Vài nét về nghệ thuật Thanh Sắc Việt Nam
27-09-06, 10:59 AM
http://www.danangpt.vnn.vn/news/vh_ddvh/image/vh_ddvh308_1.gif Nghệ thuật thanh sắc là thuật ngữ chúng tôi dùng để chỉ một lĩnh vực bao gồm những loại hình nghệ thuật có liên quan mật thiết với nhau mà phương Tây gọi là ca, múa, nhạc, kịch - nét chung giữa chúng là sự coi trọng thanh và sắc.
1. Vài nét về nghệ thuật Thanh Sắc Việt Nam
Trong ba loại nhạc cụ - bộ gõ, bộ hơi và bộ dây - thì ở Việt Nam , nhạc cụ bộ gõ là phổ biến nhất, đa dạng nhất và có nguồn gốc lâu đời nhất : đàn đá, trống đồng, trống da, trống cái, trống con, trống cơm, cồng/chiêng, chuông lớn, chuông nhỏ, khánh, lệnh, cảnh, tiu, chũm chọe, mõ, phách, sênh tiền, t’rưng,... Phần lớn chúng đều có mặt từ thời Hùng Vương, được ghi khắc trên các loại đồ đồng Đông Sơn. Nhạc cụ bộ hơi - kèn (khèn), sáo, tiêu, klông-pút - tuy ít hơn về số lượng và đơn điệu hơn về chủng loại, nhưng cũng có loại như cái kèn (khèn) đã xuất hiện từ thời Đông Sơn. Nhạc cụ bộ dây tuy xuất hiện muộn hơn (hình nhạc công đánh đàn, thổi sáo, có khắc trên các bệ tượng chùa Phật Tích thời Lí) nhưng khá phong phú về chủng loại : nhị (đờn cò), đàn nguyệt (đờn kìm), đàn nhật, đàn đáy, đàn tranh, đàn tì bà, đàn bầu,...Sở dĩ trong ba loại thì nhạc cụ bộ gõ là loại phổ biến nhất, đa dạng nhất và có nguồn gốc lâu đời nhất vì chúng chính là sản phẩm của nghề trồng lúa nước mà ra : Chúng mô phỏng tiếng sấm và đóng vai trò như những linh khí trong các lề hội cầu mưa, cầu mùa hàng năm. Cũng vì phục vụ cho mục đích cầu mùa, cho nên phần lớn chúng đều gắn liền với tín ngưỡng phồn thực: trống đồng, cồng/chiêng mô phỏng bộ ngực phụ nữ (Lệnh ông không bằng cồng bà), chuông lớn được đánh bằng cách đâm chày vào vú chuông, đàn đá gồm bộ nam phát ra âm trầm và bộ nữ phát ra âm bổng..v.v.Đất nước Việt Nam với ba miền Bắc - Trung - Nam có số lượng các thể loại và làn điệu DÂN CA rất phong phú. Truyền thống thiên về thơ ca của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam đã làm nảy sinh lối ngâm thơ và hát ru đặc biệt (phổ nhạc ca dao và thơ lục bát). Hát trợ giúp trong khi làm việc thì có hò ( hô lên) : Nhịp điệu của âm nhạc và nội dung của lời ca giúp cho con người cảm thấy công việc nhẹ đi phần nào. Đối với người Việt Nam sống ở một vùng sông nước, thì hò còn được phân biệt thành hò cạn (hò kéo gỗ, hò dệt vải, hò xay lúa, hò giã gạo, hò tát nước, hò cấy ) và hò nước ( hò rời bến, hò cập bến, hò mắc cạn, hò chống sào, hò kéo lưới, hò mái nhì, hò mái đẩy, hò chèo thuyền, hát đò đưa,...). Ca dao có câu : Trai khôn tránh khỏi vợ thừa - Gái khôn tránh giọng đò đưa mới là .Hát lúc nhàn rỗi, nghỉ ngơi thì ở miền Bắc có hát quan họ (Bắc Ninh), hát xoan (Phú Thọ), hát đúm (Hưng Yên), hát ví, hát giặm (Nghệ Tĩnh); miền Trung có ca Huế, hát bài chòi, miền Nam có các điệu lí. Ngoài ra, ở nông thôn còn có trống quân là điệu hát giao duyên, xẩm là điệu hát rong của những người mù, chầu văn (hát bóng) là điệu hát tôn giáo. Trong tầng lớp trí thức thì phổ biến lối hát ca trù (còn gọi là hát ả đào, hát cô đầu, hát nhà tơ, hát nhà trò) .
