1.Bảo tồn – lưu trữ nhạc cổ truyền
Trước hết, xin được nhắc lại,bảo tồn vốn được hiểu theo nghĩa “giữ lại, không để mất đi”. Nhạc cổ truyền Việt Nam cần được bảo tồn, với sự hướng tớitính nguyên vẹn có thể, đấy là điều không phải bàn cãi. Còn giữ bằng cách nào, theo phương thức nào mới là việc cần phải bàn. Tùy theo từng đối tượng, sẽ có những biện pháp thích ứng.
| NGHỆ NHÂN CỔ NHẠC- NHỮNG ĐIỀU CẦN LÀM NGAY | Sep 15, '07 6:54 AM for everyone |

Trong công cuộc bảo tồn, mọi động thái cất giữ, sắp xếp, ghi chép bằng mọi phương tiện được hiểu là sựlưu trữ các giá trị. Nói cách khác, đó là sự bảo tồn theo nghĩa hẹp trên phương diện các văn bản nghe nhìn. Sự lưu trữ từ toàn bộ đến từng phần đương nhiên là việc phải làm nếu chúng ta muốn bảo tồn các giá trị cổ nhạc.
Nghệ nhân Hát Xẩm Hà Thị Cầu
Nhạc cổ truyền Việt Nam nói chung không tồn tại dưới dạng văn bản chi tiết kiểu như bản nhạc Tây phương. Với bản chất là sự ngẫu hứng ứng tác trên lòng bản, các tác phẩm luôn tồn tại, hiện hình dưới dạng vô số những dị bản khác nhau. Mỗi dị bản được hiểu như một bức tranh trong khoảnh khắc của một thực thể sống động. Dị bản có thể biểu hiện trên toàn bộ hay từng phần của tác phẩm. Do đó, mọi hình thức lưu trữ bằng các phương tiện nghe nhìn bao giờ cũng chỉ bảo lưu được một phần những giá trị vốn có.
Trong khi đó, nhạc cổ truyền Tây phương (trong đó có nhạc Cổ điển) nói chung đều có thể lưu trữ dưới dạng văn bản. Điều đó có nghĩa tác phẩm chỉ tồn tại dướimột dạng hình cơ bản duy nhất, kiểu chơi “trăm lần như một”. Do vậy, sau bao nhiêu năm, người ta vẫn có thể dễ dàng tái tạo lại tác phẩm. Như thế, chỉ xét trên khuôn diện một tác phẩm cụ thể, sẽ thấy nhạc cổ truyền Việt Nam phong phú và đa dạng biết nhường nào. Với tính đặc thù như vậy, nhạc cổ truyền Việt Nam chỉ tồn tại cùng người nghệ sĩ biểu diễn - người mà ta quen gọi là NGHỆ NHÂN CỔ NHẠC. Mặc nhiên, trong mỗi NGHỆ NHÂN luôn tồn tại chức năng kép. Họ vừa là người biểu diễn, vừa là người sáng tạo tại chỗ. Chính điều đó đã khu biệt một NGHỆ NHÂN với một NHẠC CÔNG thuần túy. Nói nôm na, không có khả năng ngẫu hứng ứng tác thì bất thành NGHỆ NHÂN. Từ đó, sẽ thấy một NGHỆ NHÂN luôn có tư duy, nhận thức tác phẩm theo kiểubản năng, dạngtrực tiếp. Nó khác hẳn với kiểu tư duy qua văn bẳn 5 dòng kẻ - do – re – mi... với hệ thống ký tự tiết tấu nốt trắng, nốt đen, móc đơn, móc kép... Lẽ đương nhiên, với lối tư duy đó, “xương thịt, linh hồn” của mỗi tác phẩm dường như phải ngấm vào máu thịt, để trở thành phản xạ tự nhiên trong mỗi NGHỆ NHÂN. Nói cách khác, toàn bộ các giá trị nghệ thuật tinh tế của tác phẩm luôn tiềm ẩn trong khối óc, con tim người NGHỆ NHÂN. Chỉ đến khi biểu diễn, những giá trị đó mới hiện hình qua đôi bàn tay hay giọng hát đầy sức biến hóa của họ. Thành thử mới có hiện tượng, NGHỆ NHÂN chỉ cần chơi tốt một nhạc cụ thì có thể dễ dàng chuyển qua chơi các nhạc cụ khác chỉ sau một thời gian ngắn làm quen. Và, chúng tôi đã chứng kiến rất nhiều NGHỆ NHÂN sau hàng năm trời không “sờ” đến đàn, vẫn có thể quay lại ngón nghề nhanh chóng. Hoặc trong kỹ thuật diễn tấu, một NGHỆ NHÂN có thể lên dây đàn theo nhiều hệ thống khác nhau, thế tay thay đổi đối với họ... không thành vấn đề!
