Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » CA TRU

BÙI TRỌNG HIỀN : KHÔNG GIAN VĂN HÓA - CÁC CHỨC NĂNG VĂN HÓA XÃ HỘI & NHỮNG HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA NGHỆ THUẬT CA TRÙ (tiếp theo)

BÙI TRỌNG HIỀN : KHÔNG GIAN VĂN HÓA - CÁC CHỨC NĂNG VĂN HÓA XÃ HỘI & NHỮNG HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA NGHỆ THUẬT CA TRÙ (tiếp theo)

3.2.1 Các hình thức phục vụ nghi lễ, tín ngưỡng
Đây là những hình thức sinh hoạt Ca trù phục vụ cho nhu cầu nghi lễ, tín ngưỡng. Đứng về mặt chức năng xã hội, các hình thức sinh hoạt này mang tính thực hành xã hội chứ không phục vụ nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật đơn thuần. Trong dàn nhạc lúc này, luôn có sự góp mặt của các nhạc cụ nghi lễ quan trọng như cồng, trống cái.
+Hát cửa đình (cửa đền): Đây là hình thức sinh hoạt ca trù phục vụ cho nghi lễ phụng thờ thánh thần ở các đình hay đền làng sở tại. Như đã biết, trong xã hội Việt Nam thời phong kiến, với cái phong hóa "phép vua thua lệ làng", có thể hiểu được vai trò độc lập tương đối của từng cộng đồng làng xã. Bởi vậy, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng nơi đây có giá trị như một phần quan trọng của thiết chế văn hóa địa phương. Trong đó, các lễ hội làng luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Thời xưa, Hát cửa đình thường xuyên được tổ chức vào lễ nhập tịch thường niên hay các dịp lễ hội khác của làng xã. Bởi vậy, có thể coi Hát cửa đình là những cuộc diễn xướng - hành nghề mang tính định kỳ của các giáo phường. Đây là cơ hội kiếm sống quan trọng nhất của đào kép. Tất nhiên bên cạnh những lề lối chung của cuộc hát tế lễ, giáo phường phải đặt định ra những lời ca, làn điệu sao cho phù hợp với điển tích của chư vị thánh thần đình đền sở tại. Trong hình thức sinh hoạt này, bên cạnh nghệ thuật âm nhạc, các nghệ sĩ Ca trù còn trình diễn đồng bộ cả nghệ thuật múa. Trong đó, nhiều tiết mục còn mang tính trò diễn sân khấu, như một sự dâng hiến trọn vẹn tài năng nghệ thuật cho các đấng thần linh. Bởi vậy, Hát cửa đình bao giờ cũng là một cuộc trình diễn có quy mô lớn nhất của nghệ thuật Ca trù. Theo Việt Nam phong tục , trong dịp Hát cửa đình, mỗi giáo phường thường phải cử một đoàn đông tới hai ba chục người bao gồm đào kép cả già lẫn trẻ. Họ phải thay nhau diễn xướng bởi cuộc hát thường kéo dài tới vài ba ngày. Thậm chí có những dịp lễ hội lớn, họ có thể phải múa hát suốt một tuần lễ. Như đã trình bày, với dữ kiện mỗi giáo phường trung bình cai quản 20 cái đình thì có thể hình dung những dịp lễ hội đầu xuân, công việc làm ăn của họ sẽ bận rộn đến như thế nào.
Ở đây, cần phải thấy rằng Hát cửa đình đã thực sự vượt tầm một hình thức âm nhạc tế lễ, tín ngưỡng đơn thuần. Điều đó có nghĩa bên cạnh tính thực hành xã hội, Hát cửa đình còn biểu hiện một phần chức năng phục vụ nhu cầu thụ hưởng nghệ thuật của cộng đồng. Người ta đi dự lễ tế thành hoàng làng không chỉ đơn thuần vì nhu cầu tín ngưỡng mà còn để xem các đào kép biểu diễn nghệ thuật. Tất nhiên, đó không phải là sự thụ hưởng nghệ thuật thuần túy bởi không gian văn hóa của Hát cửa đình là cuộc tế lễ thánh thần. Bởi vậy, chỉ nên coi đây là sự giao lồng giữa 2 chức năng văn hóa xã hội của Hát cửa đình.
So với các hình thức sinh hoạt khác, bên cạnh những đặc điểm chung của thể loại, Hát cửa đình bao giờ cũng có những lề lối, trình thức riêng với hệ thống bài bản chuyên dùng. Đặc điểm đó hình thành bởi chính môi trường tế lễ tín ngưỡng của hình thức sinh hoạt này. Chẳng hạn ở đây, người ta không được hát những bài tình tứ, lẳng lơ. Điệu bộ đào kép phải nghiêm trang, giọng hát phải đĩnh đạc, dõng dạc để đám đông khán giả nghe được rõ ràng. Để làm được điều đó, đào kép luôn cố gắng hát ở tầm cỡ âm khu cao tối đa nhằm phát huy hết mức cường độ của giọng hát. Hẳn vì thế mà trong lối Hát cửa đình, giọng hát của nam giới (kép) luôn được chú trọng(?). Thậm chí có những làn điệu chỉ giành cho nam hát như điệu Hát giai.
Trong nghi thức Hát cửa đình, có những trình thức nghi lễ kép đàn buộc phải diễn tấu trong tư thế đứng nên đàn đáy được buộc dây lụa quàng ngang vai. Do vậy, nhiều người cho rằng tên gọi đàn đáy là "do chữ đới nghĩa là đeo, phiên âm chệch ra" . Trong phần nhạc đệm cho múa, bên cạnh đàn đáy, quản giáp và các đào kép còn chơi thêm cả đàn nhị, sáo... cùng một số loại trống phách tăng cường .
