Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Âm nhạc cổ truyền

THỰC TRẠNG DI SẢN QUAN HỌ DƯỚI GÓC NHÌN NHÀ BÁO

 

   

Như đã giới thiệu, trong cánh phóng viên trẻ, có nhiều nhà báo đầy nhiệt tâm với nhạc cổ truyền Việt Nam. Họ thường đi điền dã độc lập hay nhiều khi tham gia cùng nhóm nghiên cứu chúng tôi. Với góc nhìn của phóng viên, thực trạng của âm nhạc cổ truyền thường được phản ánh chân thực, khách quan và sâu sắc. Hơn thế, tính thời sự nóng hổi luôn là thế mạnh của họ, để nói lên nhiều điều với đại chúng mà có khi chính các nhà nghiên cứu không biết (hoặc biết mà không dám nói)! Trong các cuộc điền dã về Quan họ, điển hình là 2 nhà báo Nguyễn Mạnh Hà (Tiền Phong) &Nguyễn Quang Hưng (Nông thôn ngày nay). Đây là 2 bạn trẻ say mê cổ nhạc với một trái tim nóng. Riêng Quang Hưng còn giành thời gian lăn lội theo học hát với các nghệ nhân Quan họ từ nhiều năm nay. Dưới đây,Sĩ Phu Bắc Hà's Blog xin trân trọng giới thiệu những bài viết của họ, đã đăng cách đây từ 1-2 năm, nhưng tính thời sự thì vẫn còn nguyên vẹn, bởi thực trạng báo động của di sản Quan họ Bắc Ninh vẫn còn nguyên đó.

Báo Tiền phong

Thứ Tư, 29/03/2006, 08:54

Di sản Quan họ, còn gì để mất?

TP - Quan họ đã và đang phải đánh đổi quá nhiều. Những người chịu trách nhiệm thừa hưởng gia tài nghệ thuật này từ một nhận thức sai lệch kéo dài đã đi quá xa cái gốc của quan họ...

Đội “Xung kích quan họ” làng Diềm

Mặc dù không còn trao danh hiệu Kiệt tác phi vật thể và Di sản nhân loại, UNESCO vẫn tiếp tục công nhận di sản văn hóa của các nước thành viên. Một trong hai đại diện văn hóa của VN đang xếp hàng chờ xét duyệt là quan họ - hiện vẫn trong quá trình lập hồ sơ.

Nhưng giờ đây, một việc còn quan trọng hơn danh hiệu (có thể) được quốc tế công nhận là khẩn trương bảo tồn, phục hồi những gì sót lại của quan họ.

Với một lực lượng diễn viên hùng hậu của đoàn Quan họ Bắc Ninh, với hội Lim tầm cỡ quốc gia được tổ chức hàng năm, băng đĩa Thúy Cải, Thúy Hường… lúc nào cũng sẵn, những tưởng Quan họ rơi vào trường hợp hi hữu vẫn giữ được sức sống mãnh liệt trong xã hội đương đại. Nhưng thật ra quan họ đã và đang phải đánh đổi rất nhiều. Hay nói rõ hơn, những người chịu trách nhiệm thừa hưởng gia tài nghệ thuật này từ một nhận thức sai lệch kéo dài đã đi quá xa cái gốc của quan họ.

Quan họ là hình thức hát đối giữa liền anh - liền chị của hai cộng đồng làng xã. Hát đối đáp nam nữ như hát Ví, hát Trống quân, hát Đúm… nhiều vùng đều có.

Riêng ở Bắc Ninh, những người tham gia quan họ vươn tới một mục đích cao hơn. Hát trong quan họ được nâng lên mức nghệ thuật, không còn là phương tiện để giao duyên.

Để có thể hát cả đời với nhau, những liền anh liền chị, khi đã kết nghĩa, nguyền không lấy nhau. Trong trường hợp không cưỡng lại được, đi đến hôn nhân, coi như họ đã tự loại mình ra khỏi cuộc chơi.