Nghệ nhân nhạcTài tử- Cải lương Năm Vĩnh
Với quy luật đặc thù đó, sự tồn vong của các tác phẩm luôn gắn bó chặt chẽ với sự sống còn của nghệ nhân. Theo đó, sự lưu trữ, bảo tồn di sản cổ nhạc đồng nghĩa với việc ứng xử như thế nào với từng cá thể con người. Và, có thể hiểu tại sao NGHỆ NHÂN chính là DI SẢN SỐNG – là tài sản sống động nhất trong nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Từ đó, theo cách nhìn số học, sẽ xảy ra 2 trường hợp như sau:
+Một là, thử tưởng tượng, người nghệ sĩ nắm giữ những di sản nghệ thuật của cổ nhân (tạm định lượng làn), nếu ông ta (hay bà ta) không biểu diễn thì sẽ không ai tiếp cận được với những giá trị đó. Rồi nếu không có lớp người kế cận để truyền dạy (tức không có HỌC TRÒ), những giá trị đó đương nhiên sẽ ra đi vĩnh viễn theo cái chết của lớp nghệ nhân già. Và, chúng ta coi như chỉ cón= 0. Thực tế lịch sử âm nhạc cổ truyền Việt Nam đã cho thấy sự diệt vong của nhiều tác phẩm, nhiều thể loại. Ngày nay chúng ta chỉ còn có thể biết... tên gọi của chúng qua đôi dòng sử liệu mà thôi.
+Hai là, giả sử nếu có lớp học trò kế cận mà nghệ nhân không truyền hết vốn liếng (có thể do tình trạng dấu nghề, do sức khỏe) hay học trò không đủ tài năng (hoặc lòng yêu nghề) để tiếp nhận, nắm bắt toàn vẹn thì di sản cổ nhạc sẽ bị mai một. Tức chúng sẽ chỉ còn tồn tại dưới dạngn-1,n-2-3hayn-9-10..v.v..
Nói vậy để thấy được tầm quan trọng bậc nhất của 2 vai THẦY – TRÒ trong quá trình lưu truyền. Cả 2 đều phải hết mình thì mới mong các giá trị được chuyển giao thế hệ một cách toàn vẹn. Thế nhưng sự “hết mình” như thế nào là hoàn toàn phụ thuộc vào các yếu tố như tài năng, lòng yêu nghề, niềm tin, môi trường nuôi dưỡng nghệ thuật hay sức khỏe...
Nghệ nhân nhạc Tài tử- Cải lương Út Du
2.NGHỆ NHÂN là gì?
Từ điển tiếng Việt định nghĩa như sau: “Nghệ nhân- Người chuyên nghề biểu diễn một bộ môn nghệ thuật hoặc chuyên làm một nghề thủ công mỹ nghệ, có tài nghệ cao”.[1] Sẽ thấy, khái niệm NGHỆ NHÂN ở đây trước nhất được mặc định cho khâu thực hành nghệ thuật, còn khâu sáng tạo thì bỏ qua (?). Ngoài ra, NGHỆ NHÂN không chỉ được hiểu ở lĩnh vực văn hóa phi vật thể, mà còn bao hàm cả ở lĩnh vực văn hóa vật thể nữa. Ở đây, khái niệm “bộ môn nghệ thuật” là rất rộng, bao trùm toàn bộ các giá trị nghệ thuật cổ truyền và đương đại, của TA và của HỌ. Theo cách giải thích đó, trong bất cứ thể loại âm nhạc nào, tất cả các nhạc công đều là nghệ nhân. Và, có thể gọi “đoàn nghệ nhân dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam”, hay “nghệ nhân Đặng Thái Sơn, nghệ nhân Nguyễn Phúc Linh, nghệ nhân Ngô Văn Thành...” cũng không sai tí nào!