Theo thông lệ, trong sinh hoạt Hát cửa đình, tiền công cho giáo phường được làng xã quy ước theo một khoản nhất định nào đó, nhưng thường là không nhiều. Còn phần lớn giá trị tiền thù lao nghệ thuật được chi trả theo thể thức hát thẻ. Trong suốt quá trình diễn xướng, lúc nào đào kép hát hay, đàn ngọt, phách giòn, quan viên cầm trống chầu (trống cái) sẽ gõ một tiếng "cắc" vào tang trống báo hiệu, quan viên đánh cồng liền gõ một tiếng phụ họa theo. Một người chức dịch khác sẽ rút một chiếc thẻ ném vào trong cái chậu thau bày sẵn sau hương án. Kết thúc cuộc hát, người ta sẽ đếm số thẻ có trong chậu để quy ra tiền công cho đào kép. Ở đây, mỗi thẻ trị giá bao nhiêu tiền đã được giáo phường và làng xã thống nhất từ trước. Thường người ta ghi ngay số tiền trên mỗi chiếc thẻ tre.
Điểm đáng chú ý là theo truyền thống, vật dụng đựng thẻ thưởng của giáo phường bao giờ cũng là một cái chậu thau bằng đồng. Mục đích để khi quan viên ném chiếc thẻ sẽ phát ra tiếng động, đào kép nghe tín hiệu biết mà phấn chấn tinh thần, đàn hát "hết mình" hơn! Thành thử có nhiều nơi, người ta đặt chiếc chậu đựng thẻ ngay sau lưng đào kép, hẳn là để họ nghe cho rõ! Nhân đây xin nói thêm về phương thức trả tiền công bằng thẻ thưởng.

Ở đây, hãy tưởng tượng nếu làng xã chỉ gói gọn tiền công cho đào kép trong một khoản nào đó (dạng "khoán gọn") thì các nghệ sĩ sẽ "khó có thể" diễn xướng hết mình! Bởi có đàn ngọt hát hay đến mấy thì số tiền thù lao cũng chỉ có vậy(!). Mà bản chất của âm nhạc Ca trù là nghệ thuật ngẫu hứng ứng tác tại chỗ. Theo đó các dị bản được trình bày hay - dở, dài - ngắn như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người nghệ sĩ. Nếu dùng cách thức thưởng trực tiếp bằng thẻ cho từng phân đoạn trình diễn cụ thể, chắc chắn đào kép sẽ phải diễn tấu hết mình để bộc lộ tài năng cá nhân. Bởi số tiền thù lao ít hay nhiều hoàn toàn tùy thuộc vào sự cống hiến tại chỗ của họ. Làm tốt hưởng nhiều, làm dở hưởng ít. Đây quả là một phương thức kích thích nghệ thuật trực tiếp khá độc đáo. Theo đó, cộng đồng khán giả làng xã dĩ nhiên có nhiều cơ hội hơn để thụ hưởng tài năng của đào kép ở mức độ tối đa. Tất nhiên đó mới chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ lại tùy thuộc vào trình độ tương đồng của cả nghệ sĩ lẫn khán giả trong mối quan hệ 2 chiều. Mà đại diện cho khán giả chính là vị quan viên đánh trống chầu (tức cầm chầu).
Ở đây, người cầm chầu là một nhân vật đóng vai trò rất quan trọng trong buổi hát. Về lý mà nói, nếu ông ta có trình độ thưởng thức nghệ thuật cao thì số thẻ thưởng sẽ hoàn toàn tỷ lệ thuận với trình độ nghệ thuật của đào kép. Nhưng nếu ông ta là người không thật sành điệu thì vấn đề sẽ trở nên "khó lường", nhiều khi thành chuyện khôi hài. Có khi đào kép biểu diễn xuất sắc thì lại được thưởng ít, và ngược lại, có khi đào kép thuộc hạng "thường thường bậc trung" thì lại được thưởng nhiều..!
Mặt khác, cần thấy rằng thông qua tiếng thẻ ném vào chậu, đào kép luôn ý thức rõ sự chi trả "công bằng" hay không của đám quan viên làng xã. Do vậy, số lượng thẻ thưởng tại chỗ cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng buổi trình diễn. Cụ thể, có những tình huống đào kép đã cố gắng đàn hát rất hay mà quan viên cầm chầu không điểm thưởng; hay điểm trống thưởng rồi mà không chịu ném thẻ vào chậu. Trong đó, việc không điểm trống thưởng là do người cầm chầu không đủ trình độ thưởng thức nghệ thuật hoặc giả ông ta tiếc tiền của làng. Tất cả những yếu tố đó tất làm cho các nghệ sĩ dễ bị mất hứng, ảnh hưởng ngay đến chất lượng của tiếng đàn câu hát tiếp theo.
Nói chung, phương thức "tính thẻ" luôn khiến cho cuộc trình diễn trở nên hết sức sống động và hấp dẫn. Nó đặt khán giả vào tình trạng "nhập cuộc" với nghệ sĩ biểu diễn. Bởi tiếng trống chầu bên cạnh vai trò tính tiền thưởng còn có giá trị như một phần của âm nhạc Ca trù. Trong một không gian trình diễn "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" như vậy, nếu người quan viên cầm chầu không điểm câu báo kết đúng lúc, đúng chỗ tất sẽ bị đám đông chê cười. Hơn nữa, nó cũng khiến cho đào kép cụt hứng.
Nói tóm lại, vị quan viên cầm chầu luôn đóng vai trò chức năng kép. Vừa đại diện cho khán giả, vừa làm một diễn viên đánh trống, họ luôn là đối tượng để cả dân làng và các nghệ sĩ "soi mói". Và, vị quan viên này phải đủ cả trình độ và sự công bằng để giữ thể diện cho làng xã! Bởi vậy, trước mỗi cuộc Hát cửa đình, hội đồng chức dịch phải họp bàn để đặt định một người cầm chầu xứng đáng.
