Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Âm nhạc cổ truyền

Tiểu sử nhạc sĩ cổ nhạc miền Nam

Khi

Nghệ sĩ Huỳnh Khải sinh năm 1957 tại Thủ Thừa, tỉnh Long An. Ngay từ nhỏ, ông đã rất mê đàn ca tài tử.

Lên 9 tuổi, ông được cha truyền nghề và đồng thời cho ông theo học guitar phím lõm.


Sau 1975, ông làm trưởng ban văn nghệ xã. Ông chơi khá điêu luyện 20 bản tổ và nhiều giai điệu cải lương bằng đàn Kìm, đồng thời vừa có thể sáng tác và chơi đàn guitar phím lõm.


Thời gian sau này, ông thi vào Nhạc Viện Thành phố Hồ Chí Minh học trung cấp đàn Kìm. Khi lên bậc đại học thì ông học thêm đàn Tranh.


Cuối năm 2003, nghệ sĩ Huỳnh Khải đã trình tấu bảo vệ thành công luận án tốt nghiệp Cao học Sư phạm âm nhạc dân tộc tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh. Nghệ sĩ Huỳnh Khải đã thực sự chinh phục ban giám khảo khi ôm cây đàn kìm ngồi giữa dàn nhạc giao hưởng biểu diễn tác phẩm Bình minh (concerto của nhạc sĩ Quang Hải soạn cho đàn kìm và dàn nhạc giao hưởng). Đặc biệt là luận văn tốt nghiệp với đề tài Phương pháp sư phạm đàn kìm trong âm nhạc tài tử, sân khấu cải lương và sáng tác mới cho đàn kìm.


Đặc biệt luận văn của ông đã được in thành sách gồm 3 phần: Lý thuyết về nhạc lý, các bài tập thực hành và CD minh hoạ. Đây được coi là giáo trình giảng dạy có hiệu quả tại Nhạc viện Thành Phố Hồ Chí Minh của thạc sĩ - nghệ sĩ Huỳnh Khải.


Năm 2005, ông đã được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú về những đóng góp cho nghệ thuật dân tộc.

]Nhạc sỹ Cao Văn Lầu

Cao Văn Lầu tức Sáu Lầu, sinh ngày 22/12/1892 tại xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ, sau sáp nhập với làng Thuận Lễ trở thành xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Năm 1901, ông Cao theo gia đình đến lập nghiệp tại Bạc Liêu rồi ở luôn tại đây cho đến hết đời (ông qua đời ngày 13/8/1976).

Thân phụ của ông cũng là Nghệ nhân –Hương nhạc chỉ huy ban nhạc lễ trong làng, tên là Cao Văn Giỏi (Chín Giỏi). Trong thời kỳ thực dân, phong kiến, hoàn cảnh khó khăn, gia đình ông sống nay đây, mai đó và cuối cùng dừng lại ở Bạc liêu.


Thuở nhỏ, ông học chữ nho rồi học chữ quốc ngữ đến "lớp nhì năm thứ hai" (Cours moyen 2e année); sau đó đi quy tại chùa Vĩnh Phước - Bạc Liêu. Rời cửa Phật, ông học nhạc lễ và là một trong những môn đệ giỏi về nhạc lễ của nhạc sư Lê Tài Khị (Nhạc Khị). Ông sử dụng rành rẽ đàn tranh, cò, kìm và trống lễ.


Bản vọng cổ (ban đầu có tên là Dạ cổ, tiếp đó là Dạ cổ hoài lang và bây giờ là Vọng cổ), được ông sáng tác khoảng năm những 1918, dựa từ tứ thơ trong điệu Nam ai với bài Tô Huệ Chức cẩm hồi văn để sáng tác. Năm 1919 bài hát được phổ biến trong giới tài tử Bạc Liêu.


Vào đầu những năm 1920, khi sân khấu Cải lương ra đời và phát triển, người ta đã đưa bài vọng cổ vào (bản vọng cổ hoàn chỉnh nhịp 32, nhưng tác giả còn có những bản lẻ được tách ra và viết hoàn chỉnh để phù hợp với từng lớp trong các vở diễn cũng như trên các ấn phẩm băng đĩa nhạc.

Nhạc Sỹ Văn Vỹ



Nghệ sĩ Văn Vĩ tên khai sinh là Đinh Văn Dậm, ông sinh năm 1929 tại xã Bình Đăng, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.

