KHÔNG GIAN VĂN HÓA - CÁC CHỨC NĂNG VĂN HÓA XÃ HỘI & NHỮNG HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA NGHỆ THUẬT CA TRÙ
PHẦN I_ TÊN GỌI VÀ Ý NGHĨA
Nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc: Bùi Trọng Hiền
Trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, không một thể loại âm nhạc nào lại có tính đa diện như nghệ thuật Ca trù. Trải theo dòng chảy của thời gian, tùy theo từng không gian văn hóa hay chức năng xã hội phối thuộc mà loại hình nghệ thuật này mang những tên gọi với nhiều ý nghĩa khác nhau. Căn cứ vào các nguồn sử liệu, có thể thống kê một số tên gọi phổ biến như sau:
+Hát ả đào:
Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên : Đời vua Lý Thái Tổ (1010-1028) có người ca nương tên là Đào Thị giỏi nghề ca hát, thường được nhà vua ban thưởng. Người thời bấy giờ ngưỡng mộ danh tiếng của Đào Thị nên phàm con hát đều gọi là Đào nương.
Sách Công dư tiệp ký viết rằng cuối đời nhà Hồ (1400-1407) có người ca nương họ Đào, quê ở làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, lập mưu giết được nhiều binh sĩ nhà Minh, cứu cho khắp vùng yên ổn. Khi nàng chết dân làng nhớ thương lập đền thờ, gọi thôn nàng ở là thôn Ả đào. Về sau những người làm nghề ca hát như nàng đều gọi là ả đào.
Trên sử liệu, những sự kiện về một ca nương nổi tiếng chứng tỏ nghề nghiệp của bà vào thời điểm lịch sử đó đã được phổ biến như thế nào trong xã hội. Theo đó, Ả đào được coi là tên gọi cổ xưa nhất của thể loại âm nhạc Ca trù.
+Hát ca trù:
Theo sách Ca trù bị khảo : ở cửa đền ngày xưa có lệ hát thẻ. Thẻ gọi là Trù, làm bằng mảnh tre ghi mức tiền ứng với giá trị mỗi thẻ, dùng để thưởng ả đào thay cho tiền mặt. Khi hát, quan viên thị lễ chia ngồi hai bên, một bên đánh chiêng (cồng) và một bên đánh trống. Chỗ nào ả đào hát hay, bên trống thưởng một tiếng chát, bên chiêng đánh một tiếng chiêng rồi thưởng cho một cái trù. Đến sáng đào kép cứ theo trù thưởng mà tính tiền, ví dụ được 50 trù, mà trị giá mỗi trù ấn định là 2 tiền kẽm thì làng phải trả cho 10 quan tiền. Vì thế hát ả đào còn được gọi là Ca trù, nghĩa là hát thẻ.
Có thể nói, tên gọi Ca trù thể hiện rõ tính thương mại của một loại hình nghệ thuật - tức loại hình này đã đạt tầm nghệ thuật cao để trở thành một giá trị hàng hóa trong đời sống xã hội. Theo các nghệ nhân cho biết, việc thưởng thẻ không chỉ giành riêng cho đào nương mà còn để thưởng cả cho kép đàn. Tuy nhiên, thường thì người ta vẫn coi đào nương là nhân vật chính. Có lẽ đây là đặc điểm xuất phát từ thói quen trọng nhạc hát hơn nhạc đàn của người Việt. Lệ tính tiền thù lao bằng thẻ chủ yếu sử dụng trong hình thức sinh hoạt Hát cửa đình. Còn trong các hình thức sinh hoạt khác, người ta thường tính tiền công cho đào kép dưới dạng trọn gói theo sự thỏa thuận trước - gọi là hát khoán. Theo đó, có thể coi Ca trù là tên gọi bắt nguồn từ sinh hoạt Hát cửa đình.
