MỘT BÀI NÓI CHUYỆN CỦA THẦY KHÊ TRONG BUỔI TRÀ ĐÀM.
Vào cuối mùa Thu năm 2008 vừa qua ở Hiện Quán Trà của chúng tôi có tổ chức một buổi tọa đàm về Trà Việt Nam. Chúng tôi rất vinh hạnh được đón tiếp một vị khách rất đặc biệt,đó là Giáo sư Tiến sỹ Trần Văn Khê.
NÉT VĂN CHƯƠNG ĐẸP VÀ LÒNG YÊU NƯỚC TRONG MỘT VỞ CẢI LƯƠNG NĂM 1927.


Trà thất Hiện Quán-Photo: Viên Trân

Thầy Khê uống Trà-Photo : Xuân Chính
Vào cuối mùa Thu năm 2008 vừa qua ở Hiện Quán Trà của chúng tôi có tổ chức một buổi tọa đàm về Trà Việt Nam. Chúng tôi rất vinh hạnh được đón tiếp một vị khách rất đặc biệt,đó là Giáo sư Tiến sỹ Trần Văn Khê.
Ngày hôm đó Ông thể theo lời thỉnh cầu của chúng tôi đến thứ nhất là thưởng thức một buổi trà mùa thu,thứ đến là Ông sẽ nói chuyện về Trà Đông,Tây kim cổ.
Chúng ta hầu như ai cũng biết Giáo sư là một người rất đỗi uyên bác không những trong chuyên ngành nghiên cứu âm nhạc dân tộc mà trong lãnh vực văn hóa Việt Nam Ông còn là một người có kiến văn quảng bác,có tâm hồn yêu nước sâu sắc và luôn tự hào về truyền thống dân tộc.
Thật đáng được yêu quý và trân trọng biết bao vị Giáo sư,người Thầy khả kính,một nguời Việt rất Việt Nam của chúng ta,
Tối mùa Thu khí trời dịu mát,trà sen thơm lưu luyến,trà Cúc thơm kín đáo nhẹ nhàng mang đầy phong vị của mùa Thu.
Đèn vàng dìu dịu,mấy bức thư pháp chữ thảo trầm mặc và ung dung,tiếng đàn Cầm thong thả nho nhỏ như thả một hồn Thu vào trong từng chung Trà vàng nhạt ánh trăng.. 
Một bức thư pháp chữ thảo ở Trà thất do cố hòa thượng Thích Phước Thành trụ trì chùa Châu Lâm ở Huế viết. Photo : Viên Trâ
n
Thầy Khê nói về Trà Việt Nam qua Ức Trai thi tập,Ức Trai di tập mà trong dòng lịch sử được nhắc lại đó Nguyễn Trãi hiện về như một Trà nhân tuyệt vời,ung dung,tự tại…
Rồi Thầy lại kể về những kỷ niệm uống trà ở Đài Loan đẹp và thơ mộng như một bài thơ Đường,một điệu từ Tống…
Sau đó Thầy lại kể cho khán,thính giả ngày hôm đó nghe về một trích đoạn trong một vở cải lương do cậu năm của Thầy sáng tác năm 1927 ( Cậu Năm Thầy là Ông Nguyễn Tri Khương,cháu ngoại của danh tướng Nguyễn Tri Phương).
Thầy nhắc đến trích đoạn nói về các món ăn và cách thức làm các món đó được Ông Nguyễn Tri Khương viết theo thể văn biền ngẫu,câu cú,từ ngữ đối nhau chan chát hàm ý sâu xa về lòng yêu nước và khinh miệt,chê bai những kẻ khom lưng,quỳ gối,bẩm bẩm,dạ dạ với thực dân Pháp ngày xưa.
Thầy nói đến trích đoạn để muốn nhắc nhở rằng:
“ Văn chương trong cải lương không phải là tầm bậy,tầm bạ không có lề lối,không có quy củ” mà những người viết cải lương,làm cải lương “chân chính” là những người hết sức đàng hoàng,trọng nhân cách sống có ý thức và có lòng tự hào yêu nước.
