Vốn là giảng viên đàn tỳ bà của Học viện Âm nhạc quốc gia (Nhạc viện Hà Nội), Phạm Thị Huệ từng lăn lộn từ Hải Dương đến Hà Tây, những vùng được coi cái nôi của ca trù, học nhiều thầy, để rồi trở thành một ca nương hiếm hoi trong lịch sử của môn nghệ thuật truyền thống này-vừa làm đào đàn, vừa làm đào hát. Không dừng lại ở đó, chị còn trở thành người “thắp lửa”, với ước mong đem ca trù đến với đông đảo công chúng.
Vì cái duyên!
PV: Vì sao chị lại “bẻ lái” sang ca trù?
Ca nương Phạm Thị Huệ: Tôi cũng là vì hoàn cảnh “xô đẩy” thôi! Giọng ca tôi không thuận lợi, bản chất không phải ca sĩ, chỉ là người học đàn, chơi nhạc cụ. Tôi học hát là vì cảm thấy, nếu như không học hát (trong ca trù, hát là người chính), chỉ đàn cho người hát, đến khi không còn ai hát, thì mình đàn cho ai? Và mình cũng không thể phát huy tài năng về đàn của mình. Hơn nữa, tôi có cháu bé-Nguyễn Huệ Phương. Cháu có năng khiếu hát. Vì thế tôi quyết định học hát để còn dạy cho con. Sau này mẹ đàn, con hát.
Từ năm 2001, tôi đã quen nghệ nhân ca trù Nguyễn Thị Chúc, nhưng do công việc quá bận, chưa học được. Sau đó tôi hay sang chỗ nghệ nhân Phó Thị Kim Đức, nhưng bà không dạy ca trù vì đã có học trò chân truyền. Tuy nhiên, bà vẫn dạy cho tôi kỹ thuật thanh nhạc truyền thống. Bà bảo: “Cái này tôi chưa dạy cho ai cả, để thất truyền thì cũng đáng tiếc”. Tôi học kỹ thuật thanh nhạc truyền thống thông qua một làn điệu chèo. Tiếp đó, bà đồng ý cho tôi đi học đàn của cụ ông Nguyễn Phú Đẹ ở Hải Dương, một trong những nghệ nhân cuối cùng sót lại của môn đàn đáy. Tôi học đàn 2 tháng mà thực sự không hiểu gì. Nhịp ca trù không như các loại nhịp khác. Cụ Đẹ gõ phách không giống như cụ Chúc và cụ Đức. Không nắm được phách thì đàn như đàn tự do. Vì thế đàn theo phách của cụ Đẹ thì không thể đệm cho hai cụ bà. Cuối cùng tôi quyết định quay về cụ Chúc học hát trước, sau đó quay lại học đàn sau. Từ đó mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn.
- Đi ngược lại lối nghĩ truyền thống, trở thành người phụ nữ đầu tiên học đàn đáy, chị có gặp khó khăn?
- Buổi gặp gỡ đầu tiên, cụ Đẹ đưa ra băng ghi âm tiếng đàn của mình và bảo tôi đàn theo. Tôi cũng ôm đàn và gảy theo từng tiếng đàn của cụ. Cụ gảy tiếng nào, tôi gảy theo đúng vậy. Đàn xong, cụ bảo: “Cô có đôi bàn tay vàng, bấm đâu được đấy. Chắc học rồi hả?”. Tôi thưa với cụ rằng chưa học bao giờ. Vậy là cụ đồng ý nhận tôi làm học trò, không câu nệ chuyện tôi là phụ nữ.
Học đàn đáy khó nhất là phải nắm được phách, được hát để “đón đưa”, bởi như người ta vẫn ví: người đàn như người đón rước giọng ca, hẹn cô nàng ở đâu, đi đến đó đón, đón rồi đưa tới nơi lại rước cô xuống, cứ vậy làm sao phải hòa quyện vào nhau, phải thật khớp. Tiếng đàn của người đàn phải làm sao gợi hứng cho người hát và hát hết mình. Người đàn người hát nói với nhau bằng âm nhạc, hiểu nhau nên rất dễ mê nhau cũng vì vậy.
