Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Âm nhạc cổ truyền

NGHỆ THUẬT HÁT VĂN VÀ TÍN NGƯỠNG TỨ PHỦ

 
Từ bao đời nay, Hát Văn vốn luôn được biết
đến như một thể loại âm nhạc nghi lễ tín *ngưỡng đặc sắc. Trải theo thời gian, dù đã
được đưa lên sân khấu biểu diễn với nội
dung lời ca mới nhưng nghệ thuật Hát Văn
vẫn tồn tại nguyên vẹn chức năng thực hành
xã hội khởi thủy của nó.


Gắn liền với tín ngưỡng Tứ phủ, Hát Văn
đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
phụ trợ, kích thích sự thăng hoa, giao cảm
giữa con nhang đệ tử với thế giới thần linh.
Đây là mối quan hệ hữu cơ giữa một thể loại
âm nhạc và một hình thức tín ngưỡng. Nghệ
thuật âm nhạc dường như là một thứ
phương tiện không thể thiếu khi con người
muốn giao tiếp với thánh thần. Đó vốn là lẽ
thường từ thủa hồng hoang của xã hội loài
người. Thế nhưng, để định hình như một
thành tố đóng vai trò chính yếu trong tín
ngưỡng với trữ lượng lớn cả về số lượng và
chất lượng nghệ thuật như Hát Văn thì có lẽ
vẫn là điều xưa nay hiếm!

 



Đệ nhất Quảng cung Phủ Nấp (Nam Định)-
nơi Mẫu Liễu giáng sinh lần thứ nhất



Trước hết, cần phải thấy rằng với hệ thống
kỹ thuật biểu hiện phức tạp, nghệ thuật âm
nhạc Hát Văn đã đạt tới tầm cao của một thể
loại chuyên nghiệp trong nền âm nhạc dân
tộc cổ truyền Việt Nam. Ở đây, chúng tôi
muốn nhấn mạnh đến sự điêu luyện mang
tính nhà nghề của một cung văn mẫu mực.
Nó chỉ có thể tồn tại và bảo lưu bởi phương
thức truyền nghề tự giác với mối quan hệ
mang tính chuyên nghiệp giữa thầytrò.
Kèm theo đó là một hệ thống "trường lớp"
dân gian - những lò đào tạo in đậm tính gia
truyền. Trong lịch sử Hát Văn, có thể dễ
dàng tìm thấy ở những trung tâm tín
ngưỡng Tứ phủ những phả hệ nghệ nhân
Hát Văn khá đồ sộ. Với sức hấp dẫn và lan
tỏa khá mạnh, những lò đào tạo cung văn đó
dần hình thành cả một tầng lớp nghệ nhân
nhà nghề. Và, trên nẻo đường hành nghiệp,
họ đã tạo ra một mối quan hệ giao lưu khăng
khít và gắn bó mang tính chuyên nghiệp trên
khắp các vùng miền của tín ngưỡng Tứ phủ.

Giá Công Chúa Thác Bờ- Phủ Dầy- Nam

Định




Hai cung văn Trần Văn Thêm và Nguyễn
Thế Tuyền- Đền Đức Vua- Nam Định

 

Trong nghệ thuật Hát Văn, hệ thống nhạc
khí với biên chế cổ điển bao gồm đàn
nguyệt, phách, cảnh, trống ban, thanh la và
trống cái. Với những kỹ thuật chuyên biệt,
sự khai thác nghệ thuật âm nhạc trong thể
loại này đã đạt tầm cao của sự điêu luyện
ngón nghề. Ở đây, điều đáng nói trước nhất là sự góp mặt của cây đàn nguyệt.

Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, cho đến
đầu thế kỷ XX, cây đàn nguyệt đã được biết
đến với sự góp mặt của nó trong ba miền cổ
nhạc Bắc, Trung, Nam là : Hát Văn, nhạc
Cung đình Huế, nhạc Thính phòng Huế và
nhạc Tài tử - Cải lương Nam Bộ. Trong đó,
căn cứ vào lịch sử của tín ngưỡng Tứ phủ,
trên quan điểm về tính nguyên hợp của văn
hóa dân gian, có thể thấy rằng Hát Văn là
 
thể loại hình thành sớm hơn cả.