Trong nghệ thuật SÂN KHẤU cổ truyền có chèo là loại hình hết sức phổ biến trong đông đảo nhân dân vùng đồng bằng và trung du miền Bắc; vào các dịp hội hè đình đám ở nông thôn không bao giờ thiếu tiếng trống chèo. Phổ biến không kém chèo là tuồng (miền Nam gọi là hát bội). Tuồng có hai loại: tuồng thầy (còn gọi là tuồng pho) phổ biến trong tầng lớp thượng lưu (vua quan) và tuồng đồ phổ biến trong dân chúng. Tuồng đồ khá gần với chèo. Rối nước cũng là một loại hình sân khấu truyền thống hết sức đặc sắc, phổ biến từ thời Lí.
http://www.danangpt.vnn.vn/news/vh_ddvh/image/vh_ddvh308_5.jpg
Cảnh hát bội
Đây là nền nghệ thuật của những người nông dân quen ngâm bùn lội nước trồng nên cây lúa. Trên mặt ao dựng lên một ngôi nhà nhỏ gọi là Thủy đình làm hậu trường (buồng trò) cho người điều khiển, phía trước có mành che. Rối nước có hai hậu trường: sau mành để giấu diễn viên và dưới nước để giấu kĩ thuật (sào, dây, ròng rọc). Mặt nước trở thành sân khấu cho con rối diễn trò, còn bờ ao làm chỗ chứa người xem.Đầu thế kỉ XX, nghệ thuật sân khấu phương Tây thâm nhập ngày càng mạnh vào Việt Nam. Cùng với sự xuất hiện của kịch nói như một loại hình nghệ thuật sân khấu Âu Tây hoàn toàn, ở Nam Bộ hình thành cải lương như một sản phầm của trào lưu cải cách nghệ thuật hát bội theo hướng bổ sung những yếu tố của sân khấu phương Tây. Cùng với nghệ thuật cải lương là sự ra đời của điệu ca vọng cổ nổi tiếng
2. Tính biểu trưng của nghệ thuật thanh sắc Việt Nam
Giống như nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật hình khối, nghệ thuật thanh sắc Việt Nam cũng có tính biểu trưng như một nét dặc thù tiêu biểu nhất : Mục đích của nghệ thuật ở đây là thông qua những biểu tượng để nhằm diễn đạt nội dung chứ không phải hình thức, cái cốt lõi chứ không phải các chi tiết phụ trợ. Điều này khác hẳn với truyền thống nghệ thuật phương Tây đi theo con đường tả thực: Trong nghệ thuật thanh sắc, từ cách hóa trang, đạo cụ, cho đến diễn viên, sân khấu phương Tây đều cố gắng tả sao cho sự việc xảy ra trên sàn diễn càng giống sự thực ngoài đời càng tốt.Giống như trong nghệ thuật ngôn từ, tính biểu trưng, trong NGHệ THUậT THANH Sắc Việt Nam thể hiện trước hết ở nguyên lý đối xứng, hài hòa. Sự cân xứng, hài hòa này thể hiện rõ rệt nhất trong nghệ thuật múa. Nghệ thuật múa Việt Nam tuân thủ luật âm dương rất chặt chẽ. Đội hình múa phổ biến là các đội hình hình tròn và vuông. Quan niệm về cái đẹp của người Việt múa nói chung và múa tuồng chèo nói riêng xây dựng trên cơ sở những mối tương quan cặp đôi giữa các bộ phận của cơ thể, các phần của động tác:Thượng hạ tương phù : động tác phải có trên có dưới, có gốc có ngọn, có đầu có đuôi, có tiến có lùi,... - các bộ phận này phải phù hợp với nhau tạo nên một chỉnh thể;Tả hữu tương ứng : động tác phải có phải có trái, có trước có sau,... - các phía này phải ứng với nhau tạo nên một sự hài hòa;Phì sấu tương chế : sự hài hòa còn được tạo nên bởi sự tương phản giữa động tác rộng và hẹp, dày và mỏng; Nội ngoại tương quan : phải có sự tương quan giữa nội tâm và ngoại hình của nhân vật, giữa múa với hát, giữa con người với thế giới thiên nhiên xung quanh.Tính biểu trưng trong nghệ thuật thanh sắc Việt Nam còn được thực hiện bằng thủ pháp ước lệ, chỉ dùng một bộ phận, một chi tiết để gợi cho người xem nghĩ đến, hình dung ra sự thực ngoài đời. Trong âm nhạc, trong khi phương Tây phải dùng tới cả một dàn hợp xướng và dàn nhạc giao hưởng đồ sộ thì âm nhạc cổ truyền Việt Nam chỉ cần một bộ trống với vài ba nhạc công (nhị, sáo, đàn,...) là đã có thể tạo nên mọi âm thanh của cuộc sống. Trên sân khấu, trong khi người diễn viên phương Tây phải đánh nhau cật lực thì diễn viên Việt Nam chỉ cần múa vài đường gươm, rồi một người kẹp kiếm của đối phương vào nách là người xem đã hiểu ngay rằng các nhân vật đã chiến đấu rất gay go, đối thủ đã bị đâm trúng tim. Đó cũng là lúc kẻ chiến bại, kiếm vẫn kẹp trong nách, tiến ra giữa sân khấu cất lên tiếng hát lâm li để giãi bày tâm sự ! Bằng những động tác ước lệ với một cái roi, diễn viên có thể làm cho người xem hình dung dược dễ dàng cảnh cưỡi ngựa; với một mái chèo để hình dung cảnh đi thuyền; với một vòng tròn đề hình dung cảnh vượt hàng trăm dặm dường xa,...Tính biểu trưng ước lệ trong nghệ thuật thanh sắc còn được thực hiện một cách xuất sắc bằng thủ pháp mô hình hóa. Trong tuồng các nhân vật được phân thành các loại gọi là đào, kép, lão, mụ, vua, quan, tướng, soái ....Đào chia thành đào chiến là những nữ tướng cầm quân ra trận; đào thương là những có gái gặp nhiều đau khổ; đào lẳng là những cô gái ong bướm lẳng lơ (như Thị Màu); đào cảnh là những cô gái nhàn hạ loại tiều thư, công chúa,... Kép được chia theo cách vẽ mặt thành kép đỏ là những anh hùng trung dũng văn võ kiêm toàn, kép đen là những hảo hán bộc trực (như Hớn Minh trong vở Lục Vân Tiên): kép xanh là những hào kiệt nơi rừng núi, kép màu da cam là người vùng sông nước, kép xéo (có hố mắt vẽ xéo ngược hai bên tới mang tai) là người có sức mạnh phi thường, kép rằn ri là loại người đáng sợ nơi biên thuỳ (như Từ Hải), kép trắng đỏ lốm đốm là kẻ lòng dạ phản trắc, tráo trở, kép có vệt đỏ ở mang tai là kẻ nóng nảy, bộp chộp. Lông mày, bộ râu cũng là những mô hình nói lên tính cách nhân vật : mày lưỡi mác là kẻ anh hùng; mày nhọn mũi dùi là kẻ nham hiểm; mày viền nét đỏ là kẻ nóng tính; râu quai nón lởm chởm là kẻ có sức mạnh; râu năm chòm dài là người trung dũng; râu ba chòm dài là người đôn hậu; râu chuột, râu dê là kẻ hèn hạ, ti tiện; râu cáo là kẻ quỷ quyệt ranh ma,... Loại hình cải lương xuất hiện vào những năm 20 của thế kỷ XX ở Nam Bộ – nơi chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây sớm nhất - là sản phẩm của sự giao lưu văn hóa, nó đã kết hợp được nghệ thuật biểu trưng của hát bội truyền thống với nghệ thuật tả thực của sân khấu phương Tây : Hát được giảm bớt, nhường chỗ cho nói thường; các điệu bộ có tính ước lệ trong diễn xuất được giảm bớt nhường chỗ cho các động tác giống thực ngoài đời; vai trò phông cảnh, đạo cụ được chú trọng hơn. Hát bị thu hẹp về lượng, nhưng lại được nâng cao về chất nhờ sự xuất hiện của làn điệu vọng cổ. Vọng cổ luôn dược dùng ở những lớp gay cấn nhất và cảm động nhất, nó được hát chậm rãi, rõ ràng, minh bạch, rất thích hợp cho việc bộc lộ nội tâm, thuyết phục, van nài, tranh luận,...Từ Nam Bộ, cải lương, và cùng với nó là vọng cổ, đã có mặt ở khắp đất nước, ở đâu cũng được hoan nghênh; và đào kép được hoan nghênh nhiều nhất chính là ở tài hát vọng cổ. Điều này cho thấy ảnh hưởng phương Tây chỉ có thể hỗ trợ, bổ sung chứ không thể lấn át hoặc thay thế truyền thống văn hóa dân tộc được.Đến đây, một câu hỏi tất yếu đặt ra là : Tính biểu trưng có mặt như một nguyên lí cơ bản trong truyền thống của mọi loại hình nghệ thuật Việt Nam- từ nghệ thuật ngôn từ đến nghệ thuật thanh sắc, hình khối; cũng như vậy, nguyên lí tả thực quán xuyến mọi loại hình nghệ thuật truyền thống phương Tây - từ nghệ thuật thanh sắc, hình khối đến nghệ thuật ngôn từ. Đó là một sự kiện ngẫu nhiên hay là một quy luật ?