Tôi cũng có một cái “lợi”, đó là đã học đàn tỳ bà, tay đã mềm, bảo đâu làm đấy. Chuyển sang ca trù, vấn đề với tôi chỉ là hiểu thang âm,cung bậc đó thế nào, cụ thể từng âm chuyển động ra sao để cảm nhận và truyền qua đôi bàn tay.
- Chị vốn không có gốc hát, mà xuất thân từ đàn. Việc thành công với đàn đáy là điều dễ hiểu, nhưng làm sao chị có thể thành công với ca trù?
- Sau một thời gian học nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc, bà bảo: “Giọng của con ngày càng có mầu”. Trong cổ nhạc, yếu tố thanh sắc đều quan trọng nhưng quan trọng nhất là chất mầu. Để có thể truyền cảm cho người nghe, có được kỹ năng, có thể cảm nhận được cái sâu thẳm của cái nhấn nhá, luyến láy, những kỹ thuật khó thì phải có chất.
Khi thấy tôi hát đã ổn, nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc rất muốn tôi xuất hiện trước công chúng. Nhưng tôi chưa đủ tự tin. Đó là bước rất khó khăn với tôi. Xuất hiện với một tay đàn thì quen rồi, không vấn đề, nhưng xuất hiện với tư cách một ca nương là vấn đề lớn. Thế nhưng mong muốn của bà lớn hơn bước cản của mình. Bà rất buồn vì tôi chỉ chăm chăm xuất hiện với cây đàn. Học trò của mình xuất hiện trước công chúng là niềm tự hào của người dạy. Cuối cùng tôi phải xuất hiện và cũng không ngờ nhận được sự đón nhận của công chúng. Mọi người rất khoái khi thấy một cô gái vừa ôm đàn, vừa có thể hát được.
- Ngoài chị, Việt Nam hiện có bao nhiêu ca nương có thể vừa đàn vừa hát?
- Không còn ai! Trường hợp của tôi hơi đặc biệt. Xưa nay, học đàn thì thôi hát mà hát thì thôi đàn. Có thầy này rồi thì thầy kia không bao giờ nhận. Tôi rất may là được cả hai thầy dạy. Đó có lẽ là vì cái duyên. Đã bao người đến xin học cụ Chúc mà cụ không dạy. Còn cụ Đẹ thì sẵn sàng dạy nhưng học đàn rất khó. Nhiều người học 3-4 tháng rồi đành cắp đàn ra về. Có lẽ cả hai thầy đều cảm nhận được cái quyết tâm của tôi.
Ca trù thuộc về dân tộc
PV: Từ việc học để trở thành một đào nương, rồi thu nhận học trò để truyền nghề, ước mong của chị dường như không chỉ là bảo tồn một bộ môn nghệ thuật truyền thống dân tộc?
Ca nương Phạm Thị Huệ: Tôi nghĩ, chỉ truyền dạy và giữ không thì chưa đủ. Bởi vì đối với nghệ thuật, người nghệ sĩ phải được sống trong môi trường nghệ thuật, phải có những thính giả. Thậm chí, nếu có nhiều thính giả hiểu sâu sắc về môn nghệ thuật ca trù, thì người hát càng có cơ hội làm bật khả năng của mình lên. Phải có “cầu”- có đất diễn. Nếu như chỉ giữ, thì hai mẹ con giữ cũng được. Tôi truyền cho con tôi. Con tôi lại truyền cho cháu tôi. Nhưng cứ như vậy thì cũng rất mong manh, mà muốn phát triển thì không có cơ. Hằng ngày mình đi làm việc khác để mưu sinh, không có thời gian để nâng cao chất lượng nghệ thuật. Và vì thế, tôi quyết định tập hợp những người muốn giữ và thích ca trù. Sau học rồi họ sẽ yêu, say mê, có thể vượt qua những khó khăn để toàn tâm toàn ý cho môn nghệ thuật truyền thống này. Tôi thấy mình rất may mắn, đã có được 9 học sinh đều rất tâm huyết và có những bạn thực sự có tài năng. Hy vọng trong một thời gian nữa, các bạn ấy có thể xuất hiện.
- Ca trù là niềm tự hào của nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Làm sao 8-9 người có thể làm được điều lớn lao là phục dựng lại cả niềm tự hào ấy?
- Ban đầu là tôi. Rồi 8-9 người. Rồi 8-9 người đó nhân lên. Cứ như thế, cũng có thể. Nhưng nếu tăng nhanh quá thì chất lượng không bảo đảm.