Đến đây, đã có thể hiểu tại sao hình thức trả tiền theo thẻ lại được phổ biến hơn dạng "khoán gọn kinh phí". Và, không phải vô cớ mà phương thức thanh toán đó còn được phổ biến ra nhiều bộ môn nghệ thuật biểu diễn khác như Chèo và Tuồng. Có thể nói, sinh hoạt tính thẻ thưởng cho đào kép là sự biểu hiện tính hàng hóa của các giá trị nghệ thuật. Điều đó cũng có nghĩa ngay khi thực hành nghi lễ phụng thờ thánh thần, con người vẫn tự đặt cái TÔI của mình trong nhu cầu khoái cảm nghệ thuật. Thậm chí nhu cầu đó đôi lúc còn tỏ ra nổi trội hơn nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng.
Ở đây, nảy sinh một vấn đề là hình thức Hát cửa đình gắn với ngôi đình người Việt. Vậy phải chăng trước khi có sự xuất hiện của ngôi đình (thế kỷ 15) thì người Việt chưa biết đến thể loại âm nhạc này?
Chúng tôi cho rằng, trước khi ngôi đình có mặt trong thiết chế văn hóa cộng đồng, người Việt ắt hẳn phải phụng thờ thần thánh ở một địa điểm thờ tự công cộng nào đó như đền, hay chí ít là miếu. Và, hình thức sinh hoạt âm nhạc này hẳn đã tồn tại trước khi ngôi đình ra đời để phục vụ cho các cuộc tế lễ ở cửa đền, cửa miếu. Bởi vậy cho đến nay, nhiều tài liệu vẫn còn gọi hình thức sinh hoạt ca trù phục vụ nghi lễ tín ngưỡng là Hát cửa đền. Như vậy, thuật ngữ Hát cửa đình chỉ là tên gọi muộn hơn mà thôi.
Có thể nói Hát cửa đình là hình thái biểu hiện sống động nhất mối quan hệ giữa cộng đồng làng xã thời phong kiến với cộng đồng các nghệ sĩ giáo phường. Như đã biết, trong xã hội phong kiến, tế lễ thánh thần là một nhu cầu quan trọng và không thể thiếu trong đời sống của các cộng đồng cư dân nông nghiệp. Trải theo thời gian, thứ âm nhạc dùng trong các nghi thức đó đã dần nâng tầm nghệ thuật. Tới mức người dân không thể tự thực hành mà chỉ các nghệ sĩ giáo phường mới có thể đảm trách. Theo đó, mối quan hệ 2 chiều cung - cầu cũng dần được hình thành với sự thể hiện bằng những văn bia, khế ước có giá trị như hợp đồng kinh tế. Giới nghệ sĩ giáo phường thì buộc phải phụ thuộc vào từng cộng đồng lãng xã bởi đấy là "khách hàng" - là nguồn sống của họ. Còn xã hội phong kiến một mặt không thực sự trân trọng giới những người "xướng ca vô loài" song mặt khác vẫn phải phụ thuộc vào họ bởi nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật. "Ghét nhưng mà thích", xét nét nhưng vẫn có sự quý trọng nhất định - đó là một tâm thức có thật trong xã hội! Lịch sử đã từng ghi nhận trường hợp nhiều vua quan đã "vượt rào" lấy đào nương làm vợ; hay chuyện trong những cuộc Hát cửa đình, đến phần đốt bài văn tế (phần chúc), theo nghi thức, các đào nương phải múa lượn xung quanh (gọi là múa xén) đến khi tàn ngọn lửa mới thôi. Do vậy, nhiều quan viên chơi khăm đào nương bằng cách cố tình vê chặt bài văn tế lại để khi đốt tờ giấy cháy thật lâu, khiến cho đào nương buộc phải múa đến mỏi nhừ ; hay chuyện quan viên buộc sợi chỉ vào thẻ thưởng để khi ném vào chậu thau đồng cho đào kép nghe thấy xong rồi lại kéo về. Thành thử đào kép khi trình diễn nghe thấy nhiều tiếng thẻ ném cứ tưởng là làng thưởng nhiều nên càng đàn hát hăng say hơn. Theo chuyện kể của lão nghệ nhân Bùi Thị Vịnh (đào nương giáo phường Hải Dương), có lần đi Hát cửa đình, bà đếm được 90 tiếng thẻ ném vào chậu thau nhưng sau khi cuộc hát kết thúc đếm lại chỉ có 20 thẻ (!) Đó quả thật là những câu chuyện dở khóc dở cười của cái nghiệp đàn ca!..
+Hát thờ tổ:

Đây là hình thức hát Ca trù phục vụ nghi thức tế lễ tổ nghề. Nó là sinh hoạt thường niên của nội bộ giới nghề. Theo thông lệ, các giáo phường lân cận trong một vùng thường rủ nhau cùng tổ chức, ít khi làm riêng rẽ. Tùy theo hoàn cảnh từng nơi mà người ta sẽ tiến hành lễ tế tổ ở những địa điểm khác nhau. Nơi nào không có đền thờ tổ thì sẽ phải mượn đình hay đền làng sở tại. Nếu không, nhà thờ họ của gia đình một ông trùm cũng có thể được chọn làm nơi hành lễ . Nói chung, việc lựa chọn địa điểm đều do hội đồng các ông trùm phường quyết định. Họ họp nhau lại bầu ra một người có uy tín hay từng trải nhất để cắt đặt công việc gọi là Trùm nhất (Thủ khoán). Phường sở tại thường phải lo chuẩn bị đồ tế tự và sắp đặt bánh trái cỗ bàn để tiếp khách, còn các phường ở xa thì góp tiền .
