọi là hát hầu bóng: người theo tín ngưỡng chỉ được hầu bóng từ hàng dưới các đức thánh mẫu quyền uy trong Tứ phủ công đồng, đó là hệ thống chầu các quan hoàng trở xuống. Hầu đồng là nghi lễ nhập hồn của các vị Thánh Tứ Phủ vào thân xác ông Đồng bà Cốt. Trong nghi lễ đó, hát vǎn phục vụ cho quá trình nhập đồng hiển thánh. Sau khi đã múa các thánh thường ngồi nghe cung văn hát, kể sự tích lai lịch vị thánh đang giáng. Với các giá ông Hoàng thì cung văn ngâm các bài thơ cổ. Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác về gối và thưởng tiền cho cung văn. Lúc nầy cũng là lúc thánh dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu nước v.v... Các thứ thánh dùng phải làm nghi thức khai cương (khai quang) cho thanh sạch. Đàn nhạc hầu bóng gồm có một đàn nguyệt, một đàn nhị, một sáo, một trống lớn, một trống nhỏ, một cảnh đôi (tiu cảnh), một phách. Tùy từng địa phương, tùy hoàn cảnh hành lễ mà người ta có thể thêm bớt nhạc cụ này hoặc nhạc cụ khác khác. Nhưng đàn nguyệt, trống nhỏ, cảnh đôi là các nhạc cụ nòng cốt, nhạc cụ tính cách của dàn nhạc nên không thể thiếu được. Về tiết tấu, hát văn thường sử dụng nhịp ngoại (đảo phách). Loại nhịp này mang đến một cảm giác không ổn định trong tâm trí người nghe, đưa người nghe vào trạng thái mông lung, huyền ảo. Hát văn có 13 điệu, hay còn gọi là lối hát. Đó là: Bỉ, Miễu, Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Phú Rầu, Đưa Thơ, Vãn, Dọc, Cờn, Hãm và Dồn. Bỉ mang sắc thái trịnh trọng, được dùng để hát trước khi chính thức vào một bản văn thờ hoặc văn thi. Có 2 cách hát: Bỉ 4 câu và Bỉ 8 câu. Bỉ được lấy theo dây lệch, nhịp theo lối dồn phách. Miễu là lối hát rất nghiêm trang, đĩnh đạc, chỉ được dùng trong hát thi và hát thờ, tuyệt nhiên không bao giờ được dùng trong Hầu Bóng. Miễu được lấy theo dây lệch, nhịp đôi. Thổng chỉ giành riêng cho văn thờ và văn thi, được lấy theo dây bằng, nhịp ba. Phú Bình dành riêng cho hát văn thờ, rất đĩnh đạc, và dùng để hát ca ngợi các nam thần. Phú Bình được lấy theo dây lệch, nhịp 3. Phú Chênh là lối hát buồn, thường dùng để hát trong những cảnh chia ly. Được lấy theo dây bằng, nhịp 3. Phú nói thường dùng để mô tả cảnh hai người gặp gỡ, nói chuyện với nhau. Dùng trong hát văn thờ, văn thi và cả trong hầu bóng. Lấy theo dây bằng, nhịp ba hoặc không có nhịp mà chỉ dồn phách. Phú rầu là lối hát rất buồn, được lấy theo dây bằng nhưng hát theo nhịp đôi. Đưa thơ được lấy theo dây bằng, nhịp 3 và dồn phách, nhưng chủ yếu là dồn phách. Vãn lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất lục bát, hát theo lối vay trả (vay của câu trước thì trả lại trong câu sau). Dọc lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất - lục bát và hát theo nguyên tắc vay trả. Nếu hát từng câu thì gọi là nhất cú. Nếu hát liền hai câu song thất - lục bát thì gọi là "Dọc gối hạc" hay "Dọc nhị cú". Cờn dùng để ca ngợi sắc đẹp các vị nữ thần. Cờn được lấy theo dây lệch, nhịp đôi. Có thể hát theo dây bằng, nhưng hầu hết là hát kiểu dây lệch (biến hóa). Hãm lấy theo dây bằng, nhịp đôi, đây là lối hát rất khó vì phải hát liền song thất lục bát. Trong lối hát này có một tuyệt chiêu là Hạ Tứ Tự, có nghĩa là mượn bốn chữ của trổ sau, khi sang một trổ mới thì lại trả lại bốn chữ ấy. Dồn được lấy theo dây bằng, nhịp 3. Dàn nhạc trong hát Văn: 1. Nhị: Đàn Nhị còn có tên gọi khác là Cò Líu, Cò Lòn hoặc Nhị Líu, Nhị Lòn, là nhạc khí dây, kéo cung vĩ. Dàn nhạc đó gồm 10 nhạc công ǎn mặc giống như người Chǎm và chơi các loại nhạc cụ trong đó có một nhạc cụ gần giống như Đàn Hồ 2 dây và là tiền thân của cây đàn Nhị bây giờ. Cǎn cứ vào đó người ta đã ước đoán Đàn Nhị có thể du nhập vào Việt Nam theo con đường của người Chǎm và cũng có thể du nhập theo con đường Trung Hoa tùy theo từng thời gian địa điểm khác nhau. (Theo lịch sử âm nhạc của giáo sư Trần Vǎn Khê và Vǎn Thương) 3. Đàn Nguyệt (đàn kìm ) Nhờ có cần tương đối dài và những phím cao, nhạc công có thể tạo được những âm nhấn nhá uyển chuyển, mềm mại. 4. Tiu cảnh 5. Phách Phách là nhạc khí tự thân vang của Dân tộc Việt, có nhiều thứ Phách khác nhau với các tên gọi khác nhau được sử dụng trong các thể loại Ca, Nhạc và Múa. Phách là nhạc khí tự thân vang gõ do người Việt Nam sáng tạo. Lá phách: là một dùi gõ kép gọi là lá phách gồm hai thanh dẹt ấp vào nhau. Hai lá phách dài khoảng 28cm, gồm hai mảnh để chập vào nhau như một chiếc dùi bổ dọc ra , do tay phải người đánh phách cầm chập vào nhau để gõ vào mặt bàn phách. Tay ba: là dùi gõ cầm bằng tay trái, chiều dài như hai lá phách, tay ba thường làm gỗ mít. Việt Tú (tổng hợp)
|