Ở đây, xin không lạm bàn đến sự đúng- sai trong việc xác định nội hàm của khái niệm NGHỆ NHÂN trên diện rộng. Chỉ thấy rằng, trong truyền thống văn hóa Việt Nam, NGHỆ NHÂN vốn chỉ được hiểu như một danh từ dành riêng cho nhạc cổ truyền, mang tính khu biệt cao. Bên cạnh đó, nó cũng được dùng để chỉ những người tài năng trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ. Và, bấy lâu nay, Nhà nước đã có danh hiệu NGHỆ NHÂN BÀN TAY VÀNG dành cho lĩnh vực này.
Nghệ nhân hát dân ca Giáy Lù Thị Én
Nhìn trên góc độ tổng thể, dù ở lĩnh vực nào, yếu tố quan trọng trong khái niệm NGHỆ NHÂN là phải cótài nghệ cao. Tức họ phải được sự công nhận của cả cộng đồng (nhất là giới nghề). Trong quá khứ, NGHỆ NHÂN vốn là danh hiệu của cuộc đời. Một người làm nghề có tiếng tăm, tất sẽ được xã hội dần công nhận theo năm tháng. Thành thử, để trở thành nghệ nhân, thường phải là người có tuổi. Điều đó có nghĩa ông ta (hay bà ta) phải trải qua nhiều năm hành nghề mới có thể tạo dựng được uy tín lớn trong cộng đồng. Ngày xưa, khi môi trường sống của nhạc cổ truyền còn mở rộng, sự đánh giá của cộng đồng cũng song hành tồn tại. Còn ngày nay, khi sức sống các thể loại trở nên teo tóp, thậm chí tê liệt thì sự đánh giá của Nhà nước là hết sức cần thiết để tôn vinh giới nghề.
Trong quá khứ, phương thức truyền khẩu, truyền ngón nghề trực tiếp thường tự mặc định các cấp độ nghệ nhân khác nhau. Người có tài, biết ứng tác sẽ theo được nghề. Và trong những người hành nghề, sẽ có người nổi tiếng trong từng vùng miền hay chỉ giới hạn ở phạm vi xóm làng... Đấy chính là quy luật đào thải, xàng lọc, diễn ra một cách tự nhiên trong quá trình vận hành nghệ thuật. Và, cũng có thể có những trường hợp ngoại lệ. Một người không thật tài năng xuất chúng vẫn được công nhận là NGHỆ NHÂN theo năm tháng, có nghĩa yếu tố tuổi tác khi đó đã chi phối yếu tố “tài nghệ cao”. Hẳn đó là truyền thốngkính sỉtrong văn hóa Việt Nam.
Ngày nay, khi Nhà nước phong tặng danh hiệu NGHỆ NHÂN, chúng ta nên căn cứ vào truyền thống để có thể đưa ra những tiêu chí hết sức mềm dẻo, thích ứng với từng trường hợp cụ thể trong việc chuẩn hóa danh hiệu nghệ nhân. Đặc biệt, sự đánh giá của hội đồng các nhà chuyên môn, những người sành điệu là hết sức quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề này cũng không quan ngại lắm bởi nghệ nhân “xịn” giờ đây chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Việc đánh giá thứ bậc hẳn là để dành cho lớp nghệ nhân trẻ kế tục.
Nghệ nhân Ca trù Nguyễn Phú Đẹ
3.Thái độ với NGHỆ NHÂN - những di sản sống
Khi đã nhận thức được vai trò, giá trị của những DI SẢN SỐNG, vấn đề bảo tồn nhạc cổ truyền Việt Nam chỉ còn phụ thuộc vào hành động của chúng ta. Tất nhiên, mọi mục tiêu đều phải xoay quanh mô hình THẦY và TRÒ, tương ứng với quá trình DẠY và HỌC. Nguyên tắc cơ bản là vô cùng đơn giản - “có thực mới vực được đạo”! Nói thì dễ, nhưng để thực hiện được cái “có thực” ở đây xem ra lại vô cùng nan giản và có nhiều phần nhạy cảm.