Luật chơi nghiêm ngặt này góp phần đưa quan họ vươn tới những vẻ đẹp độc đáo trong kỹ thuật hát. Vậy nên, dù thuộc về thú chơi nhưng hát quan họ đòi hỏi người hát phải có sự đào luyện tương đương với các thể loại chuyên nghiệp như ca trù, hát văn, chèo…

Trong khi các thể loại hát trai gái khác thường có chỉ một làn điệu (và cũng chính là tên gọi của thể loại), thì quan họ từng đạt tới một lượng bài bản lên tới trên dưới 300 làn điệu (thống kê của Hội nghị quan họ lần thứ V- 1973).

Các nghệ nhân quan họ xưa kia thường đi khắp đó đây, tìm tòi dân ca, đem về “quan họ hóa”, trước là để quan họ bạn bất ngờ, khó đối đáp, sau để cho kho tàng làn điệu quan họ sinh sôi mãi… Người cuối cùng sáng tác được quan họ là nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi, đã mất năm 2001.

Đệm nhạc châu Âu quên cách hát cổ

Nhưng trong quá trình “chuyên nghiệp hóa” nghệ thuật quan họ, người ta đã không để ý đến những điều kể trên. Quan họ ngày nay thường được hình dung như những tiết mục đơn ca, tốp ca có nhạc đệm - “xịn” thì dàn nhạc dân tộc cải tiến, không thì chỉ một cái đàn oóc.

Trong khi quan họ nguyên bản luôn là hai người nữ hát đối với hai người nam - không hề có nhạc cụ kèm theo. Khi đưa quan họ lên sân khấu, những tiếng đệm, tiếng láy... bị cắt bỏ không thương tiếc, cho vừa với thời lượng của một ca khúc.

Khi bị đệm đàn, tiết tấu của dàn nhạc tiếp tục phá hỏng nhịp điệu tự nhiên của hát quan họ. Các diễn viên quan họ hát nhanh hơn, và với sự hỗ trợ của tăng âm, họ hát nhỏ hơn, hơi ngắn hơn, nhưng lại mở khẩu hình lớn hơn (áp dụng kỹ thuật cộng minh của thanh nhạc cổ điển châu Âu), dẫn tới triệt tiêu dần nhiều kỹ thuật thanh nhạc cổ truyền như rung giọng, nảy hạt... Hậu quả là, các diễn viên chuyên nghiệp khó lòng quay lại hát được quan họ đúng như cổ truyền.

Khi quan họ được trình bày như một ca khúc, tất nhiên người ta sẽ không để ý tới bài đối với nó là bài gì. Góp phần dẫn tới tình trạng khi quay về dựng canh hát quan họ cổ, các nhà nghiên cứu mới ngã ngửa ra, nhiều bài quan họ bây giờ không còn tìm được bài đối, hoặc còn lời ca nhưng không ai biết hát.

Những bài bản khác của quan họ tiếp tục bị mất do cách khai thác của Đoàn chuyên nghiệp. Quan họ Đoàn hay quan họ đài thường cũng chỉ đưa lên sân khấu những bài thuộc giọng vặt, giọng giã - dễ nghe dễ hát.

Còn thường bỏ qua các bài thuộc giọng lề lối (La Rằng, Tình Tang, Cái Hời Cái ả, Cây Gạo, Đương Bạn…), vốn là những bài bản thuộc đẳng cấp cao trong kỹ thuật thanh nhạc của quan họ cổ, và là những bài không thể dùng hòa âm phương Tây để đệm theo.

Cụ Nhi, xấp xỉ 90 tuổi, ở làng Diềm - một trong 6 cụ được Bắc Ninh đề cử Báu vật nhân văn sống UNESCO (từ 2003) - cho hay, canh quan họ xưa mở đầu bằng bài Hừ La, rồi đến La Rằng: “Nhưng Hừ La khó quá, đến đời chúng tôi toàn trốn, không muốn học!” Hừ La - với độ dài nghe đâu 15’ nay đã thất truyền, còn La Rằng cũng chỉ những nghệ nhân lớn tuổi mới biết hát. Nhưng các cụ không có cơ hội để hát, nói gì đến truyền dạy.

Bà Triện, tuổi ngoài 70, ở làng Ngang Nội, hát cho chúng tôi nghe xong nói: “Bốn chục năm nay, chúng tôi mới hát. Vì hát chả ai nghe. Đến đám, chúng tôi hát là người ta về hết!

