Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhạc Việt

Nguyễn Đình Lâm : BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU ÂM NHẠC TÔN GIÁO - TÍN NGƯỠNG HÀ NỘI

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU
ÂM NHẠC TÔN GIÁO - TÍN NGƯỠNG HÀ NỘI

 

Nguyễn Đình Lâm

1. Khái quát chung

Tôn giáo và tín ngưỡng là hai khái niệm có cấp độ và phạm vi khác nhau nhưng có chung hạt nhân là niềm tin và tính thiêng. Hai yếu tố này tập trung thành sức mạnh thần bí, đi sâu vào tâm khảm các tín đồ và được phát huy trong các nghi lễ, quy định trong mỗi phương tiện hành lễ.

Tôn giáo gắn với người sáng lập (giáo chủ), có học thuyết (giáo lý - kinh sách), có tổ chức giáo hội, có cấp bậc cho người tu hành (chức sắc tôn giáo), có hệ thống cơ sở thờ tự được thống nhất (chùa, nhà thờ, thánh đường,...) và có số đông tín đồ. Tín ngưỡng bao gồm các hiện tượng tâm linh theo quan niệm dân gian, như tục thờ cúng tổ tiên và các vị nhân thần (người có công với làng xã hay đất nước), thiên thần, thuỷ thần, sơn thần (trong tưởng tượng và truyền thuyết ),... Những hiện tượng tín ngưỡng do nhân dân lập lên, một số hình thức thống nhất cách thức thờ cúng, như sắp xếp vị trí tượng, cúng tế, trang phục hành lễ,... nhưng chỉ dừng lại ở trạng thái tiền tôn giáo.

Cơ sở ra đời các tôn giáo và những hiện tượng tín ngưỡng, hoặc là xuất phát từ một tư tưởng triết lý cá nhân, hoặc là do sự kết hợp giữa một tư tưởng nào đó với một hiện tượng tín ngưỡng bản địa cụ thể mà thành. Bắt nguồn từ trong suy nghĩ và nhận thức của con người, do chính con người sáng tạo, do đó, tôn giáo và tín ngưỡng là một hình thái ý thức xã hội, tất yếu tồn tại song song với lịch sử loài người.

Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, những biểu hiện tôn giáo không giống nhau - vì thế tôn giáo và tín ngưỡng còn là một phạm trù lịch sử. Ngày nay, nhiều tôn giáo lạ được hình thành và phát triển đến mức trở thành “phong trào tôn giáo mới”. Nó là kết quả của quá trình nảy sinh liên tiếp các hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng cũ và mới hội gộp đan xen. Việt Nam là một đất nước đa tôn giáo - tín ngưỡng. Ngoài bốn tôn giáo ngoại nhập là Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, còn có các tôn giáo nội sinh, xuất hiện đầu thế kỷ XX, như Tịnh Độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Hòa Hảo (theo giáo lý Phật giáo với tín ngưỡng bản địa), Cao Đài (dung hợp giữa Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Công giáo,... ); đó còn chưa kể tới trên 20 tổ chức tôn giáo khác có tôn chỉ và khuynh hướng hoạt động không rõ ràng, hiện chưa được Nhà nước ta công nhận. Song song với các tôn giáo là đời sống sinh hoạt văn hóa tâm linh - tín ngưỡng bản địa của các tộc người anh em sống trên lãnh thổ Việt Nam - đã góp phần khẳng định sự phong phú và đa dạng cho bức tranh tôn giáo và tín ngưỡng nước nhà.