Hiển nhiên, mọi nghệ thuật đều bắt nguồn từ thực tế cuộc đời. Về nguyên tắc, thực tế phản ánh vào nghệ thuật thường phải bắt đầu từ dạng sao chép rồi dần dần từ đó mới tạo ra những mô hình, những biểu tượng. Quan sát cho thấy rằng, ở Việt Nam, vào giai đoạn đầu Đông Sơn đã từng tồn tại cả hai khuynh hướng : tả thực và biểu trưng. Nhưng ngay từ thời đó, khuynh hướng biểu trưng đã có chiều hướng lấn át tả thực (các kiểu chim, thuyền,v.v. khắc trên trống đúng theo lối biểu trưng nhiều hơn, phong phú hơn số vẽ theo lối tả thực). Điều đó cho thấy tả thực hay biểu trưng rõ ràng không phản ánh trình độ phát triển của văn minh; có lẽ đúng hơn là nó phản ánh đặc trưng loại hình của văn hóa. Ta có thể giải thích hiện tượng này như sau :Mọi nghệ thuật đều phản ánh khát vọng của con người vươn tới một cái gì khác với cái mà người ta đang sống. Loại hình văn hóa gốc du mục do trong cuộc sống thường ngày coi thường và chế ngự thiên nhiên nên trong nghệ thuật bộc lộ khát vọng trở về với tự nhiên. Loại hình văn hóa gốc nông nghiệp do thường ngày sống hoà hợp với thiên nhiên nên trong nghệ thuật bộc lộ khát khao thoát khỏi tự nhiên trong chốc lát để vuơn tới cái biểu trưng ước lệ .
3. Tính biểu cảm, tính tổng hợp và tính linh hoạt của nghệ thuật Thanh Sắc Việt Nam
Bên cạnh tính biểu trưng, nghệ thuật thanh sắc Việt Nam với tính cách là sản phẩm của một nền văn hóa nông nghiệp trọng âm còn mang TÍNH BIỂU CẢM cao độ. Âm nhạc và các làn điệu dân ca Việt Nam đều mang đậm chất trữ tình với nhịp điệu chậm và chú trọng luyến láy, âm sắc trầm,... gợi nên tình cảm quê hương với những nỗi buồn man mác,... Sự ra đời của điệu ca vọng cổ được nhiều người ưa thích cho thấy tính biểu cảm, chất trữ tình vẫn là một truyền thống mạnh mẽ của người Việt Nam.Không chỉ âm nhạc và dân ca, mà cả múa cũng không ầm ĩ, ồn ào. Múa của người Việt không có những động tác mạnh mẽ nhảy cao, nhảy dài, những bước xoạc cẳng rộng, những động tác quay tròn cho áo váy tung lên như ở phương Tây. Ngược lại, phổ biến là những đường nét tròn trĩnh, uốn lượn mềm mại, không gãy góc, đôi chân khép kín,.. .