+Hát cửa quyền:
Đây là hình thức sinh hoạt nghệ thuật Ca trù trong các nghi thức của cung đình thời phong kiến. Theo Phạm Đình Hổ : Hát Ca trù đời nhà Lê ở trong cung gọi là Hát cửa quyền. Triều đình cắt cử hẳn một chức quan để phụ trách phần lễ nhạc trong cung, gọi là quan Thái thường. Hát cửa quyền được dùng vào các dịp khánh tiết của hoàng cung.
+Hát cửa đình:
Đây là hình thức sinh hoạt Ca trù phục vụ cho nghi thức tế lễ thần thánh ở các đình hay đền làng. Trên thực tế, người ta còn mượn không gian đình đền để tổ chức hát Ca trù với mục đích giải trí đơn thuần. Song, hát tế lễ vẫn là hình thức được coi trọng hơn với cả một trình thức diễn xướng tổng hợp kéo dài. Bởi vậy, thuật ngữ Hát cửa đình vẫn được sự dụng với hàm ý chỉ loại âm nhạc Ca trù mang chức năng nghi lễ tín ngưỡng nơi đình (đền) làng.
+Hát nhà trò:
Trong trình thức Hát cửa đình, bên cạnh âm nhạc bao giờ cũng có sự kết hợp của nghệ thuật múa và một số trò diễn mang tính sân khấu. Người ta gọi đó là "bỏ bộ". Ả đào miệng hát tay múa uốn éo lên xuống, làm bộ điệu người điên, người say rượu, người đi săn... Vì vừa hát vừa làm trò nên gọi là Hát nhà trò . Cách gọi này phổ biến ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Như vậy, Hát nhà trò cũng là thuật ngữ xuất phát từ hình thức phục vụ nghi lễ, tín ngưỡng.
+Hát nhà tơ:
So với các tên gọi khác của nghệ thuật Ca trù, Hát nhà tơ là một thuật ngữ ít phổ biến. Theo Việt Nam ca trù biên khảo , thời xưa, "dân chúng ít khi tìm ả đào về nhà hát chơi, chỉ các quan khi yến tiệc trong dinh hay trong ty (tơ - ngày xưa dinh Tuần phủ gọi là Phiên ty, dinh án sát gọi là Niết ty) mới tìm ả đào tới hát. Vì thế hát ả đào còn được gọi là Hát nhà tơ, nghĩa là hát ở trong ty quan" . Như vậy, cách gọi này xác định hình thức sinh hoạt phục vụ nhu cầu giải trí của nghệ thuật Ca trù trong môi trường các nhà quan lại. Tuy nhiên, cũng trên ý nghĩa ty là tơ thì Hát nhà tơ còn có thể được hiểu theo nghĩa khác. Theo Phạm Đình Hổ , đời Hồng Đức (1470 - 1497) nhà Lê, Ty giáo phường là một thiết chế do triều đình sắp đặt để trông coi âm nhạc chốn dân gian. Về sau, khái niệm này còn được dùng phổ biến ở thế kỷ 17, 18 trong các văn bia, khế ước. Và như thế, khái niệm Hát nhà tơ - Hát nhà ty rất có thể chỉ là cách "diễn nôm" phiếm chỉ loại âm nhạc của Ty giáo phường mà thôi.
+Hát cô đầu:
Theo Việt Nam ca trù biên khảo , chữ ả nghĩa là cô, ả đào nghĩa là cô đào. Theo Ca trù bị khảo : "Những ả đào danh ca dạy con em thành nghề, mỗi khi đi hát đình đám bọn con em phải trích ra một món tiền để cung dương thầy gọi là tiền Đầu. Sau người ta dùng tiếng cô thay tiếng ả cho rõ ràng và tiếng đầu thay tiếng đào để tỏ ý tán tụng là bậc danh ca lão luyện đã dạy nhiều con em thành tài và được tặng nhiều món tiền đầu nên gọi là Cô đầu". Tên gọi này của nghệ thuật Ca trù chính là sự phản ánh phần nào nhu cầu "Nôm hóa" ngôn ngữ, đồng thời phản ánh một luật tục của giới nghề, đó là việc trọng thầy và phụng dưỡng thầy. Trong lịch sử của nghệ thuật Ca trù, có lẽ đây là tên gọi xuất hiện muộn hơn cả và được giới thị thành biết đến nhiều hơn - trước khi thể loại này biến mất khỏi đời sống xã hội vào cuối thập niên 50 của thế kỷ 20.
