Một số người Việt, bởi chịu ảnh hưởng của văn hóa
Âu Mỹ nên ít mặn mòi với nhạc Việt, cho rằng nhạc
Việt không hấp dẫn bằng nhạc Âu Mỹ, chẳng những
không khuyến khích mà còn không tán thành con em
học nhạc việt với lý do là học cái nhạc nầy không
được người ta trọng vọng , khó sống, bài bản ghi
chép thô sơ không rõ ràng, lối giảng dạy thì là truyền
khẩu truyền ngón khó tiếp thu, còn nhạc Âu Mỹ thì có
nào là hợp âm (accord), hòa âm (harmonie), nhạc
khí bóng láng, trông sang và đẹp, giàn nhạc có người
điều khiển, bài bản ghi chép chính xác, người học có
thể nhìn bản là đàn được, việc giảng dạy có lớp lang
dễ hiểu, dễ học, học nhạc nầy dễ hái ra tiền, có
nhiều hy vọng được xuất ngoại, đi nước nầy nước nọ.
Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo
Theo thiển ý của tôi, Đông hay Tây, âm nhạc vẫn là
sự cấu tạo âm thanh để làm đẹp tai, làm rung cảm
lòng người. Khi cho rằng nhạc nầy hay hơn nhạc kia
là không thực tế. Âm nhạc là sản phẩm của một xã
hội, tiếng nói của một dân tộc. dân tộc nào đã phát
sinh ra nó, nghe nó dĩ nhiên là cảm thấy thấm thía.
Nhìn chung thi trong nhạc Việt cũng có lắm nhạc khúc
sâu sắc tinh vi, nhưng có điều là chưa được khai thác
cho đúng mức, thiếu sáng tạo, kém tổ chức cho có hệ
thống hầu đạt đến cái chân thiện mỹ của nó.
Nhạc Việt nam tương tợ như nhạc truyền thống Ấn
độ, Châu phi. Bài bản chỉ ghi cái sườn. Những yếu tố
khác như là điệu thức, tiết tấu, trường độ, cường độ,
làn hơi, màu âm là dành cho người nhạc sỉ. Giả sử bài
bản được ghi chép ra rõ ràng, việc dạy qua truyền
ngón truyền khẩu vẫn không nên thiếu. Mục đích
chính của ông Thầy là truyền cho học trò cái hồn, cái
tinh thần của bản đàn, không biến học trò thành con
két, chỉ biết nhại lại đúng những gì Thầy truyền dạy.
Nhạc Việt nam và nhạc Âu Mỹ hoàn toàn khác nhau.
Nhạc Âu Mỹ thuộc về nhạc cung (musique tonale).
Nhạc Việt nam thuộc nhạc điệu (musique modale).
Trong cái cung (tonalité) có 2 yếu tố: Âm (ton) và
Điệu (mode) do đó mới có Âm giai trưởng (gamme
majeure), Âm giai thứ (gamme Mineure), và bản
nhạc bắt buộc phải kết thúc bằng chủ âm (tonique)
của nó.
Nhạc Việt nam phương cách sáng tác riêng, kiến trúc
đặc thù, không có Âm giai trưởng Âm giai thứ, bản
đàn không bắt buộc phải kết thúc bằng chủ âm
(tonique).
Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo
Phải nhìn nhận ký âm pháp của Âu Mỹ chính xác,
được nhiều nước trên thế giới áp dụng, nhưng đối với
nhạc Việt nam lối ký âm nầy vấp phải một số bất lợi
như sau:
a. Khi nói chuyện âm nhạc Việt nam với người nước
ngoài, thay vì đọc nốt đàn Hò xự xang xê cống lại đọc
Do ré fa sol la. Người ta sẽ nghĩ gì về một dân tộc
từng rêu rao có bốn ngàn năm văn hóa văn hiến?
b. Mang bản nhạc Âu Mỹ ra để xướng âm theo Hò xự
xang xê cống, và ngược lại, một bản nhạc Việt nam
xướng âm theo Do ré fa sol la sẽ là khô khan, dễ làm
cho người nghe tức cười.
c. Trong bản nhạc Âu Mỹ ví dụ như ghi Do, hay Ré
hay Mi. Nếu những nốt nầy nằm trong bản nhạc Việt
thì, khác với nhạc sĩ Âu Mỹ, người nhạc sĩ Việt nam
không đàn ngay Do, Ré hay Mi, cho rằng đàn như vậy
là khô khan ví như ăn đồ hợp no bụng mà không bổ,
nên đôi khi thích mượn nốt Si tạo ra nốt Do, nốt Do
tạo ra nốt Ré, nốt Ré ra nốt Mi. Đàn như vậy gọi là
đàn nốt “sống”, món ăn tươi.
