Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Tiểu sử nhạc sĩ

Phạm Tự Trọng : Đêm Việt Nam / Hà Thúc Sinh

  Cũng như hầu hết mọi người, trong một nghĩa nào đó, âm nhạc là điều không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của tôi. Kiến thức âm nhạc của tôi tất nhiên chỉ giới hạn trong vị trí của một người mê nghe nhạc, và dùng âm nhạc như cái thước đo cảm xúc của chính mình trong đời sống pha trộn giữa niềm vui và nỗi buồn.                                         

 

                                          ĐÊM VIỆT NAM

          

  

Phạm Tự Trọng

 

     

       Tôi lại có thể được may mắn hơn nhiều người là vì từng được cảm nhận âm nhạc không chỉ giữa cái vui buồn, mà ở ngay giữa thời điểm tuyệt vọng nhất trong cuộc đời, gần như là sự chết không chỉ cho riêng mình mà cả số phận những người thân yêu của mình : giữa trại tù cải tạo CSVN. Tôi không định viết về “Tù Cải Tạo” vì đã có quá nhiều người kể về nó. Bắt người ta nghe đi nghe lại một chuyện ai cũng biết sẽ trở thành nhàm hóa nhảm. Tôi chỉ muốn nói đến cảm xúc về những dòng thơ nhạc một người đã viết và hát cho tôi nghe trong hoàn cảnh này.

        Đúng thế, có một nhạc sĩ, có một ca sĩ, có một đêm tối, có chung quanh là rình rập bắt bớ; một tiếng hát thì thào cất lên trần truồng từ tăm tối. Ngoài tiếng hát tất cả đều im lặng, sự im lặng như phát thành tiếng thay cho tiếng đàn đệm. Người ca nhạc sĩ đó chính là Hà Thúc Sinh với những bản Tủi Nhục Ca mà "Đêm Việt Nam" của anh là một, tôi nói không sai, đã được hoàn thành và hát cho bạn bè nghe ngay trại tù Trảng Lớn vào đêm Giáng Sinh 1975.

 

      Đêm hôm đó rét lắm, cái rét mà người miền Nam bảo là “bộ đội cụ Hồ” đem từ Bắc vào. Riêng đám tù, cái rét còn kinh khủng hơn, vì khi ra đi nộp mình ít người mang theo  chăn mền áo ấm. Và trong cái giá lạnh đó, chúng tôi sáu, bảy đứa co ro ở một góc tối nhất trong cái hội trường làm từ những tấm “ghi” sắt, để ăn “Réveillon !” bằng “gô” nước chùm bao với một nhúm thuốc lào. Ở đấy, chúng tôi “bình luận thời cuộc”, đoán mò tình hình gia đình, và trao đổi nhau những câu thơ đắng ngắt. Nguy hiểm lắm, chết như chơi, vì bọn vệ binh quản giáo có thể ập tới bất cứ lúc nào, chưa kể vài cái cần ăng-ten không tránh khỏi; hơn nữa trong bọn lại có Xuân Ròn tức HTS, người đã bị “ghim” ngay vài tuần đầu sau ngày nhập trại vì tội “mười năm ra rả chửi cách mạng”  ( Câu chửi thường được Chính Trị Viên tên Môn dùng để xỉ vả Xuân.). Nhưng thây kệ, trời rét nhưng máu tuổi trẻ không bao giờ biết rét, mọi người ai làm được câu thơ nào đều đưa ra, trừ anh chàng ròn nhất vẫn im lìm. Có tiếng nói hơi lớn, “Thằng Xuân nãy giờ chỉ ‘ăn không’, có gì đi chứ.”. Một tiếng suỵt khe khẽ cất lên, “Khẽ chứ. Câm hết, nghe đây.”. Ngay khi nghe HTS hát vài câu đầu tiên bài “Đêm Việt Nam”, người nghe cảm thấy như đang chìm vào nỗi dằn vặt trong tủi nhục :

                                           