+Hát ca công:
Theo Vũ trung tùy bút : Cho đến cuối thời Lê, ca công là danh từ được dùng để chỉ các nghệ sĩ chốn giáo phường. Theo đó, Hát ca công hàm ý là âm nhạc Giáo phường. Như thế tên gọi này chính là sự chuyển hóa của một danh từ chỉ nghề nghiệp thành một danh từ chỉ thể loại. Điều đó đã đủ để chứng minh vai trò quan trọng của thể loại âm nhạc này trong đời sống xã hội của cả một giai đoạn lịch sử. Nói cách khác, Hát ca công thời xưa là một thể loại rất phổ biến, bao trùm khắp nơi chốn, phường hội của những nhạc sĩ dân gian chuyên nghiệp. Sự phổ biến đạt đến mức người ta gọi luôn loại âm nhạc mà các nghệ sĩ thực hành bằng chính danh người nghệ sĩ.
Cũng qua Vũ trung tùy bút, có thể thấy rằng danh từ ca công thời xưa rất thông dụng ở khắp các vùng miền Bắc. Thế nhưng về sau, tên gọi Ca công lại chỉ được dùng phổ biến ở Thanh Hóa. Điều đó có nghĩa trải theo năm tháng, thuật ngữ cổ xưa này đã "biến mất" khỏi đồng bằng Bắc Bộ - trung tâm văn hóa của Đại Việt và được lưu giữ tại vùng ngoại biên. Điều đặc biệt, vùng ngoại biên này lại vốn là một trong những cái nôi của nghệ thuật Ca trù. Hơn thế nữa, đây cũng là quê hương của 9 đời vua chúa Việt Nam. Những dữ kiện đó cho thấy nghệ thuật Ca trù đã từng chiếm giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong lịch sử âm nhạc dân tộc.
Như vậy, các tên gọi khác nhau của nghệ thuật Ca trù được hình thành theo mấy nguyên tắc sau:
+Danh từ chỉ người nghệ sĩ thực hành âm nhạc được dùng như danh từ chỉ thể loại: Hát ả đào, Hát ca công.
+Tên gọi thể loại xuất phát từ địa điểm, không gian văn hóa sinh hoạt: Hát cửa quyền, Hát cửa đình và Hát nhà tơ.
+Tên gọi thể loại gắn với danh từ phiếm chỉ chế độ "tiền bảo hiểm" cho đào nương lão thành: Hát cô đầu. Đồng thời, cô đầu cũng là danh từ chỉ người ca nương giống như chữ ả đào.
+Tên gọi thể loại xuất phát từ hành động diễn xướng sân khấu: Hát nhà trò.
+Tên gọi thể loại hình thành từ danh từ chỉ phương thức chi trả thù lao nghệ thuật cho đào kép: Hát ca trù.
Có thể nói, bản thân các tên gọi khác nhau của nghệ thuật Ca trù đã cho thấy đây là một thể loại âm nhạc rất đặc biệt. Trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, không có một thể loại nào lại mang nhiều tên gọi như vậy. Mỗi tên gọi lại hàm ý sâu sa những không gian văn hóa, những chức năng xã hội và những hình thức biểu hiện khác nhau của nghệ thuật Ca trù. Chỉ mới thông qua những tên gọi đó, chúng ta đã có thể tìm thấy biết bao hình ảnh chân thực và sống động của lịch sử.
3.1 Ca trù cung đình (Hát cửa quyền)
Thời xưa, hình thức biểu hiện này được coi là danh giá nhất của nghệ thuật Ca trù. Ở một mặt nào đó, Hát cửa quyền sẽ được xem như một bộ phận của thiết chế âm nhạc quân chủ. Mặt khác, căn cứ vào sử liệu, hình thức nghệ thuật Ca trù cung đình chủ yếu được sử dụng vào các dịp khánh tiết. Điều đó có nghĩa loại hình âm nhạc này xuất hiện khá thường xuyên trong đời sống hàng ngày ở cung đình. Đặc biệt từ thời Quang Hưng (1578 - 1599) , khi tục nhạc lấn lướt Đồng văn, Nhã nhạc cung đình thì có thể tưởng tượng Ca trù sẽ được ưa chuộng đến như thế nào trong cung vua, phủ chúa.