Hàng chục năm qua, chúng ta luôn cố gắng hô hào mọi người bảo vệ cổ nhạc Việt Nam. Song sẽ là một câu hỏi làm giật mình các ông bố bà mẹ khi vấn đề đặt ra là con cái có theo học cổ nhạc Việt Nam?! Thử hỏi người ta liệu có cho các cháu theo học nghệ nhân không, khi mà đời sống kinh tế của chính người THẦY cũng như thể loại âm nhạc đó là... vô cùng hiu hắt! Học nhạc cổ truyền Việt Nam, con cái họ được gì? Sẽ trở thành cái gì? Có bằng cấp không? Học xong kiếm sống trong môi trường nào? Tương lai ra sao???
Nghệ nhân Kim Sinh và Nguyễn Thị Chúc
Lẽ tất yếu, sự lựa chọn của xã hội phần lớn phụ thuộc vào hiện trạng đời sống của nghệ nhân cổ nhạc. Sự suy thoái của đời sống nhạc cổ truyền nói chung là thực trạng đã báo động ầm ĩ trong... hàng chục năm qua! Hơn ai hết, những nhà nghiên cứu - người trực tiếp biết rõ nhất về chuyện này cũng lần lượt... mỏi mồm, nản lòng. Phải làm chi đây khi các nghệ nhân bậc thầy vẫn đang sống lay lắt, phần lớn trong số họ đã ở cuối buổi xế chiều. Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam gần đây đã xin Nhà nước cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho các cụ mà vẫn chưa được xét duyệt. Mẹ nuôi tôi - nghệ nhân Xẩm cuối cùng của Việt Nam thường nói: “Mày về trên đó xin các ông ấy cho bu ít lương...” Rồi như bà Đào Thị Sại - nghệ nhân Hát Văn lão thành đã ngoài 90 tuổi vẫn “ẩn cư” trong một xóm nhỏ tại Ý Yên – Nam Định mà vẫn không mấy ai biết tới tài năng đặc biệt của bà; Rồi như bố nuôi tôi - nghệ nhân Kim Sinh cũng thường than phiền vì con trai ông không theo nghề. Bởi lẽ “có đàn hay đến như bố cũng khó sống”!
Danh cầm cổ nhạc Kim Sinh
Nói chung phần lớn quá trình truyền dạy cổ nhạc trong hàng chục năm qua thường diễn ra manh mún, tự phát. Học trò thì ít, không phải ai cũng sẵn lòng theo nghề. Và, không phải ai cũng muốn học hết vốn liếng của các cụ. Phần thì không đủ tài lực, thời gian, phần thì chỉ cần một vốn liếng tối thiểu để “xuất đầu lộ diện” là xong! Phần lớn các cụ dạy bằng tâm nguyện với Tổ nghề, “có người học là tốt rồi”. Song có những cụ thì cám cảnh, dấu nghề, học trò có lẽo đẽo theo sau đến mấy cũng không lay chuyển nổi!
Trên cái nhìn tổng thể, nhiều giá trị lớn nhỏ của cả một kho tàng đã mai một, thậm chí ra đi vĩnh viễn không trở lại. Người có tri thức, có tâm hồn Việt không khỏi giật mình, đau xót khi mà tứ chiếng Chèo Đông - Đoài - Nam - Bắc với 4 phong cách riêng, hàng trăm vở Tuồng cổ, những giáo phường Ca trù, những phường Xẩm, những trung tâm Hát Văn với những cuộc thi lớn... giờ đây chỉ còn lại những dư âm của một thời vang bóng! Trên những phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong thị trường băng đĩa, cổ nhạc Việt Nam vẫn là “của hiếm” – cái vốn bị coi là không ai nghe, chẳng ai mua. Nhưng giờ có muốn nghe cũng chẳng biết tìm đâu ra. Không cần nói nhiều, ai cũng hiểu đó là một bức tranh quá ảm đạm. Trong khi ở vế “bên kia” – cái gọi là “hiện đại, phát triển”, sự đối trọng đã vượt tầm từ bao thế hệ. Người ta có thể đầu tư bạc tỷ cho nhiều loại hình âm nhạc gọi là “mới”, nuôi dưỡng nhiều mô hình “nghệ thuật phát triển”... Thậm chí Nhà nước bỏ ra hàng trăm triệu USD cho một kỳ đại hội thể thao, để đạt được vài thành tích rất “khiêm tốn” so với quốc tế. Thế nhưng chẳng đầu tư bao nhiêu cho kho tàng di sản cổ nhạc của cha ông tự ngàn xưa! Ai cũng hô hào, ai cũng công nhận là phải làm, nhưng tất cả dường như chỉ có thế! Thường thì người ta dễ “an tâm” khi nhìn thấy sự tồn tại của các nhà hát Chèo, Tuồng, Cải Lương, Đoàn Quan họ... và tưởng rằng thế là đủ, nào ta có mất mát gì đâu!