                              Đêm thế giới đang dồn một lần

                              Trên đất nước tôi gọi Việt Nam

                              Đêm bát ngát những khu trại giam

                              Đời thênh thang thu hẹp dần dần

 

                              Đêm em bé lên mười cùm gần

                              Anh chiến sĩ gốc Biệt Động Quân

                              Đêm thiếu nữ áo đơn tạm thu

                              Ngồi kề vai gái giang hồ lo

 

                              Đêm đấu tố và thủ tiêu

                              Đêm săn bắt cho đầy chỉ tiêu

                              Người chết nhanh…Người phát điên

                              Đêm cáo chung tự do nhân quyền

 

                              Đêm nhức buốt phang bằng chầy vồ

                              Vang tiếng thét sau cùng “Tự Do”

                              Đêm có tiếng súng sau trại giam

                              Người tù binh chết bên bìa rừng

 

                              Đêm thế giới đang dồn một lần

                              Trên miếng đất đã thừa lầm than

                              Đêm trút xuống hố sâu diệt vong

                              Là Việt Nam nước tôi buồn tênh

                             

        Tiếng hát không lớn nhưng mạnh như một luồng điện cao thế đâm bổ vào mọi người. Anh hát hai lần. Tiếng hát đã dứt mà im lặng vẫn đóng cục,  một lúc mới có những tiếng thở ra rồi hít vào như bị hụt hơi. Phải mang thân phận đó và trong thời gian không gian đó, người nghe mới cảm nhận hết được thế nào là “cảm xúc đo âm nhạc lẫn âm nhạc đo cảm xúc”.

 

       Bài Đêm Việt Nam, có lẽ là một trong hai tủi-nhục-ca đầu tiên của HTS, đã được hoàn thành và hát trong cái Tình cái Cảnh như thế đó. Bài kia là “Trại Biến Hình”, mô tả một “quyền uy điên cuồng” nuôi người trong những Trại Chăn Nuôi, nơi mà Chúa đã phải “ngậm ngùi vì khi xưa đặt người lên trên mọi loài  mà không đóng chặt cánh cửa Hỏa Ngục, để thoát ra thứ quyền uy Lucifer toan tính biến hình và tẩy sạch chất người khỏi người. Và từ cái mưu toan quỉ quái đó, người tù đã thấy không còn hình tượng thậm chí có lúc đã quên mình từng là con người. Bài thơ Người Về bất chợt truyền tai nhau trong cư dân Trại Biến Hình như lan truyền ước vọng có ngày “người về hát một câu nhỏ, hôm nay ta lại làm người”.

 

Người Về

 

Người về giữa mùa hoa nở

Trên môi ngậm một nụ hồng

Dòng đời dừng chân soi bóng

Mái tóc như gọi buồn lên

 

Người về như dòng sông mỏi

Chân xưa xin lạy đường dài

Ngọn đời dù cho le lói

Cũng có tay vòng ấm vai

 

Người về như dòng mưa lũ

Tưới trên vườn hồn em khô

Người về như là ngăn giữ

Hóa đá thân em từng giờ

 

Người về thắp lại ánh lửa

So dây chơi một đoạn buồn

Cuộc đời tự dưng thấy ấm

Tiếng hát xanh ngời lòng em

 

Người vê hát một câu nhỏ

Hôm nay ta lại làm người

Cành đời vào Xuân thay lá

Áo cũ xin gởi gió bay

 