Nét phổ biến trong múa nữ còn là sự kín đáo, tế nhị - kín đáo tế nhị trong cách ăn mặc; kín đáo tế nhị trong động tác : động tác che nửa mặt bằng chiếc quạt, bằng chiếc nón quai thao.. Khác với các dân tộc gốc du mục thiên về múa chân, người Việt nông nghiệp múa tay là chính.Sân khấu Chèo gần gũi với cuộc sống nông thôn, tính biếu cảm của nó thể hiện ở chỗ vai trò của người phụ nữ luôn được nhấn mạnh và tô đậm : từ bi như Thị Kính, lẳng tính như Thị Mầu (chèo Quan Âm Thị Kính ); hiếu thảo như Thị Phương (chèo Trương Viên); tiết hạnh như Châu Long (chèo Lưu Bình Dương Lễ) ; si tình và phụ bạc như Súy Vân ( chèo Ki m Nhan ) , . . .Tính Tổng Hợp của văn hóa nông nghiệp Việt Nam cũng bộc lộ rõ nét trong nghệ thuật thanh sắc.Khác với sân khấu phương Tây, trong sân khấu truyền thống Việt Nam không hề có sự phân biệt các loại hình ca, múa, nhạc - tất cả đều có mặt đồng thời trong một vở diễn, một đêm diễn, một đoạn diễn.
http://www.danangpt.vnn.vn/news/vh_ddvh/image/vh_ddvh308_4.jpg
hát quan họ
Không phải ngẫu nhiên mà người Việt Nam có cách nói tưởng chừng phi lí : xem hát chèo, xem hát tuồng, xem hát bội. Đây chính là cách nói tổng hợp để diễn đạt một khái niệm tổng hợp về một nền nghệ thuật tổng hợp có cả xem (diễn) và nghe (hát). Sân khấu truyền thống Việt Nam là sự tổng hợp của mọi thể thơ, mọi loại văn, mọi điệu hát, mọi phong cách ngôn ngữ - từ thơ, văn, phú cho đến ăn lối nói bằng văn xuôi và khẩu ngữ dân gian. Tất cả luôn đan xen vào nhau như trong thực tế ngoài đời .Sân khấu truyền thống Việt Nam còn tổng hợp các thể loại bi, hài..., trong khi sân khấu phương Tây phân biệt rành mạch từng thể loại. Trong tuồng chèo không bao gìơ thiếu yếu tố hài : ở đó luôn có mặt các vai hài như hề mồi, hề gậy..., có những nhân vật không phải hề nhưng cũng thường xuyên gây cười như thầy bói, thầy cúng...Trong vở chèo Quan Âm Thị Kính, không có gì bi hơn là cuộc đời của Thị Kính, nhưng cũng không có gì hài hơn những cảnh Thị Mầu lên chùa, xã trưởng - mẹ Đốp,... Người xem khóc đấy rồi lại cười ngay đấy. Tất cả luôn đan xen vào nhau như trong thực tế ngoài dời.Việt Nam còn có những thứ nhạc cụ hết sức đặc biệt như cây đàn bầu. Đặc biệt, vì một mình nó tổng hợp đủ cả ba đặc trưng quan trọng của văn hóa Việt Nam là tính tổng hợp, tính linh hoạt, và tính biểu cảm : Tổng hợp, bởi vì, xét về mặt sản phẩm âm nhạc, đàn bầu chỉ có một dây mà cho ra đủ mọi cung bậc, mọi âm thanh. Linh hoạt, bởi vì đàn bầu chơi theo cách tay phải dùng cái nạy mà gảy vào dây, tay trái cầm cần dàn mà rung, ghìm,... để điều khiển âm thanh : tay phải động, tay trái tĩnh; tay phải dương, tay trái âm - hai tay âm dương phối hợp một cách linh hoạt tạo nên những âm thanh, những cung bậc hài hòa tới mức tuyệt vời theo ý muốn. Biểu cảm, bởi vì đàn bầu thích hợp hơn cả để thể hiện những cảm xúc âm tính, nó phản ánh chính xác tâm hồn Việt Nam : Đàn bầu ai gảy nấy nghe - Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu ! Nghệ thuật Việt Nam còn bộc lộ rõ TÍNH LINH HOẠT của văn hóa nông nghiệp. Nhờ thủ pháp biểu trưng ước lệ mà nghệ thuật thanh sắc Việt Nam có thể đưa lên sân khấu bất cứ cái gì - từ cảnh người đàn bà trở dạ đẻ cho đến con voi. Âm nhạc truyền thống