Năm 3 tuổi, do bị bệnh nặng đã khiến ông bị mù. 7 tuổi, ông theo gia đình lên bạc Liêu sinh sống và tự học đàn cò líu. Sau đó, ông về Thuận Đông sinh sống và học đàn Kìm với thầy Bảy Thừa. Tiếng đàn của Văn Vĩ rất hay nên năm 14 tuổi, ông được nhận vào chơi đàn cho gánh hát Minh Tinh.


Năm 16 tuổi, Văn Vĩ gia nhập nhóm đàn ca tài tử ở Sài Gòn.


Năm 1950, ông vào làm ở Đài phát thanh Pháp Á (ban Việt Nam cổ nhạc kịch đoàn do tài tử Tám Thưa làm trưởng ban). Đồng thời cộng tác với nhiều gánh hát khác.


Văn Vĩ thành danh trên cả hai lĩnh vực đàn và ca tài tử với một phong cách diễn tấu xuất thần, tài ba.


Hiện tại, ông vẫn thường xuyên tham gia vào các chương trình cổ nhạc, thu thanh, ghi hình. Là một trong những người tích cực vào các hoạt động phong trào, Góp phần vào việc giữ gìn và phát triển nghệ thuật đàn ca tài tử.

Nhạc sỹ Ba Tu

Nghệ sĩ Ba Tu tên khai sinh là Trương Văn Tự, sinh năm 1938 ở xã Tân Lân, huyện Cần Đước tỉnh Long An.

Ông được học chơi đàn từ nhỏ, dưới sự hướng dẫn của Thầy Chín Phàn.

Những năm kháng chiến chống Pháp, ông lên Sài Gòn và gia nhập Đoàn Tiếng vang Thủ Đô, đi lưu diễn ở khắp nơi. Thời gian này đã giúp ông có thêm nhiều kiến thức để tiếp tục đi trên con đường nghệ thuật.

Những năm 60 ông diễn cho Đoàn Phước Thành, rồi Đoàn Minh Tơ. Sau năm 1975, ông về Đoàn Cải lương Sài Gòn 3, rồi về Nhà hát Trần Hữu Trang cho đến khi nghỉ hưu.


Là người được mệnh danh là “ Đệ nhất danh cầm – chuyên đàn Kìm”, nhưng nghệ sĩ Ba Tu chơi rất tốt cả đàn Cò, Tranh, Sến, Guitare phím lõm . Ông đã đào tạo được nhiều thế hệ nhạc công chơi đàn xuất sắc.


Tiếng đàn của ông đã được thu thanh và ghi hình phát sóng trong các vở: Nước biển mưa nguồn, Trọng Thủy Mỵ Châu, Pha lê và cát bụi, Tuyệt tình ca, Tô hiến thành xử án.


Ông cũng đã phát hành Album: Đàn ca tài tử Nam Bộ.


Với đóng góp của ông cho nghệ thuật đàn ca tài tử, cũng như nghệ thuật Cải Lương, ông đã được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú năm 1997.

Nhạc sỹ Hoàng Huệ

Nghệ sĩ Hoàng Huệ sinh năm 1947 trên đất nước Chùa Tháp (Phnônpênh - CamPuchia).

Vốn say mê cải lương nên năm 16 tuổi, ông chọn sân khấu Cải lương để lập nghiệp.


Năm 18 tuổi (1964), ông bắt đầu theo các gánh hát Việt kiều trên đất bạn như: Thủ đô, Thống Nhất, Công Nhân, Tuồng Thăng Cổ…


Năm 1970, Hoàng Huệ sang Việt Nam, vừa làm thợ máy vừa là tài xế, vừa rèn luyện ngón đàn do Thầy Hai Ngưu truyền dậy.


Năm 1973, ông được nghệ sĩ Bạch Tuyết mời đàn cho Đoàn Bạch Tuyết và sau đó là Đoàn Tiếng hát dân tộc, Ban ca kịch Thành công, hãng băng Continental cho đến năm 1975.


Sau Giải phóng, Hoàng Huệ trở thành một trong những người có ngón đàn điêu luyện qua hàng trăm vở diễn của các đoàn hát Tây Giang (Kiều Mai Lý), Sài Gòn III, Thanh Nga, Trần Hữu Trang, Minh Tơ, Sân khấu tài năng… ông đã góp phần chắp cánh cho giọng ca trên sân khấu. Ngoài ra, ông còn thu thanh cho Đài Tiếng nói Nhân dân, Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, Đài Tiếng Nói Việt Nam và các hãng băng đĩa.