Ngày chính lễ tế tổ của nhiều giáo phường thống nhất là 11 tháng chạp âm lịch . Mỗi cuộc tế thường kéo dài tới 3 ngày. Theo Việt Nam Ca trù biên khảo, ngày 10 tháng chạp là lễ cáo yết, ngày 11 là chính kỵ, ngày 12 lễ tạ. "Trước ngày giỗ độ một tháng, các trùm họp nhau lại cắt đặt đào kép giỏi mọi nơi về hát thờ, đào kép dầu ở cách xa mấy, mà giáo phường đã cắt đặt cũng phải tìm về hát. Những người được về hát thờ coi đó là một sự vinh hạnh, giáo phường gọi là được dự Chầu cử" . Ở đây, nếu chúng ta coi giáo phường như một cộng đồng làng xã của những người nghệ sĩ Ca trù thì lễ tế Thần tổ nghề được xem như lễ tế "thành hoàng làng" của họ. Bởi vậy, về cơ bản lễ tế tổ Ca trù cũng có trình thức giống với lễ tế thành hoàng làng. Điều đó có nghĩa nghi thức Hát thờ tổ giống với nghi thức Hát cửa đình. Điểm khác biệt cơ bản chỉ ở chỗ phần mở đầu của Hát thờ tổ, đào kép phải trình tấu 2 khúc ca Non mai và Hồng hạnh. "Tương truyền chính bà Bạch Hoa Công chúa đã làm ra 2 khúc Non mai, Hồng hạnh nên cô đầu chỉ dành khi hát thờ bà mới hát, ngoài ra không bao giờ hát khúc ấy ở đền miếu khác và cũng không dám hát cho ai nghe" .
Cũng như các ngành nghề khác, ngày tế lễ tổ nghề của Ca trù là dịp để các nghệ sĩ giáo phường đua tài khoe sắc báo công với thần tổ. Các giáo phường thường cắt đặt những đào kép giỏi nhất về tham dự bởi bên cạnh vấn đề tín ngưỡng, đây còn là dịp tốt để giới nhà nghề gặp gỡ, trao đổi và học hỏi lẫn nhau. Mối quan hệ "cùng hội, cùng thuyền" giữa các giáo phường cũng được gắn bó hơn trong dịp tế tổ. Nó giống như một sợi dây liên kết được "thắt chặt" định kỳ hằng năm. Và, đó thực sự là một ngày hội thường niên của giới nghề. Bởi vậy, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, có thể hiểu tại sao hệ thống các giáo phường Ca trù lại có sức bền vững với sự lan

3.2.2 Các hình thức phục vụ nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật
Đây là những hình thức sinh hoạt của nghệ thuật Ca trù chỉ để đáp ứng nhu cầu thụ cảm nghệ thuật trong dân gian. Nó thể hiện bước phát triển quan trọng của một loại hình âm nhạc, từ dạng thức nghệ thuật thực hành xã hội sang dạng thức nghệ thuật giải trí thuần túy. Trong những hình thức giải trí, do không bị bó buộc vào các nghi thức tế lễ, nghệ thuật Ca trù đã có những sự thay đổi nhất định cả về bài bản cũng như hệ thống nhạc cụ. Trong đó, chúng ta sẽ tìm thấy những vẻ đẹp tinh túy nhất của nghệ thuật Ca trù.
Về cơ cấu dàn nhạc, do nhu cầu thưởng thức lúc này ngày càng đề cao tính chất thính phòng với sự thụ hưởng nghệ thuật kiểu dạng "nhâm nhi tinh túy" nên biên chế dàn nhạc ngày càng thu hẹp dần. Cho đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, một dàn nhạc kiểu mẫu của Ca trù chỉ còn bao gồm 1 đàn đáy, một cỗ phách (do ca nương đảm trách) và một trống chầu loại nhỏ do người nghe tự ứng diễn. Mặt khác, cũng có thể do đời sống kinh tế xã hội thay đổi, việc làm ăn ngày càng trở nên khó khăn hơn nên việc tinh giảm thành phần nghệ sĩ là điều tất yếu. Thành thử sự phát triển của nghệ thuật Ca trù lại chính là sự giản lược dàn nhạc so với quá khứ.
Trong các hình thức sinh hoạt vì mục đích nghệ thuật, có thể chia làm 2 loại: hát để phục vụ nhu cầu thưởng thức đơn thuần (còn gọi là hát chơi); và hát thi lấy giải theo nhu cầu cộng đồng.
+Hát chơi
Trong dân gian, khi các tư gia lập đám mừng thọ, khao vọng hay đám cưới.., người ta báo cho Quản giáp giáo phường Ca trù sở tạ biết để cắt cử đào kép đến phục vụ. Khác với sinh hoạt Hát cửa đình, phương thức chi trả thù lao ở đây không tính bằng thẻ. Thường thì các cá nhân tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể mà khoán gọn cho Quản giáp. Kết thúc mỗi buổi hát, đào kép ra về, còn tiền thù lao thì gia chủ sẽ trả trực tiếp cho Quản giáp. Nhưng để cuộc hát được sống động, phần nhiều các quan viên vẫn thường thưởng thêm tại chỗ cho đào kép. Khi đó, trước mặt các đào kép bao giờ cũng để chiếc đĩa sứ hay cơi trầu. Lúc quan viên thưởng thì đặt tiền trực tiếp lên đó. Hình thức được coi lịch sự nhất là đặt tiền lên đĩa cho kép đàn, lên cơi trầu cho đào nương.
Nếu như trong cung vua hay trong các hình thức phục vụ tế lễ tín ngưỡng, có những nghi thức đào kép bát buộc phải đứng mà diễn xướng thì trong các hình thức sinh hoạt giải trí, họ được thoải mái ngồi biểu diễn trên chiếc chiếu, hay trên giường, phản hoặc chiếc sập của nhà chủ. Và, hình thức sinh hoạt này được coi như loại "âm nhạc thính phòng" trong đời sống nghệ thuật của xã hội Đại Việt.