Tính thiêng và niềm tin được quy định trong mọi phương diện thực hành nghi lễ và giúp cho chúng trở lên thần bí và có “năng lực” đặc biệt. Âm nhạc sinh ra trong các nghi lễ tôn giáo, vì thế không phải để nghe chơi hay chỉ vì mục đích truyền đạo thuần tuý mà, trong niềm tin tôn giáo, âm nhạc là “vật thiêng”, sử dụng theo mục đích và tôn chỉ nhất định. Ngày nay, khi nghiên âm nhạc tôn giáo nói chung, ngoài xem xét dưới góc nhìn âm nhạc học thuần tuý (musicology), dân tộc nhạc học (ethnomusicology), bộ môn này rất cần được soi chiếu dưới lăng kính đặc thù - tôn giáo học (religiousmusicology). Có như vậy các công trình mới có thể đi tới việc giải mã những vấn đề căn bản về vai trò và chức năng chính của âm nhạc gắn với tôn giáo. Nói cách khác, để nghiên cứu về âm nhạc tôn giác nói chung, một tôn giáo hay tín ngưỡng cụ thể nói riêng trước hết cần phải hiểu về tôn giáo - tín ngưỡng đó, từ tư tưởng triết học cho tới các hình thức biểu hiện của nó, trực tiếp là ý nghĩa, quy trình và phương tiện thực hiện các nghi lễ cụ thể.

Nghiên cứu âm nhạc tôn giáo nói chung cần đi từ những bước quan sát tới nghiên cứu, nhận định và giải mã mỗi hiện tượng cụ thể. Bài viết này bước đầu giới thiệu một cách khái quát tổ chức, thành phần và diện mạo nhạc lễ gắn với: tế - rước Thành hoàng làng, trong tín ngưỡng Tứ phủ, trong tang lễ của người Việt và trong nghi lễ Phật giáo ở khu vực Hà Nội (cũ).

2. Nhận diện âm nhạc tôn giáo - tín ngưỡng Hà Nội

Âm nhạc trong tế lễ Thành hoàng

Tín ngưỡng Thành hoàng bắt nguồn từ tục thờ thần bảo hộ thành trì của Trung Quốc, du nhập vào nước ta từ thời nhà Đường, sau này kết hợp với tín ngưỡng thờ nhân thần, thiên thần trong các làng xã mà khoác lên mình cụm từ thành hoàng và trở thành hiện tượng thờ cúng phổ biến ở Việt Nam [4. 25-60]. Vào khoảng cuối kỷ thứ XVI lễ tục này bắt đầu thịnh hành và nó đặc biệt phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XVII dưới thời nhà Lê khi thành hoàng làng được đưa vào thờ tại đình làng. Thành hoàng chủ yếu được thờ tại đền, nghè, nhưng ngày nay để đơn giản hóa nhiều làng chỉ xây dựng tập trung trong đình, phía ngoài là nơi hội họp, phía trong là nghè. Nơi thờ thần gọi là cung. Toàn bộ đình làng có thờ thành hoàng có hình dáng chữ Đinh [7. 25]

Các làng thờ thành hoàng thường tổ chức nghi thức hàng tháng vào ngày “sóc” (mùng một) và ngày “vọng” (rằm), do các cụ trong thôn thực hiện. Ngoài ra, hàng năm, cũng có khi là vài năm một lần, các làng tổ chức nghi thức lễ tế-rước có quy mô lớn, gọi là lễ trọng. Thời gian tổ chức nghi lễ ở mỗi làng có khác nhau tùy thuộc vào sự kiện và mối quan hệ gắn kết giữa thành hoàng đó với làng. Trong nghi lễ có tổ chức tế và rước. Mỗi dịp lễ hội lớn như vậy thường được tổ chức tế ba lần: yết cáo (trước hôm lễ chính), đại tế, còn gọi là chính tế (sáng hôm lễ chính) và tế yên vị, bao gồm cả lễ tạ (sau khi tổ chức rước thành hoàng).

Âm nhạc xuất hiện trong các bước tế lễ, từ khâu chuẩn bị cho tới các bước lễ và rước, đóng một vai trò đặc biệt quan trong trong suốt quá trình cử hành nghi lễ. Về tổ chức, âm nhạc trong nghi lễ không thể thiếu cặp trống - chiêng và dàn nhạc bát âm. Ở một số đình làng còn mở rộng thêm vài hình thức tổ chức nữa như đội trống bồng (múa bồng), múa sinh tiền và trống bản. Những hình thức tổ chức này được phổ biến trong nghi thức tế rước thành hoàng làng ở các nơi như: Quan Nhân, Chính Kinh, Cự Lộc, Giáp Nhất và Phùng Khoang ở quận Thanh Xuân; Mễ Trì Hạ, Đình Thôn ở xã Mễ Trì và đình làng Liêm Mạc, lễ hội đình/đền Chèm huyện Từ Liêm. Đây là một trong những nét độc đáo thể hiện tính dân gian mang đặc trưng riêng ở mỗi làng, phường.