       Người Về” lúc đầu là  thơ, sau đó khi tác giả tự phổ nhạc vẫn giữ tên “Người Về” với nguyên văn lời thơ và được lan truyền qua nhiều trại tù. Những năm tiếp theo, khi tôi đã chuyển đi nhiều trại không còn ở chung với tác giả nữa, tôi thấy nhiều anh em hát bài này và bài “Đêm Việt Nam”. Gần 20 năm sau, khi mới tới Mỹ và lần đầu nghe Khánh Ly hát hai bài này tôi thấy thật xúc động nhưng cũng hơi ngỡ ngàng vì “người” đã thành “mộng”.Tất cả những chữ “người” trong bài “Người Về” đều được đổi sang “mộng” để   có tình ca “Mộng Về”, và hơi tiếc là chữ “Mộng” lại được người hát hiểu là một ước muốn thể hiện trong giấc ngủ giới hạn trong tình yêu đôi  lứa, vì “Mộng” ở đây hàm y  một ước ao thực tại hơn là cơn mơ trong giấc ngủ. “Người về” lúc ấy mang y nghĩa là chất người được trả về con người. Người là mùa Xuân và chỉ có người mới biết cười trong cái “mùa Xuân” ấy, và thật rõ ràng khi đoạn kết thúc bản nhạc có câu “Người về hát một câu nhỏ. Hôm nay ta lại làm người”. Với “Mộng Về”, tác giả cũng thật khéo khi chỉ biến “người thành mộng” mà cả bản nhạc khác hẳn nội dung thành một tình ca mượt mà trong cay đắng, mượt và đắng như “Mộng về như là ngăn giữ hóa đá thân em từng giờ” hay “Ngọn đời dù cho le lói, cũng có tay vòng ấm vai.”

   

       Thỉnh thoảng hát cho bạn bè nghe “Đêm Việt Nam”, tôi mạn phép tác giả sửa “chết bên bìa rừng” thành “xác bêu hàng rào” vì tôi đã thấy một người tù chết xác bêu trên hàng rào. Trong tù, ban đêm người tù muốn ra khỏi “lán” để đến khu nhà vệ sinh phải cầm theo một cái đèn bão treo sẵn gần cửa, vừa đi vừa la “báo cáo các anh tôi đi vệ sinh”, khi xong quay lại lán thì “báo cáo anh tôi đi vệ sinh về”. Có một người tù kiết lỵ phải lập đi lập lại chuyện đó nhiều lần trong một đêm, tới khi mệt quá câu báo cáo rút ngắn  còn “vệ sinh”, lúc quay lại lán chỉ còn sức kêu tiếng “Về”, và lần đi vệ sinh cuối cùng không có tiếng báo cáo “Về” của người tù kiết lị nữa, đã “có tiếng súng sau trại giam” thay cho tiếng “Về” của người tù ấy. Sáng ra, vài người được lệnh ra khiêng xác người tù kiết lỵ thấy cái xác nằm vắt ngang hàng rào với nhiều vết đạn, và được cho biết “bị bắn trong lúc leo rào trốn trại”. Kiết lị gần chết còn sức đâu mà trốn trại ? Không biết ! Chỉ thấy trên tay xác người tù thiếu cái nhẫn và chiếc đồng hồ. Tôi đã nghe tiếng súng sau trại giam và thấy cả xác tù vắt ngang hàng rào. Tôi hát “Đêm có tiếng súng sau trại giam. Người tù binh xác bêu hàng rào” mới cảm thấy một cảm xúc trọn vẹn.

 

        Dân Việt Nam nghèo đói đến nỗi trước khi chết nhiều người chỉ xin được ăn một bát cơm trắng, mà người Bắc gọi là “ăn giối” (giối = trối, trối trăn, trối chết), còn “ốm dậy ăn giả bữa” để chỉ những người khỏe lại sau cơn bệnh và  thường ăn được nhiều vì cơ thể đòi bù lại những ngày chê cơm trên giường bệnh. Có người chưa kịp nuốt xong miếng cơm giối đầu tiên đã trợn mắt chết vì không còn sức nuốt. Người chết chỉ một lần, cơn hấp hối cũng chỉ một lần và được tính trong giây phút. Những người tù sống dở chết dở, không được sống và không được chết. Họ phải sống trong cơn hấp hối bất tận năm này qua năm khác. Những bát cơm giối đã đến với Hà Thúc Sinh trong sự hấp hối triền miên đó, và anh đã viết “Tủi Nhuc Ca” như những lời để lại. Những dòng thơ nhạc tủi nhục của anh sống và thật như những tấm hình chụp. “Đám Ma Văn Hóa” được kể qua tiếng hát Khánh Ly thật gợi hình gợi cảm. Người trong kiếp trâu bò trên đường rừng quanh co dưới trời mưa, có chàng trai chết bên bờ suối,có lũ người mà người ta chỉ cần trăm tay không cần tim. Những hình ảnh đó mang hồn bơ vơ Phạm Công Văn Hóa, có oan hồn Cúc Hoa Việt Nam và thân phận đọa đầy côi cút của  những Nghi Xuân, Tấn Lực trong bàn tay độc ác mụ dì ghẻ Chế Độ.  Hồn Phạm Công trong cổ tich còn có chỗ để đòi công ly. Hồn Phạm Công bây giờ bị gặm nhấm không nơi đến đành bơ vơ dật dờ ngọn cỏ.