Nghệ nhân Quan họ Nguyễn Thị Nguyên
Bởi vậy, đã đến lúc Nhà nước cần hoạch định mộtchính sách riêng (tôi nhấn mạnh) cho nhạc cổ truyền Việt Nam nói chung, giới nghệ nhân cổ nhạc nói riêng. Trong đó, chính sách đầu tư bám sát những nhu cầu thực tế để kích thích, nuôi dưỡng quá trình này. Điều mà chúng ta có lẽ phải ưu tiên trước nhất là THẦY NGHỆ NHÂN phải nhanh chóng đào tạo ra TRÒ NGHỆ NHÂN. Có nghĩa, thế hệ NGHỆ NHÂN kế cận là những việc phải làm ngay trong chương trình hành động bảo tồn di sản cổ nhạc Việt Nam. Xin tạm nêu mấy điểm cơ bản như sau:
-Thứ nhất, người THẦY khi có được quyền lợi và sự trân trọng của nhà nước, tất sẽ mang hết tâm huyết, vốn liếng của cổ nhân để truyền lại cho con cháu. Sự đầu tư, ưu đãi phải đạt mực tối thiểu đủ sống. Đặc biệt với những trường hợp nghệ nhân già, có hoàn cảnh khó khăn, Nhà nước phải có chính sách ưu tiên đặc biệt, thậm chí nuôi dưỡng toàn phần. Bên cạnh đó, sự tôn vinh bằng sắc cũng là việc cần làm ngay để động viên tinh thần cho các cụ cũng như người làng trên, xóm dưới. Trong một xã hội vẫn còn mang nặng cái nếp nghĩ “một miếng giữa làng”, danh hiệu tôn vinh của Nhà nước đương nhiên vẫn được đánh giá rất cao.
Hai nghệ nhân Chầu Văn Bùi Văn Đông và Nguyễn Thế Tuyền
-Thứ hai, người TRÒ nếu nhìn thấy hiện tại và tương lai của nghề nghiệp, được sự đãi ngộ cần thiết, tất sẽ quyết tâm theo học. Về vấn đề này, xin lấy trường hợp phục hưng Nhã nhạc Cung đình Huế làm một ví dụ điển hình. Năm 1994, được sự phân công của UNESCO, Nhật Bản đã đứng ra giúp chúng ta mở một khóa đào tạo Nhã nhạc. Vào thời điểm đó, người Nhật đã hành động theo một phương pháp khá đơn giản. Bên cạnh sự khuếch trương, tôn vinh di sản một cách toàn diện, họ đã sẵn lòng trả học bổng tới mức 15USD - mỗi tháng/sinh viêntheo học lớp Nhã Nhạc. Còn các nghệ nhân được trả mỗi người 100USD/tháng. Rồi các sinh viên đều được biết tương lai của họ sẽ ra sao sau khi hoàn thành khóa học. Và, kết quả không mấy ngạc nhiên. Các bạn trẻ theo học rất đông. Thậm chí tôi nghe nói có cả trường hợp “con ông cháu cha” gửi gắm, chen chân vào lớp![2] Nói thể để thấy được vấn đề “có thực” quan trọng biết nhường nào trong cái sự “vực đạo”! Do đó, cần có một chế độ đãi ngộ cho nhưng ai muốn theo học để trở thành NGHỆ NHÂN. Trong đó, đặc biệt ưu tiên cho những học trò nghèo nhưng có tài năng xuất chúng. Với những quyền lợi thiết thực, việc thế hệ trẻ tự nguyện về nguồn sẽ là điều tất yếu.