Theo Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ thì
đàn nguyệt du nhập vào Việt Nam khá muộn
- khoảng đầu thế kỷ XVIII[1]. Ở đây, cần
phải thấy rằng rất có thể đàn nguyệt được
du nhập lúc đầu chưa hẳn vì mục đích sử
dụng trong Hát Văn mà vẫn trôi nổi tự do
ngoài dân gian. Có lẽ phải mất một thời gian
nào đó sau khi được bản địa hóa, nó mới
chính thức được các cung văn sử dụng.
Song căn cứ vào những ghi chép của Phạm
Đình Hổ thì đàn nguyệt chắc chắn đã có mặt
trong đời sống âm nhạc dân gian trước khi
được đưa vào biên chế của dàn nhạc Cung
đình. Bởi vậy, cho đến cuối thế kỷ XIX - đầu
thế kỷ XX, nếu so sánh lịch sử hình thành
các thể loại âm nhạc có sử dụng đàn nguyệt,
chúng tôi vẫn thiên về giả thuyết cho rằng
trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt
Nam, đàn nguyệt xuất hiện trước nhất ở thể
loại Hát Văn.

Hai cung văn Đào Thị Phòng &Nguyễn

Thế Tuyền tại Phủ Nấp

 


Mặt khác, đứng trên quan niệm về thuộc tính
âm dương của nhạc khí cho đến cuối thế kỷ
XIX - đầu thế kỷ XX[2], sự xuất hiện của đàn
nguyệt trong tín ngưỡng Tứ phủ là một hiện
tượng đặc biệt. Theo quan niệm này, thông
thường, từ ngàn xưa, khi giao tiếp, thông
linh với thánh thần, người ta thường sử
dụng những nhạc khí mang tính dương làm
chủ đạo - gọi là biên chế dương vượng. Ngay
trong biên chế dàn nhạc tế miếu, tế trời đất
của cung đình triều Nguyễn (cuối thế kỷ
XVIII), có thể thấy quan niệm triết học đó vẫn
được duy trì. Thế nhưng trong tín ngưỡng
Tứ phủ, một nhạc khí mang tính âm như đàn
nguyệt (thuộc Ti - thứ âm) lại được sử dụng
như một phương tiện chủ lực bên cạnh các
nhạc khí mang tính dương là phách (thuộc
Mộc - bán dương) và cảnh (thuộc Kim -
nguyên dương). Đứng trên quan niệm cổ
truyền đã nêu, đây là điều đặc biệt thú vị! Có
thể coi đó là một đặc điểm độc đáo của tín
ngưỡng Tứ phủ so với các hình thức tôn
giáo tín ngưỡng xuất hiện trước đó. Phải
chăng vào thời đoạn hình thành nghệ thuật
Hát Văn, cổ nhân đã trưng dụng cây đàn
nguyệt với mục đích để phù hợp, tôn vinh vai
trò âm tính - nữ tính - Thánh Mẫu - vai trò
chính thần trong tín ngưỡng Tứ phủ?
 

Giá Chầu Năm- Đền Sòng Sơn- Thanh Hóa




Giá Chầu Bé- Đền Sòng Sơn- Thanh Hóa


Đây chỉ là sự phỏng đoán chủ quan của
 
chúng tôi. Bởi rất có thể đàn nguyệt trong
Hát Văn chỉ là sự lựa chọn ngẫu nhiên của
người xưa mà thôi. Tuy nhiên, ở đây ít nhất
chúng ta cũng khẳng định được rằng sự góp
mặt của đàn nguyệt trong tín ngưỡng Tứ
phủ là một hiện tượng độc đáo của âm nhạc
tín ngưỡng cổ truyền Việt Nam. Bởi tính theo
mặt cắt lịch đại, lần đầu tiên trong các hình
thức tế bái giao tiếp với thần linh, nhạc khí
họ dây (âm tính) được sử dụng như một
phương tiện quan trọng, góp phần xác định
đẳng cấp nghệ thuật của âm nhạc tín
ngưỡng ở một tầng bậc khác.


Bên cạnh đàn nguyệt, các nhạc khí tiết tấu
cũng là một phần quan trọng của âm nhạc
Hát Văn. Trong đó cảnh, thanh la là các nhạc
khí nguyên dương. Với chất liệu bằng đồng
(thuộc Kim), theo quan niệm cổ xưa, 2 nhạc
khí này được coi là thanh âm dẫn dụ khi con
người giao tiếp với thế giới thần linh. Phách
(thuộc Mộc) là nhạc khí bán dương. Trống
ban, trống cái (thuộc Cách) là các nhạc khí
bán âm[3].