Người ta bảo: “Lời cổ mà các bà ấy hát lại ề à!” Trong cảnh tình này, trớ trêu thay, số ít những bạn trẻ hát theo lối cổ lại bị bài xích. Cô tạp vụ ở Phòng Văn hóa huyện Tiên Du, hay cô bán cá ở làng Diềm… rất có thể là những nghệ nhân tương lai, nếu họ có nhiều cơ hội để hát.

Nhưng tất nhiên, giờ đây họ không thể chen chân vào CLB cấp làng trở lên, nơi dành cho những người “chuyên nghiệp” - tốt nhất là đã qua (3 năm) đào tạo tại Trường VHNT tỉnh.

Việc đại đa số, thậm chí ngay chính con đẻ của nghệ nhân cũng đi theo lối trình diễn của đoàn quan họ là điều có thể hiểu được. Vì đây là mô hình đang được Nhà nước và đa số cộng đồng chấp nhận. Và một nguyên do nữa: Hát như thế đỡ phải khổ công tập luyện.

Nguyễn Mạnh Hà

Thứ Năm, 30/03/2006, 11:42

Quan họ: Được tiền, mất thú chơi

TP - Đưa hát quan họ lên sân khấu đã đi quá xa, đến mức làm cho đa số công chúng nhầm tưởng, quan họ chỉ là những gì đoàn quan họ Bắc Ninh đang thể hiện.

Thương mại hóa không đi đôi với bảo tồn quan họ

Những tiết mục đúng ra bám sát chất liệu quan họ của đoàn quan họ Bắc Ninh phải nói cũng rất hay (có khi đây mới chính là những tác phẩm world-music đầu tiên của VN!), đã đem lại danh tiếng cho Đoàn - nhưng rất tiếc không giúp gì mấy cho việc bảo tồn di sản quan họ.

Nhiều làng, xã, huyện ở Bắc Ninh ngày nay cũng đinh ninh rằng mình vẫn đang giữ vững truyền thống bằng những Câu lạc bộ Quan họ (có nơi gọi là Đội xung kích quan họ), mà hoạt động chính là chạy sô trong và ngoài tỉnh.

Một CLB Quan họ cấp huyện ở Bắc Ninh trong mùa cao điểm từ mùng 3 Tết Bính Tuất cho đến rằm tháng Hai đã diễn khoảng 200 buổi, phục vụ từ khao thọ, đám cưới, hội nghị, tân gia, lễ hội ở các tỉnh bạn cho tới tour du lịch với khách nước ngoài... tổng cộng tiền cát sê cũng được hơn 400 triệu.

Sô diễn có thể bao gồm cả chèo, chầu văn và ca mới (các bài Những cô gái quan họ, Làng quan họ quê tôi, Về quê…), với 2-4 nhạc công. Biên chế chỉ hơn 10 người, nhưng CLB huyện thu hút tới hơn 100 cộng tác viên.

Và vào dịp hè, CLB chứ không phải các cụ nghệ nhân mới là nơi dạy hát quan họ cho các cháu học sinh... Cứ thế, dân trong vùng vô tình hay hữu ý đều bị cuốn theo vòng quay kinh doanh quan họ.

Gần đây, dân làng Lim vẫn tổ chức canh hát tại gia mỗi khi có đám khao. Cũng đủ cả, hai liền anh, hai liền chị, cũng hát đối đáp- nhưng là giữa các (cựu) diễn viên chuyên nghiệp của đoàn quan họ, hay các diễn viên nghiệp dư thuộc đội văn nghệ xã.

Nhìn thẳng vào sự thật, đây chỉ còn là những canh hát… giả, “liền anh” “liền chị” làm bộ đối đáp vài bài lấy lệ. Diễn viên cầm mic hát trên thềm nhà. Trong tiếng nhạc inh tai, dưới sân khách khứa mặc sức nói chuyện, khác nào cuộc liên hoan mời ca sĩ đến góp vui.

