
Ở đây, hãy tưởng tượng nếu làng xã chỉ gói gọn tiền công cho đào kép trong một khoản nào đó (dạng "khoán gọn") thì các nghệ sĩ sẽ "khó có thể" diễn xướng hết mình! Bởi có đàn ngọt hát hay đến mấy thì số tiền thù lao cũng chỉ có vậy(!). Mà bản chất của âm nhạc Ca trù là nghệ thuật ngẫu hứng ứng tác tại chỗ. Theo đó các dị bản được trình bày hay - dở, dài - ngắn như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người nghệ sĩ. Nếu dùng cách thức thưởng trực tiếp bằng thẻ cho từng phân đoạn trình diễn cụ thể, chắc chắn đào kép sẽ phải diễn tấu hết mình để bộc lộ tài năng cá nhân. Bởi số tiền thù lao ít hay nhiều hoàn toàn tùy thuộc vào sự cống hiến tại chỗ của họ. Làm tốt hưởng nhiều, làm dở hưởng ít. Đây quả là một phương thức kích thích nghệ thuật trực tiếp khá độc đáo. Theo đó, cộng đồng khán giả làng xã dĩ nhiên có nhiều cơ hội hơn để thụ hưởng tài năng của đào kép ở mức độ tối đa. Tất nhiên đó mới chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ lại tùy thuộc vào trình độ tương đồng của cả nghệ sĩ lẫn khán giả trong mối quan hệ 2 chiều. Mà đại diện cho khán giả chính là vị quan viên đánh trống chầu (tức cầm chầu).
Ở đây, người cầm chầu là một nhân vật đóng vai trò rất quan trọng trong buổi hát. Về lý mà nói, nếu ông ta có trình độ thưởng thức nghệ thuật cao thì số thẻ thưởng sẽ hoàn toàn tỷ lệ thuận với trình độ nghệ thuật của đào kép. Nhưng nếu ông ta là người không thật sành điệu thì vấn đề sẽ trở nên "khó lường", nhiều khi thành chuyện khôi hài. Có khi đào kép biểu diễn xuất sắc thì lại được thưởng ít, và ngược lại, có khi đào kép thuộc hạng "thường thường bậc trung" thì lại được thưởng nhiều..!
Mặt khác, cần thấy rằng thông qua tiếng thẻ ném vào chậu, đào kép luôn ý thức rõ sự chi trả "công bằng" hay không của đám quan viên làng xã. Do vậy, số lượng thẻ thưởng tại chỗ cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng buổi trình diễn. Cụ thể, có những tình huống đào kép đã cố gắng đàn hát rất hay mà quan viên cầm chầu không điểm thưởng; hay điểm trống thưởng rồi mà không chịu ném thẻ vào chậu. Trong đó, việc không điểm trống thưởng là do người cầm chầu không đủ trình độ thưởng thức nghệ thuật hoặc giả ông ta tiếc tiền của làng. Tất cả những yếu tố đó tất làm cho các nghệ sĩ dễ bị mất hứng, ảnh hưởng ngay đến chất lượng của tiếng đàn câu hát tiếp theo.
Nói chung, phương thức "tính thẻ" luôn khiến cho cuộc trình diễn trở nên hết sức sống động và hấp dẫn. Nó đặt khán giả vào tình trạng "nhập cuộc" với nghệ sĩ biểu diễn. Bởi tiếng trống chầu bên cạnh vai trò tính tiền thưởng còn có giá trị như một phần của âm nhạc Ca trù. Trong một không gian trình diễn "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" như vậy, nếu người quan viên cầm chầu không điểm câu báo kết đúng lúc, đúng chỗ tất sẽ bị đám đông chê cười. Hơn nữa, nó cũng khiến cho đào kép cụt hứng.
Nói tóm lại, vị quan viên cầm chầu luôn đóng vai trò chức năng kép. Vừa đại diện cho khán giả, vừa làm một diễn viên đánh trống, họ luôn là đối tượng để cả dân làng và các nghệ sĩ "soi mói". Và, vị quan viên này phải đủ cả trình độ và sự công bằng để giữ thể diện cho làng xã! Bởi vậy, trước mỗi cuộc Hát cửa đình, hội đồng chức dịch phải họp bàn để đặt định một người cầm chầu xứng đáng.