Như vậy, về cơ bản, dàn nhạc Hát Văn là
một biên chế cân bằng âm dương. Trong
diễn tấu, phách và cảnh (dương tính) đảm
nhiệm nền nhịp điệu chu kỳ, dẫn dụ, nâng
đỡ giai điệu đàn nguyệt (âm tính) với sự
điểm xuyết của trống ban hay trống cái (âm
tính). Phách, cảnh, trống ban và thanh la do
một cung văn đảm nhiệm. Trống cái chỉ sử
dụng trong những lễ lớn với vai trò hỗ trợ
của một cung văn cầm chầu. Đây được coi là
biên chế chính thức của dàn nhạc Hát Văn
cổ truyền với 2 hoặc 3 cung văn. Về sau, tùy
theo nhu cầu nghệ thuật ở từng nơi mà
người ta có thể thêm vào đàn nhị, sáo hay
đàn tranh.

Trống cái &thanh la hỗ trợ trong một số

trình thức lễ lớn.


Hệ nhạc khí trong Hát Văn, đáng chú ý nhất
là bộ nhạc khí tiết tấu. Khi diễn tấu, cung văn
tay trái cầm 1 dùi vừa đánh phách vừa gõ
trống ban. Tay phải cầm 2 dùi, 1 dùi kẹp
giữa ngón cái và ngón trỏ để đánh phách, 1
dùi kẹp giữa ngón trỏ và ngón giữa để đánh
cảnh.




Phách và cảnh luôn diễn tấu những mô hình
nhịp điệu chu kỳ làm nền cho giai điệu tiếng
đàn, giọng hát. Đây chính là thành phần xác
định tính vũ khúc của âm nhạc Hát Văn.
Trống ban giữ vai trò điểm câu, báo kết
trổ[4]. Đôi khi để thay đổi không khí cho
"xôm trò", nó còn được sử dụng thay thế cho
cỗ phách trong vai trò diễn tấu nền nhịp điệu
chu kỳ. Khi đó, cung văn chỉ việc với tay lên
phía trước, 2 dùi đánh trống, 1 dùi đánh
thanh la (móc vào tang trống thay cho cảnh).




Thường thì cung văn chơi đàn nguyệt đảm
nhiệm vai trò hát chính. Nhưng trong các lễ
 
hầu đồng, cả cung văn đánh nhịp (phách,
cảnh, trống) cũng phải hát. Do lễ thức này
thường kéo dài (có khi tới 6 đến 8 tiếng đồng
hồ) nên thường có thêm vài cung văn khác
cùng tham gia tiếp sức, hỗ trợ. Họ có thể
hoán đổi vị trí, thay nhau đàn hát sao cho
vẫn đảm bảo sự liền mạch của âm nhạc. Nói
vậy để thấy được sự đa năng của các nghệ
nhân Hát Văn. Ở đây, tiêu chuẩn tối thiểu
của một cung văn là phải vừa đánh nhịp vừa
hát, tiêu chuẩn tối đa là phải vừa đàn nguyệt
vừa hát. Mặt khác, thời lượng diễn xướng
của một ban nhạc Hát Văn là đặc điểm hết
sức thú vị. Trong nền âm nhạc dân tộc cổ
truyền Việt Nam, nếu nói đến số lượng lớn
nhất của một biên chế dàn nhạc thì người ta
sẽ nghĩ ngay đến dàn nhạc cung đình. Thế
nhưng nếu tính đến một cuộc diễn xướng
"dài hơi" nhất thì có lẽ đó chính là dàn nhạc
Hát Văn trong các lễ thức hầu đồng. Cho
đến nay, đây vẫn được xem là một năng lực
đáng nể của các cung văn trong giới nghệ
nhân cổ nhạc.

Giá Quan Lớn Đệ Nhị- Phủ Nấp- Nam Định


Ở những nhóm cung văn có đẳng cấp, nhiều
làn điệu họ có thể hát song ca hay đồng ca.
Đây là trường hợp của những cuộc hầu
đồng lớn. Trong đó, do lượng người tham
dự quá đông nên đòi hỏi âm lượng của
giọng hát phải được tăng cường. Theo các
nghệ nhân lão thành kể lại, trong nhiều
trường hợp, 4 cung văn có thể cùng đồng ca
thật ăn khớp. Ngoài vấn đề nhu cầu về
cường độ âm thanh thì đây chính là một hiện
tượng độc đáo trong nền âm nhạc dân tộc cổ
truyền Việt Nam nói chung. Trong đó, các thể
loại vốn luôn tồn tại dưới dạng ngẫu hứng
trên lòng bản. Nếu muốn đồng ca, các nghệ
sĩ phải có sự tập luyện công phu để khi diễn
xướng, sao cho tác phẩm chỉ xuất hiện dưới
dạng một dị bản duy nhất. Điều đó có nghĩa
các cung văn phải lập thành nhịp điệu từng
câu, từng từ trong đường tuyến giai điệu
thống nhất. Trong một bộ môn nghệ thuật
đầy tính ngẫu hứng như Hát Văn, nói chung,
đây là điều không dễ thực hiện.