Và tất nhiên, lối hành xử của người quan họ như têm trầu, mời rượu… cũng chỉ dừng lại ở mức diễn, cho xôm trò. Tìm đâu cho thấy phong tục kết nghĩa đời này qua đời khác giữa hai làng quan họ!

Hình như, chúng ta xem quan họ nhiều hơn lắng nghe. Trên ti vi hay đĩa hình, quan họ được dàn dựng thành những hoạt cảnh trong đó nam thanh nữ tú hóa trang kỹ lưỡng, diễn xuất tình tứ trong tiếng đàn hát réo rắt... Những diễn viên quan họ nổi tiếng nhất đều ưa nhìn và đều là nữ cả!

Trong trường VHNT tỉnh, so với nữ, các nam sinh học hát quan họ chưa bao giờ vượt quá tỷ lệ 1/3. Thêm một trở ngại mà những nhà nghiên cứu gặp phải khi dựng lại canh quan họ ở làng là khó tìm nổi bạn hát cho các cụ bà.

Trong sinh hoạt quan họ cổ truyền, nam giới mới là người giữ vai trò chủ động- từ việc kết bạn cho đến bẻ làn nắn điệu...

Nay tìm được một liền anh nắm được kỹ thuật nảy hạt của quan họ cổ từ tuổi trung niên trở ra ở Bắc Ninh là cực khó. Thực tế cho thấy, các bé gái chịu khó học hát quan họ hơn, trước mắt để tham gia các hội diễn thiếu nhi. Và khả năng làm ngôi sao quan họ của các em khả thi hơn nhiều so với việc trở thành liền chị.

Người viết từng chứng kiến cảnh đoàn quan họ Bắc Ninh đến mừng thọ cụ Nguyễn Thị Khướu ở Ngang Nội. Vây quanh lão nghệ nhân tuổi trăm có lẻ, 7-8 cô diễn viên tóc râu ngô, dẫn đầu là NSƯT Thúy Cải, đồng thanh hát quan họ- cũng chia bè hát đuổi như bất cứ tốp ca “công đoàn” nào.

Tình cảnh của quan họ cũng từa tựa như vậy, cái nguyên gốc còn một chút nhưng không lên tiếng được. Có một lực lượng hùng hậu những tưởng kế tục thì lại ra sức làm cho quan họ biến dạng đi mãi…

Quan họ đang đứng trước bờ vực thất truyền. Khi việc sân khấu hóa, chuyên nghiệp hóa và thương mại hóa nó đã không đồng nghĩa với bảo tồn vốn nghệ thuật cổ truyền. Khi văn hóa quan họ đã mai một và môi trường tồn tại và phát triển của quan họ dần trôi vào quá khứ…

Bên cạnh những biến đổi khách quan của đời sống, những tác động chủ quan của các “nhà cải biên” đã vĩnh viễn làm thay đổi hình hài và tinh thần quan họ. Việc quan họ cổ truyền bị thay thế hoàn toàn bởi quan họ hiện đại có lẽ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Nguyễn Mạnh Hà

n9

Báo Văn nghệ 2007

Dân ca quan họ -Hãy tự bảo tồn trước khi khách đến!

Thỉnh thoảng về Bắc Ninh, gặp những người quen biết, có người là liền anh, liền chị quan họ, có người công tác trong ngành văn hoá.., tôi đã gặp ít nhiều một tâm trạng mong đợi. Đấy là khi người ta nói về chuyệnKhông gian văn hoá quan họ đang được làm hồ sơ để trình UNESCO công nhận, mong sao được vinh danh trước thế giới; hoặc người ta phỏng đoán kết quả, không hiểu quan họ của mình có đến được ngày ấy? Và ngày ấy, sẽ là bao giờ?