d. Nhạc Việt nam tương tợ như nhạc Jazz. Người
nhạc sĩ không chỉ là người diễn tấu đơn thuần, mà
còn là người đàn theo kiểu ứng tác ứng tấu. Trong khi
đàn, theo tâm tư tình cảm, tự do vận dụng tài năng,
thêm thắt hoa lá, tô điểm vẽ vời nốt đàn, câu đàn, để
mang lại cho bản của mình đàn một sức sống mới, do
đó một bản đàn, nhạc sĩ đàn qua đàn lại, mỗi lần đều
có vài thay đổi, hay, đẹp khác nhau.
e. Đối với nhạc sĩ Âu Mỹ, họ quan niệm bản đàn
viết ra là một thực thể cố định, bất biến, do đó khi
đàn không dám tự do thêm bớt
f. Bản đàn Việtnam mà ghi chép chính xác như nhạc
Âu Mỹ tức là vô tình triệt tiêu sức sáng tạo của nhạc
sĩ. Họ cho rằng việc quá lệ thuộc vào những gì đã ghi
ra trong bản đàn là cắt đi nguồn cảm hứng của họ,
biến họ thành cái máy thu âm, biến tính chất “động”
của nhạc Viêt nam thành “tịnh”, có xác mà không
hồn.
g. Trong việc giáo dục, thì là giới hạn kiến thức của
nhạc sinh, không giúp chúng tiếp cận với nhạc sư
nhạc sĩ Việt nam khác để học hỏi những cái hay, cái
đẹp từ từng người,
h. Loại bỏ đi những bực thầy giỏi bởi không quen
với lối chép bản đàn theo Do ré mi fa sol.
Luật tiến hóa là luật của văn minh. Con người ngày
càng văn minh, lối suy nghĩ, nếp sống, tâm tư nguyện
vọng, sở thích, đòi hỏi phải có những gì mới lạ, âu đó
cũng là chuyện bình thường.
Âm nhạc cũng không nằm ngoài quy luật thay cũ đổi
mới. Nếu khư khư giữ lại cái xưa thì ấy là giáo điều,
là bảo thủ, là nệ cổ.
Sự nối tiếp giữa quá khứ và hiện tại rất là cần thiết.
Điều nầy không có nghĩa là theo mới nới cũ. Mặc dù
không rập khuông với truyền thống mà vẫn không
tách rời với bản sắc dân tộc.
Nước Việt nam ta có một nền văn hóa lâu đời, một
nền âm nhạc đa dạng và phong phú với nhiều sắc
thái địa phương, hiện đang bị đẩy lùi vào bóng tối bởi
sự xâm nhập của âm nhạc nước ngoài có sức thỏa
mãn nhu cầu ồ ạt đang bộc phát của giới trẻ.
Thắng kẻ địch ở bãi chiến trường, tuy có gian nan,
nhưng hãy còn dễ hơn là trên mặt trận văn hóa. Một
dân tộc mất đi nền văn hóa của chính mình ví như
người có xác mà không hồn, đất nước sớm hay muộn
rồi cũng mất.
Ai ai cũng nhìn nhận nhu cầu tất yếu là bảo tồn, bảo
vệ và gìn giữ kho tàng nghệ thuật dân tộc mà Cha
Ông của chúng ta đã dày công sáng tạo và thể
nghiệm và lưu lại cho chúng ta. Nhưng vấn đề bảo
tồn, hay bảo vệ, sao cho hữu hiệu, thì chỉ thấy nói
qua loa, và thực tế đã cho thấy hiện nay sự hiểu biết
của người Việt của chúng ta, nhứt là giới trẻ rất là mơ
hồ, chưa thấy được cái tầm quan trọng và sự phong
phú của nó.
Nghệ thuật chung, trách nhiệm chung. Mỗi người mỗi
chỗ đúng, mỗi nhận thức, mỗi cách để bảo tồn, bảo
vệ, phát triển. Sự đóng góp của mỗi người, tuy có
khác nhau, nhưng việc làm của mỗi người đều được
đời sao tôn vinh khi nó có được một ý nghĩa nào đó
đối với nghệ thuật dân tộc.
Trong tương quan quốc tế như hiện nay, giao lưu văn
hóa là một trong những nhịp cầu ngắn nhứt để các
dân tộc được gần gủi, người hiểu biết lẫn nhau, học
hỏi lẫn nhau, thương mến kính nể lẫn nhau trên khía
cạnh đặc thù của dân tộc.
Sài gòn, 16-09-2009
NGUYỄN VĨNH BẢO