- Một đào nương có năng khiếu muốn hát tốt cần phải học trong bao lâu?
- 3 đến 4 năm. Tầm học hát ca trù tốt nhất là 6-7 tuổi, nhưng bắt buộc phải là con nhà nghề. Học chơi rồi cứ ngấm dần ngấm dần. Đến tầm 10-11 tuổi là có thể ra nghề.
- Ca trù có ca từ, âm điệu rất già dặn, sâu sắc, trẻ làm sao có thể hiểu để có thể toát ra được cái chất ấy?
- Giọng hát ca trù chín theo độ tuổi. Tuổi tôi hát khác, tuổi cụ bà Nguyễn Thị Chúc hát khác, tuổi con gái tôi hát khác. Và ở mỗi tuổi đều có cái đẹp riêng. Ca trù là một trong những môn nghệ thuật khó tiếp nhận. Khi cụ Chúc hát, kỹ thuật lên đến tầm đẳng cấp cao, rất khó nghe, phải có trình độ nhất định mới hiểu được.
- Là người có trình độ sư phạm về âm nhạc, cách dạy của chị có gì khác so với các nghệ nhân?
- Chắc chắn khác! Khi học ca trù, tôi đã tìm ra được những quy luật và bóc tách nó ra. Đầu tiên tôi dạy theo kiểu nghệ nhân, cứ dạy một chuỗi dài. Các học sinh đều lắc đầu: “Khó lắm cô ạ!”, rồi rút lui. Tôi tách ra, mỗi hôm dạy một chút. Giờ các bạn lại nói: “Cũng không khó lắm!”. Chỉ sau 3 buổi học sinh đã có thể bắt nhịp.
Ca trù có 5 khổ ban đầu, tách thành từng khổ. Thường thì các cụ không dạy theo khổ, mà trực tiếp vào bài. Tôi dạy phách trước, rồi ghép từng khổ phách với nhau. Tiếp đó dạy ca đàn, đọc theo chữ nhạc của ca trù: tùng tang tếnh tùng dếnh dếnh dếnh. Học sinh học ngấm các âm chuẩn đó, rồi kết hợp với phách. Quen rồi mới vào bài.
Thực ra, ngày xưa cách dạy cũng theo từng bước, nhưng các cụ học từ khi rất nhỏ nên không phân biệt được. Lúc tôi học đàn, cụ Đẹ có nói: “Ngày xưa tôi học cả tháng chỉ có 3 nốt “chùm chín, chùm xanh, chùm xanh chùm”, sốt cả ruột”. Tôi xin cụ dạy theo từng bước ấy, cụ nói dạy như thế lâu lắm. Nhưng trong quá trình học, mỗi lần cụ kể một chút, tôi ghi và sắp xếp lại và tạo thành một giáo án riêng.
- Quyết tâm gắn bó với ca trù, chị nghĩ gì về khả năng bảo tồn thứ nghệ thuật đó?
- Nghệ thuật ca trù không phải của riêng cá nhân mà là của cả dân tộc nên cần đến ý thức gìn giữ của cả dân tộc ấy. Muốn phát triển, nó phải được công diễn, phải được nhiều người tu luyện và cùng sáng tạo. Nhiều người vẫn luôn hơn một người, nhiều nhóm vẫn hơn một nhóm. Tôi hiểu một điều: Nếu không sống được bằng chính nghề của mình thì mãi chỉ là nghiệp dư, mà đã là nghiệp dư thì không mong gì nâng cao chất lượng nghệ thuật. Tôi coi mình là người trong nghề nên rất khắt khe, chỉ mong các câu lạc bộ ca trù nâng cao chất lượng nghệ thuật, bẻ làn nắn điệu cho đúng khuôn khổ để cùng nhau gìn giữ giá trị đích thực của môn nghệ thuật này. Muốn thế thì phải ngày đêm rèn luyện, phải tầm sư học đạo. Dù có là thiên tài đi nữa cũng cần phải tu luyện và cần cơ hội trình diễn cho những người hiểu, yêu thích, ngưỡng mộ ca trù. Đó là một nhu cầu của người nghệ sĩ!
- Xin cảm ơn chị!
DIÊN VỸ thực hiện