Không bàn quanh chuyện công tác xây dựng bộ hồ sơ hệ trọng này còn chưa được thông báo rộng rãi, quanh tiến độ thực hiện dường như chậm một cách khó hiểu, khiến cho niềm tin về ngày vinh danh quan họ của những người quan tâm ngày càng xa xôi. Nhiều người giống nhau ở suy nghĩ: Không gian văn hoá quan họ được vinh danh ở tầm quốc tế, sẽ là niềm vinh dự lớn - trước hết dành cho những con người của không gian đó, những người nuôi giữ và lưu truyền dân ca quan họ. Được công nhận là di sản phi vật thể và kiệt tác truyền khẩu của nhân loại, sẽ mang lại nhiều ý nghĩa lớn về văn hoá, mang lại những điều kiện lớn để bảo tồn, lưu giữ, truyền dạy và quảng bá quan họ được rộng rãi hơn. Vì thế, mong đợi ngày vinh danh là một hành động đẹp!

Có điều, phải chăng đây là con đường duy nhất cho việc cứu lấy một trong những loại hình dân ca với nội dung, nghệ thuật ca hát phong phú và đẹp đẽ vào bậc nhất của văn hoá dân gian Việt Nam? Phải chăng đây là cách làm có tác dụng quyết định để cứu lấy môi trường văn hoá mà dân ca quan họ tồn tại? Có phải đang tập trung chờ đợi để rồi chót xao nhãng những hiện trạng đã trở nên cấp bách?

Đó là thực trạng không có gì là mới - các nghệ nhân tài ba vào tuổi xế chiều đang ngày càng yếu và thưa vắng hơn, mang theo những khúc đoạn khác nhau của kho tàng quan họ đồ sộ, của một đời sống quan họ uyển chuyển, cởi mở và diễm tình. Đó là nguy cơ chững lại những thành quả mà quan họ có được qua hàng trăm năm phát triển, tiếp nhận và quan họ hoá, bổ sung và sáng tạo về làn điệu, về lời ca, bài ca … Đó còn là xu hướng giản lược những biểu hiện sinh động và đa dạng của lề lối chơi quan họ, của bài bản quan họ và kỹ thuật hát quan họ trong đời sống đương đại v.v…

Gần đây, tôi có gặp nhạc sĩ Đức Miêng hiện công tác tại Trung tâm VHTT tỉnh Bắc Ninh, ông Miêng lo lắng về hiện trạng chỉ còn vài chục cụ nghệ nhân cao tuổi trong các làng quan họ toàn tỉnh. Có làng thì còn được vài cụ, có làng đã chẳng còn cụ nào! Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ - Giảng viên Văn học dân gian tại Trường ĐH KHXH&NV - Hà Nội ái ngại: Trong các nghệ nhân hiện nay, có những cụ vẫn sống nghèo khó! NSƯT Tạ Thị Hình - nghệ nhân quan họ làng Bồ Sơn cho biết: Một số nghệ nhân quan họ có “vốn liếng” dồi dào, say mê hát từ thời tuổi trẻ nên thông thuộc lề lối chơi quan họ, nắm vững hệ thống bài bản quan họ v.v…, và có khả năng truyền đạt tốt. Nhưng họ chưa được tạo điều kiện tham gia giảng dạy chính quy cho các trường nghệ thuật. Thực tế hiện nay cũng phản ánh tình hình các lớp học quan họ được ngành VHTT tổ chức, thời gian ngắn ngủi, chương trình còn sơ lược, kinh phí đầu tư hạn chế, vì thế, kết quả cũng chỉ khiêm tốn và tương đối. Các học sinh có khi chỉ thuộc mươi, mười lăm bài ca, còn những yếu tố văn hoá phong phú xung quanh những bài ca đó thì không thể đủ thời gian lĩnh hội cho đến nơi đến chốn.