 

       Lịch sử VN có 2 cuộc di cư vĩ đại, 1954 và 1975, mà cả hai cuộc di cư có họ máu với nhau. Cuộc di cư lần đầu xẩy ra cũng là khi Hà Thúc Sinh ở vào cái tuổi còn chạy rong nghêu ngao “Em Bé Di Cư”, một bài “tếu ca” được sửa lời từ “Em Bé Quê” của Phạm Duy : “Ai bảo di cư là khổ. Di cư sướng lắm chứ. Ngồi tàu bay với lại ô-tô miệng thì hát bi bô. Vui thú xi- nê cả ngày. Tiền nhiều tiêu cho đã. Ước mong sao khi túi không xu ta có lại di cư…”. Như những đứa trẻ di cư khác, tuổi thơ của anh cũng gỡ gạc được vài năm “Nắng Đẹp Miền Nam” trong hòa bình, rồi sau đó lại phải lớn lên trong khói lửa và rồi lao mình vào cuộc khói lửa đó. Bài hát tếu năm xưa không ngờ lại là một lời tiên tri thê thảm, “Khi hết tiền ta lại ước mong có cuộc di cư”, và cuộc di cư lần hai đã đến khi quê hương “hết tiền”, nhưng  không nằm trong “ước mong” mà trong kinh hoàng. Hàng loạt những bài ca tủi nhục của anh đã ra đời từ sự kinh hoàng đó.

 

       Tủi Nhục Ca HTS gồm khoảng gần 30 ca khúc, trong đó phần lớn được sáng tác trong tù. Những bản nhạc này không bắt người ta phải phùng mang trợn mắt lên mà hát, không phải gân cổ lên như khi hoan hô đả đảo. Thật hiền hòa, nó chỉ là những tiếng kêu cứu từ vực sâu tăm tối đánh động lòng người.

 

       Có một thời chất liêu trai trong tiếng hát Khánh Ly đã như cuộn giây đưa con diều Phản Chiến Trịnh Công Sơn bay bổng. Cuộn dây tuy dài nhưng con diều chỉ thả được tới một độ cao giới hạn nào đó, và khi trời hết gió con diều hết bay. Nói như thế không có nghĩa là chê nhạc Trịnh không ra gì. Người ta có thể “chê” TCS, nhưng tất nhiên chưa ai dám xúc phạm đến huyền thoại âm nhạc của một Tài Danh Thế Kỷ như ông. Riêng Nhạc Phản Chiến TCS, nó đã có thể vượt được khoảng không gian nào đó nhưng không vượt được thời gian. Thời gian càng qua đi người thich nghe loại nhạc này càng ít hơn kể cả trong nước, vì nó càng ngày càng trở thành nạn nhân của chế độ hiện tại ở VN. Nếu đồng y Nhạc Phản Chiến TCS đã có góp phần cho chiến thắng tạo ra một chế độ càng ngày càng trở thành tội ác, thì người ta sao lại không thể càng ngày càng không thích cái phương tiện tạo ra chế độ diệt dân hại nước đó.Tủi Nhục Ca của Hà Thúc Sinh thì lại có một giá trị lâu dài vì tính trung thực và tính lịch sử của nó, và dĩ nhiên cái hồn thơ hồn nhạc của tác giả là yếu tố quan trọng ắt có để xúc động lòng người. Thử nghe tiếng hát Khánh Ly với “Đoạn Đường Núi Sọ” vẫn thấy thật xúc động, vẫn thấy thật xót xa khi con “đường gai xưa Chúa bước” vẫn còn đang đeo đuổi đất nước và con người Việt Nam. Rồi một mai dẫu “con đường gai” không còn nữa, người ta vẫn ghi nhớ “Đoạn Đường Núi Sọ” để mà sợ hãi. Có thể nói Nhạc Phản Chiến Trịnh Công Sơn là sự trang trí cho thật thơ mộng con đường dẫn đến một khu vườn cằn cỗi không sự sống. Tủi - Tình Ca Hà Thúc Sinh lại là chiếc máy ghi những tấm hình thê lương trong khu vườn chết đó. Nếu Nhạc Phản Chiến TCS thúc đẩy một sự đầu hàng tội ác thì Tủi Nhục Ca HTS chính là tiếng tha thiết kêu gọi lương tâm con người vậy.