Sở trường của ông không chỉ là cây Guitare phím lõm mà còn cả đàn kìm, Sến, Violn, Cò, Tranh với ngón đàn tươi vui, độc chiêu, nhưng cũng réo rắt, ai oán.


Năm 1995, ông về là Trưởng Đoàn Cải lương Long An trong 7 năm.


Năm 1997, ông được phong Nghệ sĩ Ưu tú


Năm 1999, được tặng Huy chương Vì sự nghiệp sân khấu Việt Nam


Năm 2001, được tặng Huy Chương vì sự nghiệp văn hóa.


Năm 2002, tại Liên hoan sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc ông đã chơi đàn, dàn dựng cho nhiều Đoàn nghệ thuật và được Hội Nghệ sĩ Sân khấu trao Giải thưởng nhạc sĩ chỉ huy dàn nhạc có hiệu quả nhất.


Cũng năm 2002, ông chuyển sang Nhà văn hóa Long An, dạy đàn ca tài tử.


Nghệ sĩ Hoàng Huệ đã có nhiều đóng góp cho sân khấu dân tộc, đồng thời ông cũng góp phần đào tạo được nhiều thế hệ nghệ sĩ chơi đàn ca tài tử

Nhạc sỹ Bảy Bá

Nghệ sĩ Bảy Bá, tên thật là Huỳnh Trí Bá, tức soạn giả Viễn Châu. Ông sinh năm 1924 trong một gia đình nho học tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Ngay từ nhỏ ông đã mê đàn ca, tài tử (cả tân lẫn cổ) và thường có mặt trong các buổi đàn ca tài tử.


Vì lòng yêu thích và sự ham hiểu biết nên ông tự học đàn ca tài tử qua các chương trình ca cổ đã được phát hành qua các đĩa nhựa và qua Đài phát thanh, tìm đến các nghệ sĩ, nghệ nhân như: Văn Võ hí ban, bầu Lúa, bầu Phục, bầu Hùng để học hỏi.


Năm 19 tuổi, ông đàn thành thạo nhiều loại nhạc cụ như: Đàn tranh, violon, guitar. Sau đó ông chơi trong nhóm nhạc cùng nhiều nghệ sĩ tài danh lúc bầy giờ như: Jean Tịnh (violon), Bảy Hàm (đàn cò), Hai Biểu (tranh), Chín Hòa (kìm)... là một ban cổ nhạc có tiếng ở Đài phát thanh. Nhóm nhạc của ông thường đàn cho các danh ca: Cô Năm Cần Thơ, Ngọc Nữ, Ba Vĩnh Long, Tư Bé...


Năm 1946, gia đình ông tham gia kháng chiến. Năm 1946, anh trai ông bị địch bắt, ông phải trốn lên Sài Gòn, chơi đàn cho Đoàn Năm Châu (lúc này là đoàn Con Tằm), nhưng không lâu sau đó ông bị địch bắt, bị tra tấn dã man rồi đày ông đi Cẩm Giang.


Năm 1949, ông trốn về Sài Gòn tiếp tục làm việc tại Đoàn Con Tằm với tên Trương Văn Bảy.


Không chỉ giỏi tay đàn, nghệ sĩ Bảy Bá còn viết kịch bản. Năm 1959, ông có sáng kiến viết bài vọng cổ hài, tạo sự mới mẻ và gây tiếng vang lớn về bản vọng cổ hài hước. Đến nay nhiều người còn nhớ những bài: "Tôi đi làm rể", "Ba chàng rể quý", "Tư Ếch đi Sài Gòn", "Vợ tôi tôi sợ", "Văn Hường nể vợ", "Tâm sự Văn Hường", "Vợ tôi nói tiếng Tây"...


Năm 1964, ông lồng ghép giữa tân nhạc và nhạc cổ (tân cổ giao duyên). Bản đầu tiên "Chàng là ai?" (Tân nhạc của Nguyễn Hữu Thiết) được công chúng nồng nhiệt đón nhận. Ngay lập tức ông được các hãng đĩa mời cộng tác và phát hành đĩa.