Đến đây, đã có thể hiểu tại sao hình thức trả tiền theo thẻ lại được phổ biến hơn dạng "khoán gọn kinh phí". Và, không phải vô cớ mà phương thức thanh toán đó còn được phổ biến ra nhiều bộ môn nghệ thuật biểu diễn khác như Chèo và Tuồng. Có thể nói, sinh hoạt tính thẻ thưởng cho đào kép là sự biểu hiện tính hàng hóa của các giá trị nghệ thuật. Điều đó cũng có nghĩa ngay khi thực hành nghi lễ phụng thờ thánh thần, con người vẫn tự đặt cái TÔI của mình trong nhu cầu khoái cảm nghệ thuật. Thậm chí nhu cầu đó đôi lúc còn tỏ ra nổi trội hơn nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng.
Ở đây, nảy sinh một vấn đề là hình thức Hát cửa đình gắn với ngôi đình người Việt. Vậy phải chăng trước khi có sự xuất hiện của ngôi đình (thế kỷ 15) thì người Việt chưa biết đến thể loại âm nhạc này?
Chúng tôi cho rằng, trước khi ngôi đình có mặt trong thiết chế văn hóa cộng đồng, người Việt ắt hẳn phải phụng thờ thần thánh ở một địa điểm thờ tự công cộng nào đó như đền, hay chí ít là miếu. Và, hình thức sinh hoạt âm nhạc này hẳn đã tồn tại trước khi ngôi đình ra đời để phục vụ cho các cuộc tế lễ ở cửa đền, cửa miếu. Bởi vậy cho đến nay, nhiều tài liệu vẫn còn gọi hình thức sinh hoạt ca trù phục vụ nghi lễ tín ngưỡng là Hát cửa đền. Như vậy, thuật ngữ Hát cửa đình chỉ là tên gọi muộn hơn mà thôi.
Có thể nói Hát cửa đình là hình thái biểu hiện sống động nhất mối quan hệ giữa cộng đồng làng xã thời phong kiến với cộng đồng các nghệ sĩ giáo phường. Như đã biết, trong xã hội phong kiến, tế lễ thánh thần là một nhu cầu quan trọng và không thể thiếu trong đời sống của các cộng đồng cư dân nông nghiệp. Trải theo thời gian, thứ âm nhạc dùng trong các nghi thức đó đã dần nâng tầm nghệ thuật. Tới mức người dân không thể tự thực hành mà chỉ các nghệ sĩ giáo phường mới có thể đảm trách. Theo đó, mối quan hệ 2 chiều cung - cầu cũng dần được hình thành với sự thể hiện bằng những văn bia, khế ước có giá trị như hợp đồng kinh tế. Giới nghệ sĩ giáo phường thì buộc phải phụ thuộc vào từng cộng đồng lãng xã bởi đấy là "khách hàng" - là nguồn sống của họ. Còn xã hội phong kiến một mặt không thực sự trân trọng giới những người "xướng ca vô loài" song mặt khác vẫn phải phụ thuộc vào họ bởi nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật. "Ghét nhưng mà thích", xét nét nhưng vẫn có sự quý trọng nhất định - đó là một tâm thức có thật trong xã hội! Lịch sử đã từng ghi nhận trường hợp nhiều vua quan đã "vượt rào" lấy đào nương làm vợ; hay chuyện trong những cuộc Hát cửa đình, đến phần đốt bài văn tế (phần chúc), theo nghi thức, các đào nương phải múa lượn xung quanh (gọi là múa xén) đến khi tàn ngọn lửa mới thôi. Do vậy, nhiều quan viên chơi khăm đào nương bằng cách cố tình vê chặt bài văn tế lại để khi đốt tờ giấy cháy thật lâu, khiến cho đào nương buộc phải múa đến mỏi nhừ ; hay chuyện quan viên buộc sợi chỉ vào thẻ thưởng để khi ném vào chậu thau đồng cho đào kép nghe thấy xong rồi lại kéo về. Thành thử đào kép khi trình diễn nghe thấy nhiều tiếng thẻ ném cứ tưởng là làng thưởng nhiều nên càng đàn hát hăng say hơn. Theo chuyện kể của lão nghệ nhân Bùi Thị Vịnh (đào nương giáo phường Hải Dương), có lần đi Hát cửa đình, bà đếm được 90 tiếng thẻ ném vào chậu thau nhưng sau khi cuộc hát kết thúc đếm lại chỉ có 20 thẻ (!) Đó quả thật là những câu chuyện dở khóc dở cười của cái nghiệp đàn ca!..