Dẫu thế, đã là tốt lắm! Bởi khuyến khích được thanh thiếu niên hát quan họ như một niềm say mê và khơi dậy trong thế hệ trẻ ý thức học tập, gìn giữ di sản, là khó khăn lớn trong xã hội hiện nay. Nhiều khi chúng ta có thể mừng khi bắt đầu bước vào những ngày hội xuân, đến dự những đám khao thọ, đám cưới ở Bắc Ninh, vẫn thấy những khuôn mặt trẻ trung, cả nam lẫn nữ, vui vẻ ca hát quan họ góp vui. Nhưng tâm trạng và suy nghĩ của con người cũng phải đi theo nhịp độ gấp gáp của đời sống. Giới trẻ hát quan họ, không còn chậm rãi như các cụ ngày trước, không thể vào canh hát là phải đủ lề lối, bởi vốn liếng có hạn, mà tâm trí đã ít nhiều xáo trộn, không thể say mê ngồi cả nửa ngày giời để ăn nói, để thưa gửi cho đúng như sự thanh lịch, khiêm nhường của người quan họ xưa, để ca hết bài này qua bài khác, hát đi rồi hát lại, níu kéo không muốn dừng. Chả thế mà bây giờ đi chơi hội, đi nghe quan họ, thấy các canh hát thường được co lại, vừa vặn trong vài tiếng đồng hồ. “Hình dáng” của một canh hát bây giờ cũng không còn “đủ đầy, tròn trịa” như xưa. Nghệ nhân Nguyễn Năng Địch, người làng Lim nhớ lại thời trai tráng “oanh liệt” của mình (chỉ mới đầu những năm 80 đây thôi!): Chúng tôi lên làng kết chạ là Diềm hát với quan họ bạn, hát mãi, tiễn từ sân nhà, tiễn ra bờ sông, rồi cứ ngồi ở bờ sông mà hát. Chị Ba quan họ năm ấy, ngồi gần tôi bên bờ sông, hát qua hát lại, bàn tay dứt cỏ. Rồi ba hôm sau, nhớ quá, lại phải “bò” lên, hát với nhau canh nữa…

Những sự kết bạn như thế, sẽ vẫn còn, nhưng phong tục kết chạ đẹp đẽ của quan họ xưa, giờ đây thật khó có thể trở lại! Cuộc vận động của quan họ theo thời gian đã phải có những “thoả hiệp”. Có nhiều khi, vào nhiều lúc, người ta bằng lòng với việc hát Karaoke quan họ, thích thú khi nghe những đĩa CD, VCD quan họ của các nghệ sĩ chuyên nghiệp hát trên nền nhạc với lời ca đã trở nên nuột nà, trơn tru, mỹ lệ hoá. Ở hội hè đình đám, du khách thập phương xúm quanh các lều quan họ, các hồ ao có quan họ đi thuyền hát vào mic để người ngồi trên bờ đệm Oócgan. Hát quan họ thời buổi kinh tế thị trường, nhiều khi không thể vô tư, không thể “chơi thuần tuý” hay hát vì nặng tình nặng nghĩa như xưa mà đã nhuốm màu thương mại. Các bài ca quan họ lan toả đến nhiều vùng miền trong cả nước, đặc biệt là ở một số nơi như Hà Nội, Hà Tây v.v…, người ta đã thành lập các CLB quan họ và gây dựng phong trào hát quan họ. Quan họ xuất hiện thông qua nhiều hình thức và được hưởng ứng đông đảo, điều đó cho thấy, sức sống mạnh mẽ và bền bỉ đang giúp nó tự thích ứng dần với dòng chảy mới của đời sống xã hội.

Dẫu rằng những khi đó, quan họ Bắc Ninh mà chúng ta thường ca ngợi là thanh thoát, lịch sự, e ấp và cởi mở… đã ít nhiều mang sắc thái khác. Dẫu rằng các đặc trưng cơ bản của hát quan họ như hát đối, hát cặp, hát có lề lối, ca quan họ gắn liền với chơi quan họ v.v… đã không còn được quan tâm hàng đầu khi quan họ được “xuất khẩu” ra khỏi địa phương. Ngày hôm nay, với nhiều người ở Bắc Ninh, các lề lối, phong tục trong việc hát quan họ cũng đã trở nên xa xôi. Và thật không tưởng khi nghĩ rằng ai ở Bắc Ninh cũng biết một chút về quan họ, ai ở làng quan họ gốc cũng thích quan họ. Cũng là không tưởng khi muốn tất cả mọi người đều yêu thích quan họ.