Về cặp nhạc cụ trống và chiêng. Đặc điểm trống trong các đình làng Hà Nội chủ yếu là loại trống lớn, chiều cao trung bình từ 80cm - 1,2m, đường kính khoảng từ 50 - 60cm; chiêng thông thường có đường kính từ 60 - 75cm. Trống và chiêng có chức năng báo thời, báo hiệu nhân dân vào đám, lên đình. Trong khi tế lễ, trống là hiệu lệnh giúp cho các quan viên và người chấp lễ thực hiện nghi thức dâng lễ vật. Những người chấp lễ chỉ thực hiện sau khi người đông xướng và tây xướng hô cùng với tiếng trống điểm. Do đó, các bước đi đều được quy định bởi tiếng trống. Trống lúc này như một thứ ngôn ngữ đặc biệt đối với người hành lễ và thần linh.

Về phường bát âm thường có: một trống bộc, một cảnh, hai sáo, một nhị, một tam, một hồ, một nguyệt và một sinh tiền. Tuy nhiên không phải làng nào cũng biên chế giống nhau, mà có khi thiếu một trong số nhạc cụ trên, nhưng cũng có khi biên chế tới hai chiếc cùng loại. Đó là không kể tới những nhạc cụ như nhị và hồ. Riêng nhạc cụ sinh tiền đã có nhiều nơi tách ra thành một đội nhạc riêng để vừa diễn tấu phối hợp với múa trong khi rước kiệu thành hoàng (hoặc cũng có nơi đưa cả đội sinh tiền vào trong quá trình tế lễ như trường hợp đã nêu ở trên). Đó là dàn nhạc bát âm, theo quan niệm của các làng ngày nay. Còn quy định phường bát âm gồm tám nhạc cụ tương ứng với 8 chất liệu là: thổ, trúc, kim, mộc, cách, bào, thạch, ty (phân theo Trung Quốc) và: tiếng sấm sét, tiếng gió, tiếng gào thét, tiếng nước chảy - thác đổ, tiếng ngựa phi, tiếng đá lăn - đất lở, tiếng búa chặt cây rừng, tiếng ong, tiếng chim (phân theo Việt Nam) là không có. Như thế, sẽ có tám nhạc cụ gồm: nhị, sáo, nguyệt, mõ, trống nhỏ, chuông rung, sáo đất, đàn đá. Tuy nhiên, hiện tại không còn theo biên chế và cách sắp xếp dàn nhạc bát âm như vậy trong các nghi thức tế lễ thành hoàng. Ngày nay, khi hành lễ, phường bát âm diễn tấu các bài: Lưu thủy - Kim tiền, Ngũ đối Đăng đàn cung.

Đội trống bản thông thường được sử dụng bốn chiếc, có đường kính khoảng 35-40cm, chiều cao 18cm; khi diễn tấu được treo ở trước ngực. Trong nhiều trường hợp, đội trống bản có chức năng tạo và giữ nhịp cho phường bát âm và đội múa sinh tiền trong đó theo suốt quá trình của buổi lễ tế và rước.

Như vậy, cơ cấu tổ chức dàn nhạc chính phục vụ nghi thức tế lễ thành hoàng được biên chế gồm một trống lớn, một chiêng, một phường bát âm; ở một số địa phương còn tách, bổ sung và mở rộng thêm thành đội trống bản, một tổ múa sinh tiền.