Các nghệ nhân nhạc Cung đình Huế
-Thứ ba, cần nhanh chóng tạo dựng một môi trường sống đích thực cho nhạc cổ truyền Việt Nam. Trước hết, cần nhanh chóng quy tụ, tập trung những nghệ nhân lão thành còn nằm rải rác để lập thành nhữngnhóm xã hội nghệ thuật cổ truyền ở các địa bàn sở tại. Trong đó, sự đầu tư tập trung vào các mô hình câu lạc bộ, nhóm gia đình hay nhà hát tư nhân... ở từng địa phương có lẽ là phương án tối ưu. Những mô hình này vừa là cơ sở truyền dạy, vừa là nơi biểu diễn định kỳ. Nó cần được khuếch trương, tôn vinh như nhữngđịa chỉ văn hóa âm nhạc cổ truyền trên từng địa bàn. Công tác quản lý có thể đặt dưới sự điều hành trực tiếp của các sở, phòng VHTT hay thông qua một trung tâm bảo tồn nhạc cổ truyền đặt dưới sự điều hành của Viện Âm nhạc. Cùng với nghệ nhân, các nhà nghiên cứu sẽ là lực lượng đặc biệt quan trọng trong công cuộc bảo tồn. Cần trưng dụng họ một cách tối đa với sự phân quyền nhất định, tránh những hiện tượng “ngụy cổ nhạc”, ăn theo các dự án lớn. Trong phương hướng hành động, cần ưu tiên mũi nhọn cho sự đào tạo chuyên sâu, mang tính nhà nghề -nghệ tinh, nhất là với những bộ môn có nguy cơ mai một cao. Không nên đi theo mô hình kiểu biết đủ thứ, mỗi thứ một tí. Đấy là cái việc, cái sự... đã rồi của quá khứ, kiểu đào tạo nghệ sĩ nhạc dân tộc tổng hợp, thập cẩm.
Nghệ nhân Ca trù Kim Đức
Ở đây, sẽ là không thực tế nếu chúng ta hướng tới mô hình trường lớp với quy chế giáo dục đào tạo kiểu Nhà nước. Đấy là một bộ máy hành chính cồng kềnh, không thể vận hành một sớm một chiều. Trong khi vào thời điểm hiện nay, rất nhiều bộ môn nhạc cổ truyền đã mai một, nhiều thể loại chỉ còn đời sống thoi thóp, lay lắt. Mặt khác, trong mô hình trường lớp Nhà nước, một học sinh đương nhiên phải đảm bảo việc học tập nhiều môn kiến thức âm nhạc (và phi âm nhạc) khác, không thuộc phạm vi cổ nhạc Việt Nam. Những điều đó tất ảnh hưởng đến việc nắm bắt kho tàng cổ nhạc từ nghệ nhân. Có nghĩa sự “quá tải” trong nhà trường sẽ dẫn đến hiện tượng “cưỡi ngựa xem hoa”, mang tính hình thức. Trường học - đấy chỉ có thể là mô hình trong tương lai, khi mà chúng ta đã hoàn thành cơ bản quá trình chuyển giao thế hệ. Phương án kiểu “liệu cơm gắp mắm” trên những mô hình tư nhân sẽ có tính hiệu quả và khả thi hơn nhiều.
Bên cạnh đó, sự tham gia quảng bá đồng bộ của các phương tiện thông tin đại chúng là tối cần thiết. Các đài phát thanh truyền hình cần mở những kênh riêng giành cho nhạc cổ truyền Việt Nam. Trong các chương trình biểu diễn, cần có sự tham gia dẫn giải, phân tích của các nhà chuyên môn. Nó sẽ giúp cho người nghe tiếp nhận các tác phẩm dễ dàng. Đối tượng khán giả mà chúng tôi cho là quan trọng nhất, cần được giáo dục chủ động chính là lực lượng sinh viên các trường đại học. Các em sẽ là những ông bố bà mẹ trong tương lai gần. Sự nhận thức của họ sẽ tạo ra một thế hệ khán giảmang tính nền móng cho xã hội. Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đặt những chương trình ngoại khóa bắt buộc trong nhà trường. Các nhà nghiên cứu cùng các nhóm nghệ nhân sẽ hoạt động định kỳ ở những chương trình này. Đấy là kinh nghiệm thực tiễn mà chúng tôi đã rút ra được sau hơn 10 năm truyền bá âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.
Thăng Long mùa Hạ 2007