+Hát thờ tổ:
Đây là hình thức hát Ca trù phục vụ nghi thức tế lễ tổ nghề. Nó là sinh hoạt thường niên của nội bộ giới nghề. Theo thông lệ, các giáo phường lân cận trong một vùng thường rủ nhau cùng tổ chức, ít khi làm riêng rẽ. Tùy theo hoàn cảnh từng nơi mà người ta sẽ tiến hành lễ tế tổ ở những địa điểm khác nhau. Nơi nào không có đền thờ tổ thì sẽ phải mượn đình hay đền làng sở tại. Nếu không, nhà thờ họ của gia đình một ông trùm cũng có thể được chọn làm nơi hành lễ . Nói chung, việc lựa chọn địa điểm đều do hội đồng các ông trùm phường quyết định. Họ họp nhau lại bầu ra một người có uy tín hay từng trải nhất để cắt đặt công việc gọi là Trùm nhất (Thủ khoán). Phường sở tại thường phải lo chuẩn bị đồ tế tự và sắp đặt bánh trái cỗ bàn để tiếp khách, còn các phường ở xa thì góp tiền .
Ngày chính lễ tế tổ của nhiều giáo phường thống nhất là 11 tháng chạp âm lịch . Mỗi cuộc tế thường kéo dài tới 3 ngày. Theo Việt Nam Ca trù biên khảo, ngày 10 tháng chạp là lễ cáo yết, ngày 11 là chính kỵ, ngày 12 lễ tạ. "Trước ngày giỗ độ một tháng, các trùm họp nhau lại cắt đặt đào kép giỏi mọi nơi về hát thờ, đào kép dầu ở cách xa mấy, mà giáo phường đã cắt đặt cũng phải tìm về hát. Những người được về hát thờ coi đó là một sự vinh hạnh, giáo phường gọi là được dự Chầu cử" . Ở đây, nếu chúng ta coi giáo phường như một cộng đồng làng xã của những người nghệ sĩ Ca trù thì lễ tế Thần tổ nghề được xem như lễ tế "thành hoàng làng" của họ. Bởi vậy, về cơ bản lễ tế tổ Ca trù cũng có trình thức giống với lễ tế thành hoàng làng. Điều đó có nghĩa nghi thức Hát thờ tổ giống với nghi thức Hát cửa đình. Điểm khác biệt cơ bản chỉ ở chỗ phần mở đầu của Hát thờ tổ, đào kép phải trình tấu 2 khúc ca Non mai và Hồng hạnh. "Tương truyền chính bà Bạch Hoa Công chúa đã làm ra 2 khúc Non mai, Hồng hạnh nên cô đầu chỉ dành khi hát thờ bà mới hát, ngoài ra không bao giờ hát khúc ấy ở đền miếu khác và cũng không dám hát cho ai nghe" .