Theo Vũ trung tùy bút , Hát cửa quyền tiếng "uyển chuyển, dịu dàng, thanh nhã hơn giọng hát ở ngoài chốn giáo phường. Nhưng âm luật cũng không khác mấy". Dàn nhạc bao gồm các nhạc cụ:
+Trúc sinh (tục gọi đàn khô) - để cầm nhịp.
+Đàn cầm - căng dây thép dài giống như đàn sắt.
+Đàn chín dây (tục gọi đàn cửu huyền).
+Đàn bảy dây (tục gọi đàn thất huyền).
+Đàn tranh 15 dây... hòa với các thứ tiếng nhạc khác gọi là bát âm.
Như thế, dàn nhạc Ca trù cung đình bao gồm 4 nhạc khí họ dây chi gảy và một nhạc khí tiết tấu họ tự thân vang. Việc đề cao các nhạc khí định âm họ dây chứng tỏ thị hiếu chuộng giai điệu nhạc đàn và nhạc hát chốn cung đình. Bởi cường độ của dàn nhạc họ dây luôn "vừa tầm", không lấn át tiếng hát. Có thể sự đề cao hệ thống các nhạc khí họ dây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự "uyển chuyển, dịu dàng, thanh nhã" của Ca trù cung đình .
Mặt khác, căn cứ vào dàn nhạc đã nêu, có thể thấy rằng chốn cung đình tỏ ra chuộng "hàng ngoại" với hệ thống nhạc cụ nguồn gốc Trung Quốc. Đây là điều dễ hiểu bởi nó phù hợp với việc Đồng văn, Nhã nhạc cung đình vốn cũng mô phỏng theo kiểu mẫu Bắc quốc.
3.2 Ca trù dân gian
Theo Vũ trung tùy bút , khác với Ca trù nơi cung đình, Ca trù chốn dân gian có các nhạc cụ sau:
+Trường cùng (cái phách dài) - làm bằng tre già, hình dẹp giống chiếc đòn gánh, dài độ ba bốn thước ta (70 - 90cm); Trường cùng do một ả đào già gõ để giữ nhịp cho cả dàn nhạc.
+Trúc địch (tục gọi sáo ngang).
+Yêu cổ (tục gọi trống cơm).
+Địch quản (tục gọi quyển thủy - tiêu).
+Đới cầm (tục gọi đàn đáy - 16 phím) - kép buộc dây điều đeo đàn gảy.
+Phách (tục gọi sinh) - ả đào đánh.
+Phách quán tiền (tục gọi sinh tiền) ả đào đánh.
+Đan diện cổ (cái trống mảnh một mặt) - thường được ả đào dùng như một âm sắc tín hiệu khai màn cuộc hát và đệm cho múa.
Có thể thấy, biên chế dàn nhạc Ca trù cho đến giai đoạn này vẫn ở dạng hình tương đối phức tạp với sự góp mặt của khá nhiều nhạc cụ. Vai trò "mụ già" - đã bộc lộ rõ vị thế của một danh ca cao niên trong giáo phường - cầm nhịp cho bọn con cháu trong diễn xướng. Ở đây, chỉ có duy nhất một nhạc cụ họ dây (đàn đáy), đề cao hệ thống các nhạc cụ tiết tấu (trống phách các loại) với sự đi kèm của 2 loại sáo. Trong khi đó, dàn nhạc Ca trù cung đình lại chỉ có duy nhất một nhạc khí tiết tấu (trúc sinh) để cầm nhịp, đề cao các nhạc khí họ dây và không dùng các nhạc cụ họ hơi như Ca trù dân gian. Như thế, thị hiếu Ca trù chốn dân gian vẻ như ham thích sự "khỏe khoắn" của cường độ âm thanh dàn nhạc trong khi chốn cung đình lại ưa chuộng âm sắc trang nhã, sự tinh tế của hệ thống đàn dây gảy.