Tôi xin viết lại đoạn trích từ bài nói chuyện của Thầy:
“ Một người làm quán ăn nói rằng :
-Quán tôi không bán những món hàng của ngoại bang mà chỉ bán những đồ thổ sản:
“Này thịt Đa đa
Này lòng Quốc quốc
Này rắn Hổ đất
Này bụi Cải trời
Này là Tôm luộc để ăn chơi
Này là Ếch xào xơi nhậu lũi
Này rau Sam Núi
Này củ Gừng Non
Này Dọc dọc con
Này Dền dền tía
Thứ làm Bò bía
Thứ thấu Mắm chà
Thứ xắt trên da
Thứ nhồi bóng cá
Lòng con Bạc má
Xương gáy Cá Ông
Lưỡi Phụng, gan Công
Da Hầu, gân Ngọc
Này giò Cồng cộc
Này thịt Điên điên
Thuốc lá chỉ thiên
Rượu dầm Thục địa .”
Khách mới hỏi rằng:
Những món ăn này anh chế biến nó ra như thế nào?
Chủ quán đáp:
“Đốt than Tòng nấu thịt Đa đa
Nhen lửa Bá ram lòng Quốc quốc
Dùng chảo sắt xáo tan bầy Hổ đất
Lấy nồi đồng nấu rụi đám Cải trời
Giống khum lưng là đồ Tôm luộc để ăn chơi
Thứ co gối là Ếch xào xơi nhậu lũi
Gà rừng xáo với rau Sam núi
Cá biển chưng cùng củ Gừng non
Măng Mạnh tông nấu với Dọc dọc con
Bầu Tử lộ chưng cùng Dền dền tía
Vỏ dưa hấu xắt xào làm bò bía
Con tôm tươi lặt luộc thấu mắm chà
Sứa gành tiên trộn gỏi bông da
Bột hoành thánh nấu dồi bóng cá
Canh Cam thảo nấu lòng con Bạc má
Rượu Phục linh tẩm xương gáy cá Ông.”
(Viên trân ghi lại theo bài nói chuyện của Thầy Khê)
Qủa thật người sáng tác ra vở cải lương này là một người quá tài giỏi!
Ông đã vận dụng kiến thức nho học,y hoc,văn học…vào trong thể văn biền ngẫu mà chỉ dựa vào vài món thổ sản dân dã ông đã công khai nói lên chủ ý của mình là yêu nước,hiên ngang,khí phách như Tòng,Bá lúc nào cũng canh cánh nợ nước thù nhà
“ Đốt than Tòng nấu thịt Đa đa
Nhen lửa Bá ram lòng Quốc quốc”
Ông đã công khai khinh bỉ những người khom lưng cam chịu sự thống trị của bọn thực dân
“ Giống khum lưng là đồ Tôm luộc để ăn chơi
Thứ co gối là Ếch xào xơi nhậu lũi”
Ở đây chắc chắn là Ông Nguyễn Tri Khương chẳng những dùng hình tượng con tôm khom lưng mà Ông còn ví những nguời tôn thờ ngoại bang như con tôm phân ở trên đầu không sá gì đến tổ tiên dân tộc!
Tiếp theo là hai câu:
“ Dùng chảo sắt nấu tan bầy hổ đất
Lấy nồi đồng đốt rụi đám cải trời”
Ngoài ý nghĩa Chảo sắt đối với Nồi đồng. Đất đối với Trời ra rõ ràng, Ông công khai bày tỏ phải dẹp tan những con người làm hổ danh đất nước,phải tiêu diệt những kẻ dám cải với mệnh trời.
“Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Do hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
(Lý Thường Kiệt)
Nghĩa la:
Sông núi nước Nam, Vua Nam ở
Rành rành đã định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời.
Tiếp theo là những những câu đối với nhau rất chuẩn như:
Gà rừng đối với Cá biển
Rau Sam đối với Củ Gừng
Núi đối với Non
Măng đối với Bầu
Mạnh tông đối với Tử lộ ( Là hai người học trò của Đức Khổng Tử)
Dọc dọc đối với Dền dền
Con đối với Tía…..
Thật là hay! Thật là tuyệt! Nếu không có một người có trí nhớ xuất sắc như Giáo sư Trần Văn Khê nhớ và đọc lại đoạn trích trên thì làm sao những kẻ hậu sinh như chúng ta có dịp được biết đến những điều hay ho như thế.
Xin thay mặt cho trà thất,cho những khán thính giả gần bốn mươi người ngày hôm ấy chân thành cảm ơn Thầy,cảm ơn một tâm hồn Việt Nam chân thật và khả kính!
Trà chủ Viên trân kính bút.
Sài gòn,đầu mùa Hạ 2009
http://vientran.multiply.com/journal/item/26