Cũng như các ngành nghề khác, ngày tế lễ tổ nghề của Ca trù là dịp để các nghệ sĩ giáo phường đua tài khoe sắc báo công với thần tổ. Các giáo phường thường cắt đặt những đào kép giỏi nhất về tham dự bởi bên cạnh vấn đề tín ngưỡng, đây còn là dịp tốt để giới nhà nghề gặp gỡ, trao đổi và học hỏi lẫn nhau. Mối quan hệ "cùng hội, cùng thuyền" giữa các giáo phường cũng được gắn bó hơn trong dịp tế tổ. Nó giống như một sợi dây liên kết được "thắt chặt" định kỳ hằng năm. Và, đó thực sự là một ngày hội thường niên của giới nghề. Bởi vậy, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, có thể hiểu tại sao hệ thống các giáo phường Ca trù lại có sức bền vững với sự lan
+Hát thi
Bên cạnh việc phục vụ nhu cầu thụ hưởng nghệ thuật của các cá nhân với tính chất thương mại, Ca trù còn một hình thức sinh hoạt quan trọng nữa, đó là cuộc thi hát Ca trù. Đây là một hình thức sinh hoạt rất đặc biệt của nghệ thuật Ca trù. Không nằm ngoài nhu cầu thụ hưởng nghệ thuật của cộng đồng nhưng cuộc thi hát Ca trù lại mang mục đích chính là sát hạch, nâng cao tay nghề cho đào kép chứ không phải để giải trí đơn thuần. Điều đặc biệt, người tổ chức cuộc thi hát Ca trù không phải là các nghệ sĩ giáo phường mà lại chính là cộng đồng làng xã sở tại. Điều đó có nghĩa đây hoàn toàn không phải là một sinh hoạt nội bộ giới nghề như các cuộc thi nghệ thuật trong xã hội ta hiện nay.
Theo Nguyễn Đôn Phục : Hát Ca trù thi bao giờ cũng được khởi xướng theo nhu cầu ở từng cộng đồng làng xã. Trước tiên, chức dịch làng xã phải họp bàn, lo việc chuẩn bị kinh phí, thống nhất lịch thi và gửi giấy báo cho người trùm cửa đình biết trước độ nửa tháng hay một tháng. Bên cạnh đó, họ cũng phải viết thông cáo dán ở cửa đình hay ngoài chợ để toàn dân thiên hạ được biết. Sau đó, giáo phường sẽ tiếp tục gửi thông cáo (như giấy mời) về thể lệ cuộc thi cho các giáo phường lân cận. Giáo phường nào được mời thì các đào kép mới về đăng ký dự thi.
Các cuộc thi thường tổ chức vào dịp lễ nhập tịch hay lúc nông nhàn vụ xuân thu. Đến kỳ thi, ông trùm cửa đình đến ngôi đình làng (nơi sẽ diễn ra cuộc thi) làm lễ Chí tịch - là một thủ tục ấn định cuộc thi bắt đầu. Ông ta sẽ viết tám chữ "Thiên tử vạn niên, bách nghệ thông hành" vào tờ giấy điều dán ở cửa đình. Đó là tín hiệu của giáo phường sở tại cho phép các đào kép vào thi. Theo thông lệ, các đào kép mọi nơi khi về tham dự cuộc thi phải trông thấy tờ thông cáo đó thì mới vào làng đăng ký. Nếu quản giáp phường sở tại chưa cáo yết thì họ không dám tự tiện vượt mặt. Điều đó càng khẳng định tính tôn nghiêm của tổ chức giáo phường. Sau khi lễ Chí tịch, giáo phường sở tại coi như không còn trách nhiệm gì nữa với cuộc thi. Từ đây, mọi việc tiếp theo đều do dân làng sở tại sắp đặt và điều hành.
Trong các cuộc thi, có một số điều lệ bắt buộc như cấm chồng đàn vợ hát hay anh đàn em hát để tránh việc người thân nâng đỡ cho nhau. Bên cạnh đó, cũng như nhiều cuộc diễn xướng khác, ban giám khảo cuộc thi phải niêm yết hệ thống tên húy của làng ở cửa đình để các thí sinh biết mà tránh phạm phải khi hát. Mặt khác, cũng do địa điểm thi là cửa đình (hay cửa đền) nên bao giờ trình thức diễn xướng cũng có những phần nghi lễ nhất định mang tính thủ tục. Thể hiện tài năng trước điện thần, điều đó mặc nhiên làm tăng thêm tính hấp dẫn của cuộc thi bởi không khí trang nghiêm của không gian trình diễn. Dân làng cử những người am tường nghệ thuật mặc áo chầu, đội mũ chầu lên đánh trống chầu. Theo thông lệ, vai trò quan trọng này thường dành cho những người cao tuổi hay chức dịch trong làng xã, như một phép "thượng xỉ, thượng tước".