Thời xưa, chỉ có nhà quyền thế mới tổ chức được những hình thức sinh hoạt này. Các cuộc hát thường được tổ chức tại tư gia. Với những đám khao lớn trên phạm vi làng xã, người ta cũng có thể mượn ngôi đình làng làm nơi diễn xướng. Và, âm nhạc Ca trù một lần nữa lại vang lên dưới cái "nhà hát nhân dân mái đình", nhưng lần này là để biểu diễn phục vụ khán giả chứ không phải để tế lễ.
Bên cạnh những sinh hoạt vào dịp đám khao của từng gia đình và dòng họ, giới quan lại cũng thường tổ chức hát Ca trù tại tư dinh làm thú vui giải phiền. Trong cả một giai đoạn lịch sử thế kỷ 19 - 20, đây được coi là những cơ hội "thường xuyên" hơn của đào kép các giáo phường. Bởi như chúng ta đều biết, bên cạnh "vấn đề" tài chính, việc thưởng thức Ca trù còn đòi hỏi ở người nghe một trình độ nghệ thuật nhất định. Để thưởng thức được Ca trù, quan viên cũng phải am hiểu tường tận lề luật các làn điệu để cầm trống chầu mà điểm xuyết, thưởng phạt cho câu hát, tiếng đàn của đào kép. Mặt khác, trong xã hội phong kiến, tầng lớp quan lại đều là những người "có chữ". Họ thường tự sáng tác lời thơ cho đào nương ứng tác tại chỗ. Bởi vậy, cuộc hát Ca trù tại gia luôn được xem như một cuộc bình thơ của giới quan lại và nho sĩ.
Trong môi trường diễn xướng thính phòng, đương nhiên hình thành một hệ thống bài bản chuyên dùng để "hát chơi". Ở đây, do không bị bó buộc bởi nghi lễ tín ngưỡng, mọi yếu tố nghệ thuật biểu cảm đều được nâng tầm ở tầng bậc cao. Điều đó tất để thỏa mãn nhu cầu thụ hưởng khoái cảm nghệ thuật của con người - phù hợp với các đối tượng "tài tử giai nhân", "tri âm tri kỷ"... Theo đó, sự thu hẹp của dàn nhạc Ca trù cũng là điều dễ hiểu. Đặc biệt, trống chầu ở đây chỉ đơn giản là một chiếc trống con thay vì chiếc trống cái như ở sinh hoạt Hát cửa đình.
Nhân đây, xin được nói thêm về vai trò của trống chầu. Chúng ta đều biết đây là một nhạc cụ có chức năng kép. Như đã trình bày, bên cạnh vai trò thưởng phạt để tính tiền thù lao nghệ thuật, trống chầu còn có nhiệm vụ chấm câu báo kết... cho làn điệu. Vai trò trống chầu không chỉ có ở nghệ thuật Ca trù mà còn góp mặt ở nhiều thể loại khác trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam như Chèo, Tuồng... Thế nhưng vấn đề ở đây là nếu như trong các sân khấu Tuồng, Chèo, giả sử người ta có bỏ hẳn cái trống chầu thì âm nhạc vẫn không bị hề hấn gì bởi bên cạnh đó còn nhiều loại trống khác cùng ứng diễn. Nhưng trong âm nhạc Ca trù, nếu bỏ trống chầu đi thì dàn nhạc coi như bị "liệt vế". Thậm chí đánh sai, đánh dở cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nghệ thuật!
Theo truyền thống, khán giả Ca trù nhất thiết phải biết đánh trống chầu. Nói cách khác, vai trò "nhạc sĩ trống" trong dàn nhạc Ca trù luôn thuộc về khán giả. Lề luật đó buộc những ai muốn gia nhập tầng lớp khán giả Ca trù phải học tập, rèn luyện và trau dồi những ngón nghề tinh thông của nghệ thuật. Đây là một hiện tượng độc đáo khu biệt Ca trù với nhiều loại hình nghệ thuật khác trong nền âm nhạc dân tộc. Theo đó, một "thứ hạng" những người sành điệu được hình thành trong xã hội. Bởi vậy, ở một mặt nào đó, nghệ thuật Ca trù đã từng được xem như thú chơi của tầng lớp quý tộc thượng lưu chứ không phải là thú chơi bình dân. Hẳn vì thế mà có quan niệm cho rằng những người thưởng thức hát Ca trù thời xưa được gọi là Quan viên svới ý ám chỉ đó là hạng phong lưu công tử .
Theo sự phát triển của xã hội, lúc ban đầu người ta chỉ mời đào kép về tư gia để thưởng thức nghệ thuật. Về sau khi nhu cầu thụ hưởng được đẩy mạnh và lan tỏa thành trào lưu xã hội, các cá nhân sành điệu đã chủ động tìm đến nghe Ca trù ngay tại chốn giáo phường. Về mặt khách quan, đây cũng rất có thể là hiện tượng xuất phát từ vấn đề tài chính. Bởi việc tổ chức một cuộc hát Ca trù tại gia bao giờ cũng rất tốn kém. Trải theo thời gian, hiện tượng khán giả chủ động tìm đến nghệ sĩ đã mở ra một bước ngoặt lớn cho loại hình nghệ thuật nghệ thuật này. Đó là sự ra đời của những nhà hát - tụ điểm chủ động kinh doanh, thương mại nghệ thuật Ca trù.
Theo Việt Nam Ca trù biên khảo , sang đầu thế kỷ 20, các nhóm đào kép nơi thôn dã "đua nhau ra các thành phố lớn mở nhà hát để đón quan viên vào hát". Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng... cùng các trung tâm tỉnh lỵ của khắp các vùng miền Bắc và Bắc Trung Bộ, đâu đâu cũng có các quần thể nhà hát Ca trù. Điều đó đã chứng minh một sự phát triển vượt tầm của giới thức giả thị thành trong thời đoạn lịch sử này.