Chỉ có việc gắng hết sức để giữ lại những tinh tuý của quan họ càng lâu càng tốt, là điều cần làm ngay và làm triệt để. Bên cạnh dòng chảy lan truyền rộng rãi, phổ thông và cần thiết của dân ca quan họ và văn hoá quan họ tới khắp mọi vùng miền, luôn phải có một nền tảng bền vững. Đó là nơi chưng cất, hội tụ những gì tinh tuý nhất của quan họ, những giá trị gần với gốc gác cổ xưa, là những đặc trưng của nó trong một môi trường văn hoá vừa và nhỏ của phong tục chơi quan họ và những sinh hoạt ca hát, gặp gỡ, thăm hỏi, hẹn hò, mời chào… của quan họ, là số lượng giai điệu, bài bản, những lời ca và kỹ thuật hát quan họ độc đáo… Những giá trị này sẽ là tấm gương soi chiếu, là mạch ngầm của từng con sông, dòng suối đang lan truyền rộng rãi của dân ca quan họ. Và ngược lại, những dòng nước lan truyền rộng rãi kia, sẽ mang vai trò “cầu nối”, để đưa người tiếp nhận, thưởng thức đến với những tinh hoa của dân ca quan họ, văn hoá quan họ. Người ta sẽ hiểu đúng hơn, đầy đủ hơn về một loại hình dân ca đặc sắc của dân tộc, đồng nghĩa với việc những tinh hoa của quan họ sẽ lan truyền đi xa hơn.

Ngoài ra, những giá trị đó sẽ góp phần “thẩm định” những sáng tạo mới về nội dụng và hình thức thể hiện của mạch chảy quan họ mới, sao cho người ta vẫn có thể gọi chúng là dân ca quan họ, nằm trong dòng chảy văn hoá quan họ, chứ không thể là những sản phẩm khiên cưỡng hoặc lệch lạc nào khác! Nếu những giá trị này - thuộc về khái niệm “quan họ làng” vốn được nhắc đến như một sự tôn vinh - không tiếp tục đươc khai thác, khẳng định và gìn giữ, thì mai kia, nghĩ về quan họ, người ta sẽ quen thuộc hơn với những cái tên: quan họ đoàn, quan họ đài, thậm chí có thể là những “biến thể” mới: quan họ karaoke, quan họ ngả nón xin tiền… Cho nên, khi thực trạng đã đặt ra yêu cầu gay gắt, thì bảo vệ lấy những thành phần cốt yếu cần được đặt lên hàng đầu và tập trung cho nó nhân tài, vật lực.

Một trong những vấn đề trước tiên là thực hiện việc quan tâm, bồi dưỡngnghệ nhân quan họ thoả đáng, đồng thời tiếp tục khai thác, học tập các cụ. Nghệ nhân là “nhân chứng” sinh động của dòng chảy quan họ một vùng, của lịch sử kết chạ giữa hai hoặc một nhóm làng quan họ v.v…, đồng thời họ tham gia vận hành dòng chảy ấy bằng nét riêng độc đáo của mình. Nhạc sỹ Đức Miêng khẳng định: Sưu tầm, khảo sát, tiếp cận nghệ nhân là việc cần làm thường xuyên để có thể ghi lại ở mức độ nhiều nhất những gì độc đáo còn “lưu trữ” trong các cụ. Bởi tuổi tác sẽ không cho phép chúng ta “xin” được hết những gì mà các nghệ nhân có trong một khoảng thời gian ngắn ngủi. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ cho rằng: Cần xây dựng kho dữ liệu nghệ nhân một cách đầy đủ, tận dụng các phương tiện kỹ thuật tiên tiến để khai thác và trả thù lao một lần thật xứng đáng, những nghệ nhân nghèo có thể trông vào đó để ổn định đời sống hơn những năm cuối đời và lo việc hậu sự. Cùng với thù lao có thể là Bằng khen, Bằng ghi nhận công lao đóng góp của các cụ. Việc này sẽ khuyến khích đáng kể “tinh thần thi đua”, cộng tác, cống hiến của nghệ nhân.