Mặt khác, có thể thấy đàn đáy lúc này (ít nhất là đầu thế kỷ 16) đã xuất hiện như một nhạc cụ chính thức trong Ca trù dân gian song vẫn chưa được du nhập vào cung đình. Như vậy, đàn đáy dường như góp mặt khá muộn trong nghệ thuật Ca trù khi mà thể loại này đã rất phát triển (?). Ở đây, theo cách mô tả của Phạm Đình Hổ thì đàn đáy hẳn đã xuất hiện từ rất lâu trong dàn nhạc Ca trù dân gian. Bởi nếu không, ông đã trình bày một cách khác giống như trường hợp của cây đàn nguyệt. Về nhạc cụ này, ông viết: "... đời gần đây mới chuộng đàn nguyệt..." (!)
Trên cái nhìn toàn cảnh mà Phạm Đình Hổ mô tả, có thể thấy rằng trong môi trường "tục nhạc", nghệ thuật Ca trù cho đến lúc này có lẽ vẫn còn nằm lẫn cùng nghệ thuật sân khấu Chèo, Tuồng và nhạc lễ dân gian (phường bát âm). Nhưng căn cứ vào việc ông nhắc nhiều đến từ "ả đào" cùng với sự ghi nhận biên chế "dàn nhạc giáo phường", đã có thể hình dung được sử nổi trội và bao trùm của Ca trù trong "tục nhạc" Đại Việt.
Cũng theo Vũ trung tùy bút ngược dòng lịch sử, đời Lý - Trần, cả âm nhạc trong cung đình và chốn dân gian "hãy còn chất phác"... Khoảng năm Hồng Đức (1470-1497) nhà Lê, triều đình "mới kê cứu âm nhạc Trung Hoa hiệp vào quốc âm ta, đặt ra 2 bộ: Đồng văn và Nhã nhạc. Bộ Đồng văn thì chuyên tập âm luật để hòa nhạc, bộ Nhã nhạc thì chuyên chuộng nhân thanh, trọng về tiếng hát, đều thuộc về quan Thái thường coi cả. Đến như âm nhạc chốn dân gian thì đặt Ty giáo phường coi giữ. Nhã nhạc với tục nhạc không hỗn tạp với nhau".
Như thế, trong khoảng nửa cuối thế kỷ 15, nghệ thuật Ca trù cùng với các thể loại âm nhạc ngoài dân gian chắc hẳn không gây ảnh hưởng nhiều đến âm nhạc chốn cung đình. Bởi chốn hoàng cung lúc này đang chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của âm nhạc Trung Quốc. Nói vậy cũng có nghĩa âm nhạc dân tộc vốn rất thịnh hành trong cung vua thời Lý - Trần giờ đây đã bị đẩy lui ra ngoài dân gian. Và, nghệ thuật Ca trù cho đến lúc này hẳn đã rất phổ biến trong đời sống xã hội Đại Việt, phổ biến đến mức nhà nước phong kiến phải đặt hẳn Ty giáo phường để "coi giữ"(!) Đến năm Quang Hưng (1578-1599), Phạm Đình Hổ viết :"...bộ Đồng văn và bộ Nhã nhạc chỉ khi nào có tế giao hay có lễ triều hạ gì lớn mới dùng đến, cho nên con cháu nhà nghề âm nhạc đều thất nghiệp cả. Tấu nhạc ở chốn triều miếu thì chỉ om xòm loạn bậy, không còn thành ra xoang điệu gì. Từ đấy, lối tục nhạc ở chốn giáo phường mới thịnh hành, tế giao miếu và lễ triều hạ hay chốn dân gian tế thần, cũng dùng nhạc ấy. Kẻ nhạc công quen tập những tiếng dâm thanh, so với xoang điệu chép ở bộ Lễ năm Hồng Đức đều không hợp. Quan Thái thường thì chuyển đi làm chức khác... Cũng có người thích chơi âm nhạc thì lại phải theo học bọn ca công; bọn ấy đắc chí, chỉ bịa đặt ra để làm cho người nghe hoảng sợ. Ta thường thấy các con nhà thế gia phải dịu lời tươi mặt nịnh nọt kẻ ca công, cầu học lấy giọng hát, bắt chước bộ đi đứng của họ để khoe với chúng bạn".