Mặt khác, chính hệ thống những nhà hát Ca trù đã thực sự mở rộng cơ hội, "nới rộng vòng tay" với tầng lớp nho sĩ, tri thức nghèo thành thị. Điều đó đồng nghĩa với việc nghệ thuật Ca trù đã thực sự lan tỏa trên một diện rộng. Vượt ra ngoài không gian tín ngưỡng đình làng, vượt ra ngoài những tư gia quyền quý để trở thành một thú chơi bình dân hơn ở chốn thị thành. Bởi vậy, có thể nói hệ thống nhà hát đã đánh dấu một thời kỳ phát triển rực rỡ của nghệ thuật Ca trù.
Ở chốn thị thành, với nền nếp vốn có, các nghệ sĩ Ca trù cũng vẫn tập hợp lại thành từng nhóm lớn nhỏ khác nhau trong từng khu vực tỉnh thành. Người ta thường gọi những nơi ấy là xóm cô đầu hay phố cô đầu. Chức Quản giáp giờ đây được đổi thành Quản ca. Song do môi trường sống thay đổi, đào kép không còn lo việc phục vụ nghi lễ tín ngưỡng làng xã nên tính thương mại đã trở thành mục đích tôn chỉ. Theo đó, một số giới luật giáo phường bắt đầu bị phá vỡ. Vị quản ca giờ đây chỉ còn trông coi, quản lý phần nào nghệ thuật của từng khu vực đào kép hành nghề. Còn những lề thói, phong tục giáo phường thì dần dà "bay đi ít nhiều" theo dòng chảy của thị trường thương mại. Cái dòng chảy ngày càng chi phối mãnh liệt đời sống của họ. Nhiều giá trị truyền thống đã mai một và nhiều giá trị mới đã xuất hiện trong cuộc sống ở chốn phồn hoa đô thị. Trong đó, không khỏi tránh được những hiện tượng biến đổi tiêu cực do mục đích thương mại. Tuy nhiên, trong những xóm cô đầu, nhiều tục lệ quan trọng vẫn được bảo lưu như lệ hát thờ tổ, hay những quy chuẩn đạo đức bảo vệ thanh danh của giới nghề. Chẳng hạn các đào nương cô nào mà công nhiên đi chơi hay tệ hơn, tư thông với quan viên thì vẫn bị Quản ca và các đào kép lão thành trách phạt, kỷ luật ...
Trong các nhà hát, bên cạnh giới đào kép biểu diễn nghệ thuật, bắt đầu xuất hiện một lớp đào nương mới gọi là cô đào rượu. Đây là những cô gái có nhan sắc, chuyên lo việc tiếp tân trong nhà hát Ca trù. Họ được nhà chủ tuyển lựa từ những người ngoài nghề. Các cô đào này có nhiệm vụ tiếp rượu hay phục vụ những nhu cầu ăn uống khác của khách nghe hát. Khác với những nhân viên phục vụ tiệc rượu thông thường, những cô gái này buộc phải học ít nhiều một vài điệu hát, chẳng hạn như một vài câu Hãm để mời khách uống rượu. Với những năng khiếu nghệ thuật nhất định, nhiều cô còn có thể ngâm thơ phú khá hay. Nhìn chung, họ được đào tạo khá kỹ lưỡng và bài bản trong nghệ thuật ẩm thực như cung cách sắp đũa, sắp bát, cách bày biện món ăn mời khách hay nghệ thuật xoay cánh tay, bàn tay uốn lượn chén rượu như một động tác múa... Bên cạnh đó là những cách tiêm thuốc phiện, chia bài tổ tôm cho khách hay các cách thức uống rượu khá cầu kỳ.., tất cả đều được nhà hát nâng tầm chuyên nghiệp thành một thú chơi thời thượng. Chính không gian đó cùng với nghệ thuật Ca trù đã đưa các nhà hát thực sự trở thành chốn thụ hưởng nghệ thuật cao cấp của giới thức giả thị thành.
Có thể nói, hệ thống các nhà hát đã đánh một dấu mốc quan trọng của lịch sử phát triển nghệ thuật Ca trù trong xã hội cận hiện. Một bộ phận đào kép đã tách khỏi giáo phường truyền thống, tức tách rời khỏi môi trường diễn xướng cổ truyền với toàn bộ những chức năng xã hội vốn có. Giờ đây, Ca trù trên chốn thị thành chỉ còn duy nhất một chức năng là nghệ thuật giải trí. Mặt khác, với hệ thống các nhà hát, Ca trù đã đạt tầm cao nhất trong mức độ chuyên nghiệp của một loại hình nghệ thuật âm nhạc. Từ đó, góp phần tạo lập một khuôn diện mới cho văn hóa đô thị - là hệ thống các nhà hát nghệ thuật.
Ở đây, cần thấy rằng khi gia nhập không gian thị thành, nghệ thuật Ca trù vẫn duy trì được mối giao lưu nghệ thuật giữa khán giả và nghệ sĩ. Trong khi Chèo và Tuồng khi lên thành thị thì mối quan hệ này bị triệt tiêu. Điều đó có phần xuất phát từ chính bản chất nghệ thuật nội tại của Ca trù. Như đã trình bày, trống chầu trong Ca trù luôn đóng vai trò chức năng kép. Và, người diễn viên "khán giả" là một thành phần không thể thiếu. Theo đó, cái không gian văn hóa vốn có từ nơi thôn dã bao gồm khán giả - nghệ sĩ với rượu, thơ và âm nhạc vẫn được bảo lưu.