Âm nhạc trong tín ngưỡng Tứ phủ

Tín ngưỡng Tứ phủ là một tín ngưỡng dân gian bản địa thờ Mẫu của người Việt: “xuất phát từ tín ngưỡng thờ Mẹ của các cư dân nông nghiệp, trong quá trình phát triển, đạo thờ Mẫu tiếp tục chịu ảnh hưởng của nhiều hình thức tín ngưỡng, phương thuật dân gian khác, đặc biệt là của Đạo giáo Trung Quốc, để từ đó hình thành nên tín ngưỡng Tam phủ rồi Tứ phủ” [ 2. 37].

Trong nghi lễ tín ngưỡng Tứ phủ cũng hình thành phương thuật lễ nghi riêng, trong đó có các phương tiện hành lễ và biểu hiện trong lễ như trang phục, múa, nhạc... Âm nhạc phục vụ trong tín ngưỡng Tứ phủ gọi là Hát Văn. “Hát Văn có ba hình thức chính là Hát Văn thờ, Hát Văn thi và Hát Văn hầu” [ 2. 38]. Ở đây chúng tôi đề cập tới hát Văn thờ - một hình thức ngày nay ở khu vực Hà Nội vẫn còn được sử dụng.

Hát Văn thờ được tổ chức vào các ngày Tứ quý: Thượng Nguyên (tháng Giêng), Nhập hạ (tháng Tư), Tán hạ (tháng Bảy), Tất niên (tháng Chạp) và ngày Tiệc (ngày quy hóa - ngày mất của các vị thánh), như Mẫu Liễu Hạnh (03/03), Tiệc Cô Bơ (12/06), Tiệc Quan Tam Phủ (24/06), Tiệc Ông Hoàng Bảy (17/07), Tiệc Đức Trần Triều (20/08), [2. 38] v.v...

Mỗi vị thánh có một bản văn sự tích riêng được hát dâng lên vào ngày tiệc. Cho đến ngày nay những bản văn mẫu mực còn được biết tới như văn Công đồng (bản văn thờ chung tại các đền), văn Cảnh Thư đường (Thờ Mẫu Liễu Hạnh), văn Mẫu thoải (thờ Mẫu Thoải) v.v… Hệ thống làn điệu trong Hát Văn thờ khá phong phú như: bỉ, miễu, thổng, phú bình, phú chênh, phú dầu, phú nói, đưa thư, vãn, dọc, cờn, hãm, kiều dương, dồn [2. 42]. Nhạc cụ được biết tới với năm loại chính là đàn nguyệt, trống ban, phách, cảnh và trống cái. Các nhạc cụ này chủ yếu giữ vai trò đệm và giữ nhịp cho các cung văn khi hát.

Âm nhạc trong tang lễ

Tang lễ là một nghi thức tín ngưỡng bản địa thể hiện quan hệ đạo đức và thuần phong mỹ tục trong văn hóa ứng xử giữa người sống và người chết. Toan Ánh khi nghiên cứu về tang lễ, đã viết: “Lễ tục nước ta trọng nhất là tang tế. Ngày nay tuy phong hội đã thay, công việc phiền phức, sự linh hoạt của người mình phải thực rộn ràng, thế thất phải theo thời biến thông, không thể nào cố thủ cổ lệ cả được. Nhưng cái tang lễ để ràng buộc lòng hiếu kính của người ta dù bao giờ cũng là những điều quốc túy rất hay cần phải giữ gìn lắm” [ 1. 463 ].

Ngày ngay dù cuộc sống hiện đại đã làm thay đổi nhiều trong lối sống văn hóa, nhưng việc hiếu thì vẫn được người ta đặc biệt quan tâm. Các hủ tục trong hành lễ không vì thế mà thay đổi. Giờ đây, thay vì mang xác người chết đi chôn, nhiều gia đình đã đem đi thiêu để giảm những phức tạp, song các nghi thức hành lễ vẫn đảm bảo như truyền thống. “Sống dầu đèn/ chết kèn trống”, vì thế âm nhạc tang lễ là phương tiện không thể thiết để thể hiện chữ “hiếu” đặc biệt tiễn đưa người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng. Âm nhạc tham gia vào trong quá trình cử hành tang lễ, từ khi nhập quan (đưa xác người vào quan tài) cho tới khi hạ huyệt (chôn xuống đất). Tổ chức dàn nhạc, bài bản và nguyên tắc sử dụng tuỳ theo địa phương mà quy ước có phần khác nhau.