Như vậy, cho đến nửa cuối thế kỷ 16, vai trò của tục nhạc với vị trí quan trọng của Ca trù đã thực sự lấn lướt Đồng văn - Nhã nhạc, vốn du nhập kiểu cách của nhạc cung đình Trung Quốc. Điều đó có nghĩa sau khoảng 1 thế kỷ tồn tại, Đồng văn - Nhã nhạc đã mất đi vị thế ban đầu trong thiết chế âm nhạc cung đình. Quan Thái thường giờ đây đã "mất nghề", phải bỏ đi làm việc khác! Những sự kiện đó phản ánh một cách chân thực sức quyến rũ không thể cưỡng lại của âm nhạc dân tộc Đại Việt. Có lẽ vào thời đoạn này, thể loại Ca trù cung đình (Hát cửa quyền) đã chính thức xuất hiện trong hoàng cung.
Trong đời sống xã hội htời kỳ này, có thể hình dung bên cạnh việc học theo âm nhạc Ca trù, giới trẻ thuộc tầng lớp thượng lưu ("các con nhà thế gia") còn học cả cách đi đứng, bắt chước điệu bộ của các nghệ sĩ Ca trù. Như thế, rõ ràng các nghệ sĩ ít nhiều đã được ngưỡng mộ như những "ngôi sao" âm nhạc. Nó không khác gì phong trào hưởng thụ cuồng nhiệt trong đời sống xã hội nhạc pop thời đương đại của chúng ta. Hiện tượng lịch sử thú vị đó đã chứng minh sức hấp dẫn đến như thế nào của nghệ thuật Ca trù trong dân gian. Hơn thế nữa, việc các nghệ sĩ Ca trù "đắc chí", "bịa đặt ra để làm cho người nghe hoảng sợ" chắc hẳn là sự phát triển tới đỉnh cao của hệ thống kỹ thuật âm nhạc. Đó rất có thể là những "gân đàn" điêu luyện, kỹ thuật nẩy hạt giọng hát có đẳng cấp hay những ngón phách ẩn hiện kỳ bí mà vẫn còn tồn tại tới ngày nay (?).
Nhìn chung, các hình thức sinh hoạt của nghệ thuật Ca trù trong dân gian được chia thành 2 nhóm tùy theo chức năng văn hóa xã hội của chúng.
+Chức năng nghi lễ tín ngưỡng: bao gồm việc hát thờ ở cửa đình, cửa đền và hát thờ tổ. Trong xã hội nông nghiệp thời phong kiến, đây được coi là chức năng, nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của tổ chức giáo phường. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc các hình thức sinh hoạt nghi lễ tín ngưỡng của nghệ thuật Ca trù sẽ diễn ra dưới dạng thường xuyên và định kỳ. Theo đó, sinh hoạt Hát cửa đình sẽ là nguồn thu nhập quan trọng nhất của giáo phường.
+Chức năng nghệ thuật: là những đám hát được tổ chức tại tư gia (hay cửa đình) để giải trí trong các dịp mừng thọ, mừng đám cưới, khao vọng.. Bên cạnh đó là những sinh hoạt tại nhà hát tư nhân (ca quán) và hình thức hát thi ở cửa đình. Ngoại trừ việc hát thi, còn các hình thức sinh hoạt giải trí khác đều là những dịp kiếm sống của đào kép. Các "cơ hội làm ăn" dạng này diễn ra không thường xuyên bởi hoàn toàn tùy thuộc vào nhu cầu tự phát trong xã hội. Nhà nào có việc thì mời, rồi việc mời được đào kép hay không còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của từng gia đình..v.v..