 Một phần dàn trống kỵ binh. |
Nhạc cụ gõ là một phần máu thịt của âm nhạc truyền thống nói chung và nhạc cung đình nói riêng, góp phần tạo nên cốt cách bản sắc văn hóa Việt Nam.
Những nhạc cụ gõ hiện có trên lãnh thổ Việt Nam vô cùng phong phú về số lượng, chủng loại và âm sắc, rất đa dạng về chức năng và chiếm vị trí quan trọng trong hầu hết các loại hình nghệ thuật truyền thống. Hàng trăm loại nhạc cụ gõ đã đóng góp cho kho tàng âm nhạc truyền thống Việt Nam ngày một giàu có. Chỉ tính từ đời Lý (thế kỷ X) đời Trần (thế kỷ XIII) đời Lê (thế kỷ XIV) cho tới đời Nguyễn (thế kỷ XIX), nghệ thuật âm nhạc nói chung, âm nhạc cung đình nói riêng đã có những bước tiến lớn trong việc hình thành dòng văn hóa âm nhạc bác học chuyên nghiệp.
Năm 1060, Lý Thánh Tông cho tiếp nhận âm nhạc Chămpa, chuyển soạn các nhạc khúc Chăm cho các ban nhạc múa ca cung đình luyện tập và sử dụng. Trong số những nhạc cụ tham gia dàn nhạc đặc biệt có trống cơm (phạn cổ) và não bạt là nhạc gõ. Âm nhạc cung đình đời Trần (thế kỷ XIII-XIV) dàn đại nhạc, tiểu nhạc có dùng ba loại nhạc cụ gõ với ba âm sắc khác nhau: chũm chọe (bộ tiểu bạt) được đúc bằng đồng. Trống cơm (phạn cổ) có thân dài hình ống, phình ở giữa và hai đầu bịt mặt da được gắn cơm ở trung tâm mặt trống, khi vỗ ở hai đầu âm thanh trầm, bổng khác nhau. Trống cái (đại cấu) âm trầm hùng vang dội mỗi khi dùi trống được tác động vào chính giữa mặt da.
Bộ Đồng văn, Nhã nhạc đời Lê (năm Quang Hưng 1578) nhạc gõ dùng trống ngưỡng thiên, trống mảnh một mặt sơn vàng, tang mỏng, ngoài ra còn có long sinh, long phách và phách xâu tiền. Đội nhạc binh (Kị binh và Bả lệnh) đời vua Lê - chúa Trịnh, thường dùng bộ gõ 10 trống đi kèm với một trống to (đại cổ) và dàn nhạc hơi cho đội Kỵ binh. Đội Bả lệnh lại dùng nhiều mõ cùng với các loại trống trong đó đặc biệt có loại trống phong yêu hai mặt hình ống nhưng thắt ở giữa thân, khi vỗ âm thanh phát ra tiếng "tầm" bên này, tiếng "bông" ở đầu bên kia, vì vậy trống này còn có tên "trống tầm bông". Dàn Nhã nhạc đời Nguyễn (thế kỷ XIX) ngoài những nhạc cụ hơi và dây, nhạc cụ gõ chỉ sử dụng một trống có một mặt da (bản cổ) cùng với một thanh la ba âm (tam âm la) và một sanh tiền. Trong lễ tế Nam Giao, nhạc cụ gõ còn được sử dụng tới 28 trống và một số nhạc gõ khác như thanh la, đồng la bên cạnh những nhạc cụ hơi. Riêng đội nhạc huyền sử dụng dàn 12 chuông và dàn 12 khánh đá cộng với dàn tám trống và nhiều nhạc cụ khác nữa.
Nhạc cụ gõ Việt Nam chỉ điểm qua một vài loại đã thấy phong phú biết bao. Cho đến nay, việc thống kê, sưu tầm, nghiên cứu và phát huy những giá trị của hàng trăm loại nhạc gõ khác nhau trên đất nước ta chưa được là bao so với thành quả của ông cha bao đời để lại.
|
 Chiêng.
|
 Tam âm la.
|
 Sanh tiền.
|
|
 Trống bồng.
|
 Phách gỗ.
|
 Mõ sừng trâu.
|
Bài: Thao Giang Ảnh: Trần Định
http://vietnam.vnanet.vn/Internet/vi-VN/49/130/5/2399/6/2004/Default.aspx
|