Theo nghiên cứu, âm nhạc trong lễ tang ở khu vực Hà Nội trước đây, ngoài giai điệu của những bài khóc, chỉ có hai nhạc cụ chính là trống và kèn. Ngày nay thì chúng đã có những biến tướng khác đi nhiều. Dàn nhạc trong đám tang phần lớn lấy cả phường bát âm trong nghi thức lễ tế hội vào sử dụng.

Nếu theo truyền thống, trống sử dụng trong đám tang gồm có hai chiếc: một trống cái và một trống con (trống bản). Kèn chủ yếu sử dụng hai loại: 1) kèn bóp, còn gọi là kèn già nam hay gọi thẳng là kèn đám ma và 2) kèn pha (âm khu hơi trầm). Bài bản âm nhạc chính thống được sử dụng trong tang lễ gồm có các điệu lâm khốc ai (âm điệu rất buồn, sử dụng khi nhập quan và khi khóc tế), lâm khốc xuôi (âm điệu vui hơn, sử dụng chủ yếu trên đường chôn cất về), bản chở, bản dồn, chủ yếu được sử dụng ở nhà, khi dân làng, hàng xóm và những người tới thăm viếng cùng với điệu lâm khốc ai. Ngoài ra, những cụ cao tuổi gọi là được đại thọ thì người ta còn thổi thêm bản thái bình. Đây cõ lẽ cũng là một bài bản xuất hiện về sau, ảnh hưởng từ nhạc lễ?

Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo

Phật giáo truyền vào nước ta ngay từ những năm đầu Công Nguyên, bằng hai con đường: đường bộ đi từ Ấn Độ qua cao nguyên Tây Tạng vào Nam Trung Quốc rồi xuống nước ta; đường thủy men theo Ấn Độ Dương sang Inđônêxia vào phía Nam Việt Nam [ 3. 33]. Từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã không ngừng phát triển trên cơ sở tiếp thu những yếu tố văn hóa bản địa để hoà hợp với tư tưởng và nhân sinh quan nơi đến. Phật giáo lấy nghi lễ làm trung tâm tu tập, thực hành tôn chỉ của mình và giáo huấn chúng sinh. Bởi vậy, đóng góp của Phật giáo cho dân tộc ta không chỉ trên phương diện tư tưởng - triết học, đạo đức, mà còn trong hệ thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị, trong đó có nghệ thuật kiến trúc, mỹ thuật, văn học, âm nhạc...

Các công trình khảo cứu tư liệu thư tịch và khảo cổ học đã chỉ ra rằng, cách ngày nay hàng ngàn năm, âm nhạc Phật giáo đã có mặt trên đất nước ta [9. 292]. Trải qua quá trình giao thoa và không ngừng tiếp biến với văn hóa cổ nhạc dân tộc, Phật giáo đã hình thành cho mình một mô hình lễ nhạc riêng làm phong phú cho kho tàng âm nhạc truyền thống nước nhà. Đây là sự kết tinh, chuyển hoá giữa văn hóa nghệ thuật âm nhạc truyền thống dân tộc với tư tưởng, văn hóa Phật giáo, tạo nên sự phong phú và thống nhất trong đa dạng.

Nếu như âm nhạc trong tế lễ thành hoàng chủ yếu là nhạc đàn, thì âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo được nổi bật bởi nhạc hát (thanh nhạc) và được sử dụng trong hầu hết các nghi lễ, từ lễ Phật đản, lễ Vu Lan, lễ Hô thần nhập tượng... đặc biệt hấp dẫn và độc đáo trong nghi lễ Cầu siêu.

