Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Âm nhạc cổ truyền

Thảo Vy :Những điều đọng lại sau Liên hoan Cồng chiêng Tây nguyên 2009


[28/12/2009 11:12:36]
Những điều đọng lại sau Liên hoan  Cồng chiêng Tây nguyên 2009 	 	 	 [+] Click vào để xem hình lớn
Các Già làng đốt bằng ngọn lửa ga và bồn ga cháy lên… Còn đâu linh hồn của ngọn lửa thiêng?
Liên hoan Cồng chiêng thế giới lần thứ nhất tổ chức tại thành phố Pleiku- Tỉnh Gia Lai (Việt Nam) vào tháng 11 vừa qua đã đọng lại gì trong lòng du khách, các nhạc sĩ chuyên về nghiên cứu âm nhạc dân tộc và cả các quan chức quản lý về văn hóa, du lịch?

Giáo sư Trần Văn Khê: Ban tổ chức quá tham lam về sự hoành tráng hào nhoáng bên ngoài, mà quên đi tiếng cồng chiêng thật sự trong không gian văn hóa thiên nhiên của núi rừng.

Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ: Chỉ cần theo dõi chương trình khai mạc hoành tráng trên… sân khấu Pleiku hôm tối 12-11, có thể thấy đây đúng là chương trình giải trí, vui chơi, phù hợp với mục đích du lịch, lôi kéo du khách hơn là sự trình bày các loại cồng chiêng Tây Nguyên.

Nhạc rock , rồi những đoàn vũ công bay lượn như chim trên sân khấu, âm thanh thì chát chúa, lồng trong một tiết tấu hip hop điếc tai làm át cả các đoàn cồng chiêng đi ngang qua khán đài danh dự… Tại sao chúng ta không giới thiệu cho du khách, công chúng về sự đa dạng của các công thức cồng chiêng và vai trò của mỗi cồng chiêng trong diễn tấu; như thế nào là cồng chiêng mẹ, con… Sự sáng tạo âm nhạc của cách đánh cồng chiêng của từng bộ tộc ra sao cũng là điều cần giới thiệu. Tại sao ở Tây nguyên khi nghe vang lên tiết tấu cồng chiêng, người nơi đây biết là âm thanh nói lên điều gì: dồn dập của đâm trâu, lảnh lót của chiêng cưới hỏi, chậm rãi chiêng tang lễ… Khi người ta thấu hiểu được cấu trúc của từng bài chiêng thì việc bảo tồn mới cụ thể và khi đó mới nói đến hiệu quả của việc lưu truyền.

Giáo sư Trần Quang Hải: Cần phục hồi y phục của từng sắc dân để cho thấy sự đa màu, đa dạng, chứ không phải “đồng phục hóa” y phục Tây Nguyên. Không nên chỉnh các chiêng theo thang âm Tây phương vì như vậy sẽ làm mất đi âm thanh linh thiêng của từng chiếc cồng chiêng. Nên gửi các đoàn cồng chiêng tham dự những đại hội liên hoan quốc tế với những tiết mục nguyên xi, không pha trộn nhạc khí Tây phương vào.

 

Học giả Oscar Salemink (Hà Lan), đại biểu dự Liên hoan, nhận xét: “Đứng về mặt sân khấu trình diễn thì thành công, nhưng về mặt văn hóa cồng chiêng thì không cảm thấy”.

Ông Phan Xuân Vũ, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai: Muốn bảo tồn giá trị “Không gian văn hoá cồng chiêng”, trước hết phải nâng cao đời sống của bà con. Phải có đất, có nhà ở, con em được đi học, được chữa bệnh. Nếu bà con đói thì cồng chiêng cũng mất, nếu bà con bị những thế lực thù địch lôi kéo thì “Không gian văn hoá cồng chiêng” cũng mất. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản này là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và đặc biệt là những người Kinh cũng phải giúp đỡ cộng đồng đồng bào dân tộc trên địa bàn để cùng phát triển bản sắc văn hoá các dân tộc. Không gian văn hoá cồng chiêng phải được hiểu rộng hơn, đầy đủ hơn. Không gian ấy bao gồm: Văn hoá, kiến trúc, tập tục, nếp sinh hoạt... của cộng đồng.

Ông Trần Vĩnh, nhà báo: Chi tiết 5 Già làng đại diện 5 tỉnh Tây Nguyên lên đốt lửa tại lễ khai mạc, cứ tưởng là các Già làng sẽ làm một thủ tục hết sức trang trọng của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên là rước thần Lửa về để cùng đốt lên ngọn lửa thiêng bùng cháy trên đống củi thật, đúng truyền thống, thể hiện tình đoàn kết các dân tộc anh em, sự cấu kết cộng đồng, cộng cảm, cộng sinh của Tây Nguyên hùng vĩ. Nhưng không phải vậy, các Già làng đốt bằng ngọn lửa ga và bồn ga cháy lên! Bà con các dân tộc thiểu số ở các địa phương của Tây Nguyên khi theo dõi qua màn ảnh nhỏ đều ngơ ngác…

 