 

        Nhà báo Frank J. Green của The San Diego Union trong Troubadour of Freedom số ra ngày 27-5-1986 đã nhắc lại cái nhìn không hoàn toàn lắm của một số người Mỹ về Hà Thúc Sinh, “…Ha - who has been called the Bob Dylan of Vietnam – is something of a superstar among the international Vietnamese community…”. Đối với Hà Thúc Sinh, “Bob Dylan của Việt Nam” chỉ đúng với anh vê “Phương Tiện”. Nếu dành cho Trịnh Công Sơn, sự đánh giá này chính xác cả về Phương Tiện lẫn Mục Đích như Joan Bazer đã từng phát biểu.

 

       Bob Dylan là một ca nhạc sĩ Mỹ, tay phản chiến hạng nặng, từng đoạt nhiều giải cao quí như Golden Globe, Grammy, và Academy Awards. Thời thập niên 60, nhiều bài hát của ông đã được dùng như “Thánh Ca” trong các Phong Trào Phản Chiến và Đấu Tranh Dân Quyền tại Mỹ, điển hình như “Blowing In The Wind” và “The Times They Are A-Changing”, kiểu thánh ca “Nối Vòng Tay Lớn”, “Hát Trên Những Xác Người”… của Trịnh Công Sơn ở Việt Nam. Hà Thúc Sinh không phải là người phản chiến và cũng không là người hiếu chiến. Chưa ai tìm được một nét phản chiến nào trong Văn Thơ Nhạc của anh. Anh cũng chưa hề hiếu chiến bao giờ. Sự gia nhập Quân Đội trước 1975 của anh là một việc làm thi hành bổn phận công dân trong y niệm tự vệ trước một hiểm họa. Đọc thơ Nghinh Địch Hành của anh sẽ thấy thái độ của anh cũng là của mọi người lính miền Nam đối với chiến tranh và những người lính bên kia :

 

                                                          Nghinh Địch Hành                               

 

                                                         Giao thừa đâu mà vội        

                                                         Hãy khoan đã chú mày      

                                                         Cứ đóng xa vài dặm           

                                                         Mà ăn uống cho say           

 

                                                         Ta cũng người như chú       

                                                         Cũng nhỏ bé trong đời       

                                                         Có núi sông trong bụng      

                                                         Mà bất lực hôm nay

            

                                                         Chiến chinh trời cũng sợ

                                                          Chỉ còn lại hai bên

                                                          Vội vàng chi cho cực

                                                          Cứ thong thả nghỉ đêm

 

                                                            Vì nói thật cùng chú

                                                            Trăm năm có là bao

                                                            Binh đao sao biết được

                                                            Sinh tử ở nơi nào

 

 

                                                            Nếu chú có cha mẹ            

                                                            Ta chẳng những người thân   

                                                            Còn mang thêm lắm nợ          

                                                            Với rượu và gió trăng

             

                                                             

                                                            Chú cứ ăn cho đủ

                                                    &nb