không đòi hỏi mọi nhạc công chơi giống hệt nhau. Chỉ cần bắt đầu và kết thúc giống nhau và chơi đúng theo hơi quy định (ví dụ bắt đầu bằng chữ "xang", kết thúc bằng chữ "xê" theo hơi Nam hay hơi Xuân), còn ở các phách giữa thì mỗi nghệ nhân có thể bộc lộ hết tài năng của mình. Sân khấu truyền thống không đòi hỏi diễn viên tuân thủ chặt chẽ bài bản của tích diễn. Nắm vững cái thần của vở, người nghệ nhân tùy trường hợp có thể biến báo lời diễn cho thích hợp. Tới nơi thích nghe hát thì cho thêm làn điệu này, câu hát nọ, tới nơi thích hài thì vai hề cài thêm những câu pha trò hợp với tình hình địa phương,... Chính sự linh hoạt này là lí do cắt nghĩa tại sao một bản nhạc, một tích tuồng chèo của ta thường có nhiều dị bản.Tính linh hoạt còn thể hiện ở sự giao lưu mật thiết giữa sân khấu với người xem . Sàn diễn thường là bốn manh chiếu giữa sân đình. Khác với phương Tây muốn tạo ra ảo giác thực nên phải đẩy người xem ngồi ra xa, sân khấu biểu trưng Việt Nam công khai coi mọi thứ trên sàn diễn đều là ước lệ nên để cho người xem ngồi vây kín sát tận mép chiếu. Người xem có thể bình phẩm khen chê hoặc chen vào những câu ngẫu hứng mà người diễn phải có phản ứng thích hợp. Quan hệ "diễn viên - khán giả" ở văn hóa nông nghiệp rõ ràng là mang tính dân chủ hơn nhiều so với quan hệ diễn viên - khán giả" ở các nền văn hóa phương Tây.
http://www.danangpt.vnn.vn/news/vh_ddvh/image/vh_ddvh308_3.jpg
Nghệ thuật Chèo
Điều này dẫn đến sự hình thành một loại lời thoại đặc biệt trong sân khấu cổ truyền là tiếng đế. Nếu lời của người xem đế vào ngẫu hứng đúng chỗ quá, hay quá, thì lần diễn sau sẽ có những người xem khác bắt chước nói lại, lâu dần thành thói quen cứ đến đoạn đó lại có câu đó từ bên ngoài (có thể là của bạn diễn từ buồng trò) nói vọng vào. "Tiếng đế" trở nên mang tính nước đôi : nó vừa là tiếng nói của người xem ở ngoài vở diễn, lại vừa là một bộ phận của vở diễn. Với tư cách của người xem, thấy chỗ nào thắc mắc thì hỏi, chỗ nào vô lý thì bác lại, chỗ nào đáng cười thì cứ việc châm biếm, mỉa mai,...Tiếng đế làm cho không khí của vở diễn trở nên uyển chuyển linh hoạt - đang bi chuyển thành hài, đang nghiêm trang chuyển thành **a cợt.Sự giao lưu của sân khấu với người xem còn thể hiện ở vai trò của người cầm chầu. Phường chèo, phường tuồng đến diễn ở một làng nào, làng đó sẽ cử ra một người cầm chầu, ngồi sát chiếu diễn với chiếc trống chầu trong tay, giữ chịch cho đêm hát. Đó phải là người sành nghệ thuật, thuộc nhiều tích, biết nhiều làn điệu để đại diện cho dân làng nói lên tiếng nói đánh giá thưởng phạt khen chê. Việc cầm chịch và khen chê thưởng phạt được thể hiện qua tiếng trống chầu. Trong trường hợp đặc biệt, người cầm chầu có thể cho hiệu lệnh đuổi diễn viên khỏi chiếu diễn, bác Thơ phải đưa người khác thế vào...Sự giao lưu của sân khấu với người xem còn bộc lộ trong múa rối nước. ở đây có những con rối chuyên lo việc giao lưu với khán giả (điển hình là nhân vật chú Tễu) : đi mời khán giả ăn trầu, dẹp trật tự, giáo trò, khép trò,...Lại cũng do kỹ thuật trên nước phức tạp, dễ xảy ra tình huống bất ngờ nên diễn viên rối nước thường có khả năng rất cao trong việc ứng diễn, ứng tác một cách linh hoạt.
GS-TS Trần Ngọc Thêm