Tại khu vực Hà Nội hiện nay, bên cạnh các hình thức tụng kinh, đọc kệ, than cô hồn (trong các đàn lễ cầu siêu), người ta đặc biệt chú ý tới các hình thức tán canh. Đây có thể coi là một trong những di sản, và là “đặc sản” trong âm nhạc Phật giáo đồng bằng sông Hồng nói chung, khu vực Hà Nội nói riêng. Nếu như hát Văn được coi như âm nhạc đặc trưng trong tín ngưỡng Tứ phủ thì tán canh chính là một đặc trưng âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở đây. Qua điền dã, nghiên cứu nhạc lễ Phật giáo tại khu vực Hà Nội, chúng tôi được biết, hiện nay tại khu vực này còn bảo tồn được số lượng 13 bài bản canh khá phong phú và độc đáo, gồm các canh: lô hương, xạ nhiệt, chí tâm, phú, hoàng kim, thổng, hãm, giới đinh, dương chi, tả thủ, canh ai, đông ba, bảo đỉnh (đàn thượng). Đặc biệt, theo như các sư tăng và thầy cúng, chúng tôi còn được biết tại khu vực Hà Nội trước đây còn tồn tại ba “lò” canh chính. Đó là lò canh chùa Bộc, lò canh Quảng Bá - Tây Hồ và lò canh chùa Thanh Nhàn [ 6. 44].

Biên chế dàn nhạc trong nghi lễ Phật giáo thông thường bao gồm: nhạc cụ thân vang có chuông, mõ, tiu cảnh, thanh la, não bạt; nhạc cụ màng rung có trống cái (trống lớn), trống bản và trống dẫn; nhạc cụ hơi có kèn tiểu, kèn la, nhạc cụ dây có đàn nguyệt và nhị. Tuy nhiên, hai nhóm nhạc cụ sau chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây, dàn nhạc truyền thống sử dụng trong nghi lễ Phật giáo trước đây ở Hà Nội không có. Vấn đề này tác giả sẽ trình bày thêm ở phần dưới. Dàn nhạc trên chủ yếu sử dụng bốn nhịp trống chính là trống pháp lôi, trống hiến thượng đường, trống dẫn lục cúngtrống sai.

Như vậy, qua vài nét giới thiệu trên đây cho thấy, âm nhạc trong mỗi nghi lễ đều có những cách thức tổ chức bài bản và nhạc cụ không giống nhau. Tuy nhiên, chúng đều gặp nhau tại một điểm là sinh ra từ trong nghi lễ và để phục vụ cho các nghi lễ. Do đó, để có cái nhìn đúng đắn, tránh ngộ nhận khi tiếp cận với các thể loại và hình thức nhạc lễ, chúng ta phải có cái nhìn tổng thể và cơ bản phải phân biệt được về cơ cấu tổ chức cũng như quy chuẩn bắt buộc của mỗi thành phần âm nhạc gắn với từng nghi lễ. Nói điều này để đề cập tới một thực trạng là hiện nay tại khu vực Hà Nội nói riêng, khu vực đồng bằng sông Hồng nói chung, các hình thức âm nhạc được sử dụng trong nghi lễ tôn giáo và tín ngưỡng đã và đang có xu hướng biến tướng, lai căng.

3. Đời sống âm nhạc tôn giáo - tín ngưỡng Hà Nội: tiềm năng và nguy cơ mai một

 