Ở đây, cần thấy rằng các nghệ sĩ vốn được đào tạo và rèn luyện để diễn xướng nghệ thuật Ca trù ở mọi dạng thức khác nhau, bao gồm cả việc phục vụ nghi lễ tín ngưỡng lẫn nhu cầu giải trí. Bởi vậy cuộc thi tất phải sát hạch toàn diện năng lực của họ. Theo đó, mỗi thí sinh buộc phải trình diễn gần như toàn bộ số lượng bài bản của nghệ thuật Ca trù. Bên cạnh đó, họ cũng phải thể hiện tài năng cả ở nghệ thuật múa và trò diễn. Do đó, mỗi cuộc thi thường kéo dài tới gần nửa tháng. Và, nó thực sự trở thành một đại hội liên hoan nghệ thuật của cộng đồng.
Trong cuộc thi Ca trù, bên cạnh tài năng nghệ thuật, riêng các thí sinh đào nương còn được xét tuyển cả về mặt nhan sắc và đức hạnh. Theo thông lệ, sau khi chọn lựa được những đào nương hát hay nhất, cuộc thi sẽ sàng lọc tiếp theo tiêu chuẩn nhan sắc. Cuối cùng là tiêu chuẩn đức hạnh. Như vậy, có thể thấy đào nương đoạt giải nhất phải là người đức hạnh nhất trong những người đẹp nhất của số các đào nương tài năng nhất qua các vòng tuyển lựa. Bởi vậy, phần thi của các đào nương bao giờ cũng hấp dẫn và thú vị hơn phần thi của các kép đàn.
Theo Việt Nam Ca Trù biên khảo , thời xưa, dù đỗ hay không, các đào nương luôn phải tham gia các kỳ thi hát ở cửa đình. Có tham gia cuộc thi, họ mới được công nhận là biết lề lối hát. Bởi vậy, có thể nói bên cạnh lễ "mở xiêm áo" trong nội bộ giáo phường, cuộc thi hát Ca trù cũng có giá trị như một thứ chứng chỉ không thành văn để các nghệ sĩ có thể hành nghề.
Điểm đặc biệt, ban giám khảo mỗi cuộc thi Ca trù bao giờ cũng chính là dân làng sở tại. Họ thuộc tầng lớp am hiểu nghệ thuật Ca Trù và đặt định mọi giới luật cho cuộc thi. Trong đó, như vừa trình bày, chuẩn mực của thứ hạng giải thi không chỉ căn cứ vào tài năng nghệ thuật đơn thuần mà còn phụ thuộc vào tư cách đạo đức của thí sinh. Người nào dù hát hay, nhan sắc tuyệt vời đến mấy những phẩm hạnh không trong sáng thì chẳng thể nào đạt thứ hạng cao. Và, mỗi cuộc thi Ca trù đương nhiên có giá trị như một đợt sát hạch "khuôn thước tài đức", góp phần duy trì phẩm hạnh cho giới ca nương trong các giáo phường. Do đó, hẳn vì sự công bằng, khách quan mà quản giáp hay ông trùm các giáo phường không được phép có mặt trong thành phần ban giám khảo.
Cuộc thi hát rõ ràng thể hiện sự tác động quan trọng của các tầng lớp thức giả Ca trù vào giới nghệ sĩ hành nghề. Nó thực sự khích lệ các đào kép không ngừng học hỏi, nâng cao tay nghề của mình để phục vụ quần chúng khán giả. Mặt khác, đây cũng là một dịp tốt để cộng đồng phát hiện những tài năng trẻ, là dịp để khán giả có thể thưởng thức nghệ thuật Ca trù một cách toàn diện. Khác với một cuộc trình diễn thông thường - chỉ phô trương những vẻ đẹp tinh túy, mỗi cuộc thi luôn phơi bày mọi sự đúng - sai, hay - dở, cao - thấp của nghệ thuật. Và, đó chính là cơ hội để mọi tầng lớp khán giả nâng cao trình độ nhận thức - thụ cảm nghệ thuật của mình. Điều đó có nghĩa cuộc thi Ca trù còn mang tính giáo dục nghệ thuật cộng đồng.