Cung văn Nguyễn Thế Tuyền &cung văn
lão thành Đạo Thị Sại ở Phủ Nấp- Nam
Định

 

Về kỹ thuật thanh nhạc, nhìn chung, trong
nghệ thuật Hát Văn hình thành hai phong
cách hát điển hình.


+Thứ nhất là phong cách Hát Văn Nam Định
- lối hát không sử dụng nhiều hệ thống kỹ
thuật nẩy hạt trong thanh nhạc cổ truyền

Hát Văn Nam Định thiên về chất giọng hoang
sơ, thô mộc, giản dị, kiểu như Hát Xẩm. Đây
được coi là lối hát dân dã, khá phổ biến trên
các miền thôn quê.


+Thứ hai là phong cách Hát Văn Hà Nội, Hải
Phòng - lối hát sử dụng nhiều kỹ thuật nảy
hạt, đề cao sự hoa mỹ, bay bướm và tinh tế
trong việc điều tiết âm lượng câu chữ. Cách
ém hơi ở đây rất giống với Chèo hay Ca trù.
Phong cách hát này thường được khu biệt ở
chốn phồn hoa đô hội, nơi tập trung giới
thức giả sành điệu.

Một lễ trình đồng tập thể tại đền Phố Cát-

Thanh Hóa




Giá Cậu Bé ở đền Sòng Sơn- Thanh Hóa

 

Trong nghệ thuật Hát Văn, không thể không
nói đến hệ thống làn điệu phong phú, tinh tế,
biểu cảm nhiều sắc thái tâm hồn con người
thông qua bóng dáng của chư vị thánh thần.
Trong đó, hình thành nhiều làn điệu mang
tính chuyên dùng khá cao thể hiện những vai
vế, tính cách và giới tính riêng biệt. Đó chính
là một phần quan trọng biểu hiện mối quan
hệ hữu cơ giữa âm nhạc và tín ngưỡng.


Như đã trình bày, với sự đề cao những mô
hình nhịp điệu có chu kỳ, âm nhạc Hát Văn
tựa hồ như những vũ điệu của thánh thần,
dìu dặt và mê hoặc lòng người. Cả cung văn
cùng các con nhang đệ tử như tỉnh như say
trong sự hòa quyện đồng điệu. Bên cạnh
việc diễn tấu những khúc nhạc không lời với
*vai trò độc lập, đàn nguyệt có nhiệm vụ dẫn
dụ giọng điệu và nâng đỡ cho lời ca tiếng
hát. Giai điệu tiếng đàn, giọng hát Chầu văn
có một sức quyến rũ đặc biệt. Dập dìu trên
nền nhịp phách lúc ẩn lúc hiện, nhiều làn
điệu mang đậm tính trữ tình, như dáng vẻ
của những gì ngọt ngào, mềm mại, thân
thương, của nữ tính - của Mẹ - Thánh Mẫu
trong hệ thống thần điện Tứ phủ.

Đền Phố Cát- Thanh Hóa, tương truyền là

nơi Mẫu dọn quán bán hàng




Giá Chầu Thác Bờ ở đền Sòng Sơn-
Thanh Hóa

 

Ở đây, dường như chúng ta có thể cảm
nhận được rằng không có một thể loại âm
nhạc tôn giáo tín ngưỡng nào ở Việt Nam lại
đạt được tầm cao về tính thẩm mỹ nghệ
thuật như Hát Văn. Trong đó, có thể tìm thấy
sự phát triển tột bậc cả về làn điệu âm nhạc
cũng như hệ thống kỹ thuật biểu cảm của
nhạc thanh. Hiện thực sống động đó khiến
cho âm nhạc Hát Văn nhiều khi mang dáng
vẻ của một thể loại âm nhạc sân khấu biểu
diễn hơn là âm nhạc của tín ngưỡng. Sức
hấp dẫn, quyến rũ của nó đã được minh
chứng trong nhiều giai thoại lịch sử. Và,
trường hợp các cô gái trẻ bỏ nhà bỏ cửa đi
theo anh cung văn là hiện tượng không
hiếm.


Về chuyện này, hãy nghe tác giả Nguyễn