Di sản nhạc lễ Hà Nội nói chung chứa đựng nhiều nhiều yếu tố, giá trị độc đáo. Những hình thức, thể loại nhạc lễ ở khu vực này có mặt và gắn liền với đời sống sinh hoạt tâm linh của người dân hàng tháng, cả năm. Vào dịp đầu xuân được coi là thời gian mà diện mạo nhạc lễ ở Hà Nội diễn ra đậm đặc nhất. Đó là nghi lễ tế thành hoàng ở nhiều đình làng; lễ cầu an cho các Phật tử và nhân dân trong nhà chùa; các Phủ mở tiệc mừng thánh Mẫu và để đón tiếp các con nhang, đệ tử tới cầu may; và đâu đó, lễ tang vẫn diễn ra trong khu phố, hẻm ngõ. Theo đó, Hát Văn lúc rôm rả, nhộn nhịp, khi trang nghiêm nền nã diễn ra suốt ngày đêm; tiếng chuông chùa, tiếng mõ, nhịp trống dẫn lục cúng rộn ràng mà nghiêm trang; tiếng trống chiêng điểm báo các cụ chuẩn bị dâng lễ tế thành hoàng; và tiếng ai oán báo hiệu cho ta thấy đã có ai đó vừa trở về “bên kia thế giới”! - tạo nên một diện mạo âm nhạc tín ngưỡng vô cùng phong phú và đặc sắc.

Âm nhạc Phật giáo Hà Nội vừa thể hiện được sự phong phú về thể loại lại vừa độc đáo khác biệt so với nhiều địa phương ở riêng khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Điều đó hiện còn bảo tồn ở nhiều sư tăng, thầy cúng, cung văn, bô lão cao tuổi vẫn thường tham gia trong các chùa, đình, đền của các làng, phường.

Hát Văn nói chung, Hát Văn thờ nói riêng của Hà Nội cũng giữ được những nét tinh tế, khuôn phép và trình độ nghệ thuật riêng so với nhiều địa phương. Đó là kết quả của quá trình tinh lọc các thế hệ những người có khả năng nắm giữ vốn truyền thống, những hạt nhân xuất sắc ở từng địa phương và được tuyển chọn về Hà thành sinh sống. Âm nhạc trong tế rước thành hoàng ở Hà Nội hiện nay có thể coi là một di sản đặc biệt có giá trị. Ở đó hiện còn bảo tồn được nhiều bài bản âm nhạc cổ, và những điệu múa gắn với âm nhạc cổ truyền xưa kia mang phong cách khác nhau giữa các đình làng rất độc đáo. Và âm nhạc trong tang lễ của người Hà Nội vẫn được những người “nhà nghề” lớn tuổi lưu truyền phong cách độc đáo riêng riêng so với các vùng lân cận.

Năm nay, nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, người dân Hà Nội sẽ được chứng kiến không khí tưng bừng của đời sống âm nhạc và di sản văn hóa truyền thống quý của cha ông mình truyền lại trong các nghi lễ ở các làng khắp Thủ đô.

Tuy nhiên, cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế thị trường, song song với việc đẩy mạnh các hoạt động giao lưu hội nhập và hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực, thì âm nhạc truyền thống Việt Nam nói chung, nhạc lễ khu vực Hà Nội nói riêng không nằm ngoài quy luật biến đổi cơ bản. Nguyên nhân của thực trạng này bắt đầu từ sự giao lưu mở rộng vùng hoạt động giữa các sư tăng và thầy cúng trong các nghi lễ ở Hà Nội và một số địa phương khác. Trong đời sống âm nhạc tôn giáo, những người thực hiện các nghi lễ Phật giáo ở khu vực Hà Nội thường được mời về thực hiện các nghi lễ ở những tỉnh lân cận. Ngược lại, những đàn lễ kéo dài nhiều ngày ở một số ngôi chùa Hà Nội cũng đã mời những đội cúng, những sư tăng ở các địa phương khác lên thực hiện. Ở đây, sự tiếp thu, ảnh hưởng phong cách giữa các địa điểm vì thế mà diễn ra phổ biến. Tính đặc trưng vùng miền đang có dấu hiệu lai căng. Bên cạnh đó, trong nhiều ngôi chùa lớn của Hà Nội hiện nay sử dụng nhiều đĩa nhạc tụng kinh do các sư Đài Loan và Trung Quốc thực hiện và sản xuất. Nó không những bị ảnh hưởng âm nhạc trong cùng một tôn giáo ở các địa phương khác nhau, mà còn bị ảnh hưởng một số hình thức âm nhạc tín ngưỡng và tôn giáo khác. Biểu hiện cụ th

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4828607