Cần nhớ mục đích của UNESCO là “gìn giữ văn hóa cồng chiêng trong xã hội ngày nay không được biến đổi từ hình thức tới nội dung”, đồng thời hỗ trợ những người bảo tồn và lưu truyền di sản văn hóa phi vật thể cho thế hệ mai sau. (GS Trần Quang Hải)

Vẫn biết là không phải dễ làm đối với một chương trình khai mạc của loại hình diễn xướng dân gian Tây Nguyên và có thể chưa hiểu hết được ý đồ nghệ thuật của các đạo diễn âm nhạc tại liên hoan. Nhưng quả thực, khi được nghe phần nhạc nền: cứ một đoạn âm thanh cồng chiêng thật lại đến một đoạn âm thanh bằng nhạc cụ điện tử và... cứ thế, một bài chiêng bị cắt ra thành nhiều lát, thực là khó chịu. Đã thật thì thật hết, còn nếu giả thì giả luôn toàn bộ có khi lại dễ nghe.

Thiết nghĩ, nếu văn hóa cồng chiêng được sân khấu hóa, môi trường diễn xướng nặng về trình diễn, quảng bá như đang xuất hiện ngày một nhiều, ở một góc độ nào đấy có thiên hướng lệch về mục đích, trở thành một nghệ thuật biểu diễn thì liệu rằng văn hóa cồng chiêng có còn giữ được bản sắc và cái hồn của mình với những giá trị văn hóa phi vật thể đã được công nhận là Di sản thế giới?.

 

VỀ THUẬT NGỮ
“CỒNG CHIÊNG”

GS-NS Thế Bảo

Trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tháng 09/2009 số 303, nhà nghiên cứu âm nhạc Dương Đình Minh Sơn đề cập đến chiếc cồng bằng gỗ ở Quảng trị và băn khoăn về thuật ngữ Cồng Chiêng.

Theo tôi được biết Cồng gỗ xuất hiện và hiện và lưu truyền ở Việt Nam khá lâu đời không chỉ ở Quảng Bình, Quảng Trị (Đàng trong) mà cả ở Đàng ngoài.

Nhạc sĩ Nguyễn Tất Tùng nói rằng đến những năm 60 của thế kỷ trước làng quê anh ở Quỳnh Lưu, Nghệ An còn treo ở trước đình một chiếc cồng rất to bằng gỗ mít tạc hình con cá. Tiếng cồng trầm đục vang rất xa.

Giáo Sư Tô Vũ thường trao đổi với tôi người M’nong gar gọi đàn đá là Gong lua (Cồng đá), người Êđê gọi Chiêng Kram (Chiêng tre) người Việt có Cồng gỗ, người Mường có Cồng bằng đồng như vậy có thể Cồng đá và Chiêng tre, Cồng gỗ có trước Cồng bằng Đồng.

Hay nói cách khác phải có Cồng đá, Chiêng tre, Cồng gỗ rồi đến khi xuất hiện đồ Kim khí người ta mới chế tác Cồng đồng.

Gong lua – chiêng kram - Cồng gỗ - Chiêng cồng. Người Mường dùng một dàn chiêng có núm và gọi là đàn Cồng. Người Mường hiện nay là hậu duệ của người Việt Mường ngày xưa vẫn thường sử dụng một đàn Cồng mỗi người chơi một chiếc và từng chiếc họ gọi là Chiêng. Người Stiêng (theo Vũ Hồng Thịnh) gọi loại có núm là Cồng (gong) và loại không núm là Ching (Chiêng).

Các dân tộc ở Tây Nguyên không tự làm ra Cồng, Chiêng mà họ nhập hàng từ người Việt – Lào và chỉnh âm thanh. Họ gọi tất cả là Ching hoặc Chiêng (có núm) họ gọi Chiêng núm, Chiêng bằng và thống nhất gọi loại có núm là Cồng (gong).

Có thể chữ Cồng của người Việt cổ chỉ loại Chiêng đồng có núm, từ thời Hùng Vương lan tỏa theo đồ đồng Đông Sơn sang các nước Đông Nam Á cho nên ở Indonesia, Mã Lai họ gọi là Gong, người Lào, Campuchia, Thái Lan gọi là Khong, cũng do chữ Cồng mà ra.

Người Indonesia từ cuối thế kỷ 19 đã trình làng Gong, Ageng, Agong và phương Tây đã nhập chữ Gong để chỉ loại Cồng có núm vào dàn nhạc giao hưởng.

Vì vậy, cho dù các dân tộc như hiện nay người Việt gọi là Chiêng, nhiều dân tộc gọi chung là Ching, Chênh, thì cách phân loại Cồng có núm, Chiêng núm và Chiêng không núm (chiêng bằng) là có thể chấp nhận được.

Thuật ngữ Cồng Chiêng như một từ tổ hợp, nhiều nhà nghiên cứu và nhân dân sử dụng không thấy có trở ngại nào đáng kể và hoàn toàn hợp lý.



Thảo Vy ANVN6 (12/2009)
http://songnhac.vn/?mode=tintuc_id&id=2619&id_chinh=7&id_phu=

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4828604