Để nhanh chóng lưu truyền những vốn liếng quý báu của nghệ nhân cho thế hệ trung niên tiếp nối, thế hệ trẻ của các làng quan họ gốc. Cần tổ chức các lớp, các chương trình dạy hát theo chiều sâu với yêu cầu đặt ra là lĩnh hội được một số lượng bài bản phong phú (khoảng từ 50 bài trở lên…, gồm các cặp bài đối đáp, các bài thuộc các giọng (chặng) đủ một canh quan họ gồm: giọng lề lối, giọng vặt, giọng giã bạn… Cũng không thể chỉ học bài hát mà không gắn với lối chơi quan họ, phong tục tập quán của người quan họ, truyền thống quan họ của làng, các bài ca được coi là đặc trưng, ra đời từ làng đó v.v… Đương nhiên, cần có nguồn kinh phí thoả đáng hỗ trợ cho nghệ nhân và học viên, tập trung đầu tư cho những học viên có năng khiếu, say mê và có nguyện vọng theo đuổi quan họ lâu dài.

Đồng thời, Trường Trung cấp VHNT Bắc Ninh nên có kế hoạch xây dựng chương trình, giáo trình học tập quan họ theo lề lối, theo các đặc trưng của sinh hoạt ca hát quan họ. Đây là điều rất cần thiết, vì học sinh nhà trường, mai kia sẽ trở thành nghệ sĩ biểu diễn của các đoàn nghệ thuật hoặc các cán bộ văn hóa nghệ thuật nòng cốt tại các địa phương. Biểu diễn hay quản lý phong trào quan họ, nếu không nắm vững được truyền thống của nó thì rất dễ làm cho nó ngày càng xa rời gốc gác hoặc biến dạng.

Để phát triển ca từ và làn điệu quan họ, không thể không nghĩ tới việc sáng tạo cái mới trên nền truyền thống, nhằm tìm ra các tác phẩm gửi vào sàng lọc trong dân gian. Liên hoan tiếng hát quan họ vẫn vang lên mỗi mùa xuân, nhưng nên có thêm hình thức thi đối đáp bằng sáng tác nhanh, tại chỗ để đặt lời mới, cho các làn điệu cũ hoặc bẻ làn nắn điệu. Đỉnh cao là tạo ra các giai điệu quan họ mới với ca từ phù hợp - chứ không phải là những lời hô hào, ca ngợi đơn điệu, gò ép con chữ - Tiêu chí này có lẽ đạt hiệu quả hơn thông qua các cuộc thi được phát động trong thời gian dài.

Như vậy, trước khi có thể đầu tư quy mô lớn vào công cuộc phục hồi, bảo tồn không gian văn hoá quan họ với các lễ hội, các nghi thức, các di tích v.v…, trước khi có thể nhận được sự hỗ trợ từ UNESCO cho công việc cứu lấy văn hoá quan họ, dân ca quan họ đang xuống dốc như nhiều người lo lắng, nên tập trung vào những yếu tố quan trọng nhất, tạo nên hồn vía của không gian ấy, văn hoá ấy. Đó là nghệ nhân quan họ, nghệ thuật hát quan họ, hệ thống bài bản, lề lối hát và chơi quan họ, nghệ thuật sáng tạo quan họ… Những yếu tố này, trong nhiều trường hợp, đủ sức tồn tại độc lập và đủ sức hoà hợp, tồn tại trong những điều kiện văn hoá, kinh tế, xã hội khác nhau. Vì vậy, trước khi quan họ có thể được vinh danh trên thế giới vào một ngày xa xôi nào đó, hãy tự giữ lấy quan họ của mình và cho mình, mai sau lấy làm quà đón khách đến chơi như câu ca “Mời nước” vẫn văng vẳng: “Mấy khi khách đến chơi nhà - Đốt than quạt nước pha trà người xơi - Trà này quý lắm người ơi! - Mỗi người một chén cho em vui lòng…” Công việc này không nằm ngoài trách nhiệm và chuyên môn của ngành VHTT Bắc Ninh (trong đó, trước hết là Sở VHTT, Trung tâm VHTT, Trường Trung cấp VHNT…), của Cục Di sản - Bộ VHTT, của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, của các nhà nghiên cứu có tài, các nghệ sĩ có tâm và tất cả những ai yêu mến quan họ.

Nguyễn Quang Hưng

Prev: ĐỐI THOẠI QUAN HỌ
Next: LAN MAN VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC THỜI HỘI NHẬP

http://siphubacha.multiply.com/journal/item/49/49

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4825937