Như vậy, cuộc thi Ca trù chính là sử thể hiện vai trò chi phối, tác động ngược của cộng đồng khán thính giả với cộng đồng nghệ sĩ trong các giáo phường. Không chỉ là người chủ xướng cuộc thi, người dân còn đứng ra đóng vai trò quản lý, tổ chức và làm giám khảo cho giới đào kép. Mỗi cuộc thi thực sự là một "hội chợ triển lãm nghệ thuật chất lượng cao", một sinh hoạt thể hiện tầm phát triển vượt bậc của nền âm nhạc dân tộc. Khán giả và nghệ sĩ ở đây là mối quan hệ hữu cơ thật khăng khít và gắn bó. Nó vừa mang đậm tính nhân văn, vừa in đậm dấu ấn cung - cầu của cơ chế thị trường sơ khai. Trong đó, tính nhân văn được hiểu là sự bao dung, chân trọng của xã hội với giới nghệ sĩ giáo phường. Khán giả vừa là "khách hàng", vừa là "người thầy" quan trọng thẩm định chất lượng nghệ thuật. Và, giải thưởng cuộc thi chính là sự công nhận, tôn vinh của cộng đồng giành cho các đào kép. Nó luôn có giá trị lớn trong cuộc đời nghệ thuật của họ. Đó quả là một hiện thực hết sức thú vị!
Thời xưa, không phải xã nào cũng có thể tổ chức được cuộc thi hát Ca trù. Qua những gì đã trình bày, sẽ thấy từ tiền thưởng cho đến mọi chi phí khác của cuộc thi đều do làng xã đảm trách. Theo Nguyễn Đôn Phục , số tiền ấy không được phép lấy từ công quỹ của làng, cũng không được bổ đầu người dân mà chia từng phần trách nhiệm cho những tầng lớp có vai vế trong làng xã. Đó là các hội đồng hương lý, chức dịch, bô lão... và những nhà giàu có. Bởi vậy, thời xưa chỉ những làng xã nào "ăn nên làm ra" - có uy thế trong vùng thì mới có thể tổ chức thường xuyên các cuộc thi hát và thu hút được sự tham gia của nhiều giáo phường.
Ngoài những cuộc thi tại làng xã, đào kép các giáo phường còn tham dự cuộc thi cấp tỉnh để tuyển chọn người vào hát Chúc hỗ (chúc phúc) trong triều đình. Theo Việt Nam Ca trù biên khảo , những bài hát Chúc hỗ do Bộ Lễ làm sẵn, giao cho quan tỉnh chuyển về nhà công quán cho đào kép học thuộc lòng. Đây là cuộc thi chỉ dành cho những ả đào thanh sắc và kép đàn tài ba. Họ được quản giáp các giáo phường đích thân lựa chọn. Người trúng tuyển được coi như mang lại danh giá cho cả giáo phường. Khi hát Chúc hỗ trong hoàng cung, đào nương "đứng, tay cầm hai cái sênh bằng gỗ gõ vào nhau mà hát, kép đeo đàn đáy đứng gảy, còn một cô gõ phách ngồi nép vào cột điện theo tiếng đàn hát mà gõ" . Những đào kép có vinh hạnh được vào cung hát cho vua nghe đều được gọi là ả đào ngự và kép hát ngự. Khi trở về làng, họ rất được trọng vọng và mỗi khi đi hát đình đám, họ thường được trả tiền công hậu hĩnh hơn những đào kép khác . Bùi Trọng Hiền
http://www.catruthanglong.com/p152-khong-gian-van-hoa-cac-chuc-nang-van-hoa-xa-hoi-nhung-hinh-thuc-bieu-hien-cua-nghe-thuat-ca-tru-%28tiep-iv%29.html