+Hát thi
Bên cạnh việc phục vụ nhu cầu thụ hưởng nghệ thuật của các cá nhân với tính chất thương mại, Ca trù còn một hình thức sinh hoạt quan trọng nữa, đó là cuộc thi hát Ca trù. Đây là một hình thức sinh hoạt rất đặc biệt của nghệ thuật Ca trù. Không nằm ngoài nhu cầu thụ hưởng nghệ thuật của cộng đồng nhưng cuộc thi hát Ca trù lại mang mục đích chính là sát hạch, nâng cao tay nghề cho đào kép chứ không phải để giải trí đơn thuần. Điều đặc biệt, người tổ chức cuộc thi hát Ca trù không phải là các nghệ sĩ giáo phường mà lại chính là cộng đồng làng xã sở tại. Điều đó có nghĩa đây hoàn toàn không phải là một sinh hoạt nội bộ giới nghề như các cuộc thi nghệ thuật trong xã hội ta hiện nay.
Theo Nguyễn Đôn Phục : Hát Ca trù thi bao giờ cũng được khởi xướng theo nhu cầu ở từng cộng đồng làng xã. Trước tiên, chức dịch làng xã phải họp bàn, lo việc chuẩn bị kinh phí, thống nhất lịch thi và gửi giấy báo cho người trùm cửa đình biết trước độ nửa tháng hay một tháng. Bên cạnh đó, họ cũng phải viết thông cáo dán ở cửa đình hay ngoài chợ để toàn dân thiên hạ được biết. Sau đó, giáo phường sẽ tiếp tục gửi thông cáo (như giấy mời) về thể lệ cuộc thi cho các giáo phường lân cận. Giáo phường nào được mời thì các đào kép mới về đăng ký dự thi.
Các cuộc thi thường tổ chức vào dịp lễ nhập tịch hay lúc nông nhàn vụ xuân thu. Đến kỳ thi, ông trùm cửa đình đến ngôi đình làng (nơi sẽ diễn ra cuộc thi) làm lễ Chí tịch - là một thủ tục ấn định cuộc thi bắt đầu. Ông ta sẽ viết tám chữ "Thiên tử vạn niên, bách nghệ thông hành" vào tờ giấy điều dán ở cửa đình. Đó là tín hiệu của giáo phường sở tại cho phép các đào kép vào thi. Theo thông lệ, các đào kép mọi nơi khi về tham dự cuộc thi phải trông thấy tờ thông cáo đó thì mới vào làng đăng ký. Nếu quản giáp phường sở tại chưa cáo yết thì họ không dám tự tiện vượt mặt. Điều đó càng khẳng định tính tôn nghiêm của tổ chức giáo phường. Sau khi lễ Chí tịch, giáo phường sở tại coi như không còn trách nhiệm gì nữa với cuộc thi. Từ đây, mọi việc tiếp theo đều do dân làng sở tại sắp đặt và điều hành.
Trong các cuộc thi, có một số điều lệ bắt buộc như cấm chồng đàn vợ hát hay anh đàn em hát để tránh việc người thân nâng đỡ cho nhau. Bên cạnh đó, cũng như nhiều cuộc diễn xướng khác, ban giám khảo cuộc thi phải niêm yết hệ thống tên húy của làng ở cửa đình để các thí sinh biết mà tránh phạm phải khi hát. Mặt khác, cũng do địa điểm thi là cửa đình (hay cửa đền) nên bao giờ trình thức diễn xướng cũng có những phần nghi lễ nhất định mang tính thủ tục. Thể hiện tài năng trước điện thần, điều đó mặc nhiên làm tăng thêm tính hấp dẫn của cuộc thi bởi không khí trang nghiêm của không gian trình diễn. Dân làng cử những người am tường nghệ thuật mặc áo chầu, đội mũ chầu lên đánh trống chầu. Theo thông lệ, vai trò quan trọng này thường dành cho những người cao tuổi hay chức dịch trong làng xã, như một phép "thượng xỉ, thượng tước".
Ở đây, cần thấy rằng các nghệ sĩ vốn được đào tạo và rèn luyện để diễn xướng nghệ thuật Ca trù ở mọi dạng thức khác nhau, bao gồm cả việc phục vụ nghi lễ tín ngưỡng lẫn nhu cầu giải trí. Bởi vậy cuộc thi tất phải sát hạch toàn diện năng lực của họ. Theo đó, mỗi thí sinh buộc phải trình diễn gần như toàn bộ số lượng bài bản của nghệ thuật Ca trù. Bên cạnh đó, họ cũng phải thể hiện tài năng cả ở nghệ thuật múa và trò diễn. Do đó, mỗi cuộc thi thường kéo dài tới gần nửa tháng. Và, nó thực sự trở thành một đại hội liên hoan nghệ thuật của cộng đồng.
Trong cuộc thi Ca trù, bên cạnh tài năng nghệ thuật, riêng các thí sinh đào nương còn được xét tuyển cả về mặt nhan sắc và đức hạnh. Theo thông lệ, sau khi chọn lựa được những đào nương hát hay nhất, cuộc thi sẽ sàng lọc tiếp theo tiêu chuẩn nhan sắc. Cuối cùng là tiêu chuẩn đức hạnh. Như vậy, có thể thấy đào nương đoạt giải nhất phải là người đức hạnh nhất trong những người đẹp nhất của số các đào nương tài năng nhất qua các vòng tuyển lựa. Bởi vậy, phần thi của các đào nương bao giờ cũng hấp dẫn và thú vị hơn phần thi của các kép đàn.
Theo Việt Nam Ca Trù biên khảo , thời xưa, dù đỗ hay không, các đào nương luôn phải tham gia các kỳ thi hát ở cửa đình. Có tham gia cuộc thi, họ mới được công nhận là biết lề lối hát. Bởi vậy, có thể nói bên cạnh lễ "mở xiêm áo" trong nội bộ giáo phường, cuộc thi hát Ca trù cũng có giá trị như một thứ chứng chỉ không thành văn để các nghệ sĩ có thể hành nghề.
Điểm đặc biệt, ban giám khảo mỗi cuộc thi Ca trù bao giờ cũng chính là dân làng sở tại. Họ thuộc tầng lớp am hiểu nghệ thuật Ca Trù và đặt định mọi giới luật cho cuộc thi. Trong đó, như vừa trình bày, chuẩn mực của thứ hạng giải thi không chỉ căn cứ vào tài năng nghệ thuật đơn thuần mà còn phụ thuộc vào tư cách đạo đức của thí sinh. Người nào dù hát hay, nhan sắc tuyệt vời đến mấy những phẩm hạnh không trong sáng thì chẳng thể nào đạt thứ hạng cao. Và, mỗi cuộc thi Ca trù đương nhiên có giá trị như một đợt sát hạch "khuôn thước tài đức", góp phần duy trì phẩm hạnh cho giới ca nương trong các giáo phường. Do đó, hẳn vì sự công bằng, khách quan mà quản giáp hay ông trùm các giáo phường không được phép có mặt trong thành phần ban giám khảo.
Cuộc thi hát rõ ràng thể hiện sự tác động quan trọng của các tầng lớp thức giả Ca trù vào giới nghệ sĩ hành nghề. Nó thực sự khích lệ các đào kép không ngừng học hỏi, nâng cao tay nghề của mình để phục vụ quần chúng khán giả. Mặt khác, đây cũng là một dịp tốt để cộng đồng phát hiện những tài năng trẻ, là dịp để khán giả có thể thưởng thức nghệ thuật Ca trù một cách toàn diện. Khác với một cuộc trình diễn thông thường - chỉ phô trương những vẻ đẹp tinh túy, mỗi cuộc thi luôn phơi bày mọi sự đúng - sai, hay - dở, cao - thấp của nghệ thuật. Và, đó chính là cơ hội để mọi tầng lớp khán giả nâng cao trình độ nhận thức - thụ cảm nghệ thuật của mình. Điều đó có nghĩa cuộc thi Ca trù còn mang tính giáo dục nghệ thuật cộng đồng.
Như vậy, cuộc thi Ca trù chính là sử thể hiện vai trò chi phối, tác động ngược của cộng đồng khán thính giả với cộng đồng nghệ sĩ trong các giáo phường. Không chỉ là người chủ xướng cuộc thi, người dân còn đứng ra đóng vai trò quản lý, tổ chức và làm giám khảo cho giới đào kép. Mỗi cuộc thi thực sự là một "hội chợ triển lãm nghệ thuật chất lượng cao", một sinh hoạt thể hiện tầm phát triển vượt bậc của nền âm nhạc dân tộc. Khán giả và nghệ sĩ ở đây là mối quan hệ hữu cơ thật khăng khít và gắn bó. Nó vừa mang đậm tính nhân văn, vừa in đậm dấu ấn cung - cầu của cơ chế thị trường sơ khai. Trong đó, tính nhân văn được hiểu là sự bao dung, chân trọng của xã hội với giới nghệ sĩ giáo phường. Khán giả vừa là "khách hàng", vừa là "người thầy" quan trọng thẩm định chất lượng nghệ thuật. Và, giải thưởng cuộc thi chính là sự công nhận, tôn vinh của cộng đồng giành cho các đào kép. Nó luôn có giá trị lớn trong cuộc đời nghệ thuật của họ. Đó quả là một hiện thực hết sức thú vị!
Thời xưa, không phải xã nào cũng có thể tổ chức được cuộc thi hát Ca trù. Qua những gì đã trình bày, sẽ thấy từ tiền thưởng cho đến mọi chi phí khác của cuộc thi đều do làng xã đảm trách. Theo Nguyễn Đôn Phục , số tiền ấy không được phép lấy từ công quỹ của làng, cũng không được bổ đầu người dân mà chia từng phần trách nhiệm cho những tầng lớp có vai vế trong làng xã. Đó là các hội đồng hương lý, chức dịch, bô lão... và những nhà giàu có. Bởi vậy, thời xưa chỉ những làng xã nào "ăn nên làm ra" - có uy thế trong vùng thì mới có thể tổ chức thường xuyên các cuộc thi hát và thu hút được sự tham gia của nhiều giáo phường.
Ngoài những cuộc thi tại làng xã, đào kép các giáo phường còn tham dự cuộc thi cấp tỉnh để tuyển chọn người vào hát Chúc hỗ (chúc phúc) trong triều đình. Theo Việt Nam Ca trù biên khảo , những bài hát Chúc hỗ do Bộ Lễ làm sẵn, giao cho quan tỉnh chuyển về nhà công quán cho đào kép học thuộc lòng. Đây là cuộc thi chỉ dành cho những ả đào thanh sắc và kép đàn tài ba. Họ được quản giáp các giáo phường đích thân lựa chọn. Người trúng tuyển được coi như mang lại danh giá cho cả giáo phường. Khi hát Chúc hỗ trong hoàng cung, đào nương "đứng, tay cầm hai cái sênh bằng gỗ gõ vào nhau mà hát, kép đeo đàn đáy đứng gảy, còn một cô gõ phách ngồi nép vào cột điện theo tiếng đàn hát mà gõ" . Những đào kép có vinh hạnh được vào cung hát cho vua nghe đều được gọi là ả đào ngự và kép hát ngự. Khi trở về làng, họ rất được trọng vọng và mỗi khi đi hát đình đám, họ thường được trả tiền công hậu hĩnh hơn những đào kép khác .
Bùi Trọng Hiền

http://www.catruthanglong.com/p152-khong-gian-van-hoa-cac-chuc-nang-van-hoa-xa-hoi-nhung-hinh-thuc-bieu-hien-cua-nghe-thuat-ca-tru-%28tiep-iv%29.html

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4429903