Miệt mài trong lao động nghệ thuật, hơn nửa thế kỷ cầm đàn, cầm bút, sự nghiệp sáng tác của ông đã có hơn 70 vở tuồng và hơn 2.000 bản vọng cổ! Cho tới nay, dù đã bước qua cái tuổi "thất thập cổ lai hy" nhưng ông vẫn miệt mài sáng tác. Nhiều vở tuồng của ông cho tới nay vẫn được người xem nhắc đến như: "Nát cánh hoa rừng" (vở đầu tay), "Đường ra biên ải", "Đời cô Nga", "Người mẹ mù", "Viên ngọc rắn thần", "Hoa Mộc Lan", "Con gái Hoa Mộc Lan", "Tình mẫu tử" …


Năm 1988, soạn giả Viễn Châu được nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú.

Nhạc sỹ Mười Phú

Nghệ sĩ Mười Phú sinh năm 1925, tại Cần Thơ. Mất năm 2005

Năm lên 7 tuổi, Mười Phú học đàn qua hướng dẫn của thầy giáo Thinh (Cố NSƯT Nguyễn Văn Thinh), một số bản như: Bình Bán Văn, Kim Tiền Huế, Mẫu Tầm Tử, Long Hổ Hội, Xang Xừ Líu. Niềm đam mê âm nhạc đã thôi thúc ông luyện tập nhiều bài bản nhạc tài tử.


Nghệ sĩ Mười Phú có thể chơi được đàn cò, violon, ghi ta, kìm, sến. Trên sân khấu cải lương Hoài Dung - Hoài Mỹ, bên cạnh danh cầm Tư Còn chơi đàn guitar, Tư Huyện thổi tiêu, thì tiếng vĩ cầm của nghệ sĩ Mười Phú thật mượt mà, uyển chuyển với những ngón đàn tinh tế, điêu luyện, sâu lắng, quyến rũ người nghe.


Năm 1967, nghệ sĩ Mười Phú tham gia dàn nhạc ban Tạp lục Tùng Lâm, Đài phát thanh Sài Gòn.


Năm 1975, ông tiếp tục cộng tác trong các chương trình đàn ca tài tử, trích đoạn cải lương của Đài Tiếng Nói Nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh, Đài Truyền Hình Thành phố.


Sau đó, ông được mời vào Trường Nghệ Thuật Sân Khấu II, TP Hồ Chí Minh, nay là trường Cao đằng Sân khấu Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, phụ trách và giảng dạy môn đàn cò. Đồng thời ông còn mở nhiều lớp đàn ca tài tử tại tư gia và đã đào tạo được nhiều học trò thành danh như: Nhất Dũng, Nguyễn Minh Thành, Xuân Huyện, Thoại Miêu, Thanh Vân, Bình Trang, Thanh Huệ v.v...


Thời gian này, ông bắt đầu nghiên cứu lý luận về bài bản nhạc tài tử, soạn lời mới cho nghệ thuật tài tử, cải lương. Ông đã biên soạn 2 tập bài bản ca để phục vụ cho đào tạo và biểu diễn đàn ca tài tử, cải lương. Những tập này đều do ông biên soạn, đã góp phần lớn trong phong trào đàn ca tài tử. Sáng tác nhạc phẩm “`Ngũ Khúc Long Phi``, với cấu trúc hình thức chuyển điệu rất tinh tế.


Năm 1991, nghệ sĩ Mười Phú được tham gia trong dàn nhạc dự Diễn đàn âm nhạc châu Á, cùng với các nhạc sĩ: Năm Vinh, Vuỹ Chỗ, Mười Đờn, Sáu Xiêu.


Mười Phú là một nghệ nhân có tên tuổi trong giới đàn ca tài tử. Ông là thành viên của nhiều câu lạc bộ đàn ca tài tử ở phía Nam, là cộng tác viên của nhiều chương trình cổ nhạc trên sóng phát thanh và truyền hình. Đồng thời ông cũng là một nhà sư phạm âm nhạc tận tụy, một nhạc sĩ sáng tác nhạc tài tử, một nghệ sĩ biểu diễn điêu luyện

Nhạc Sỹ Năm Cơ

Nghệ sĩ Năm Cơ tên khai sinh là Dương Văn Cơ, sinh năm 1917 trong một gia đình gốc Triều Châu – Trung Quốc, quê ở Lạc Thạch, nay là Thạch Hòa, Hòa Sơn tỉnh Trà Vinh.

Năm 7 tuổi, do nhà nghèo phải đi ở thuê, những lúc rảnh rỗi, ông thường chơi những bản nhạc truyền thống Triều Trâu bằng cây đàn Đoản. Những năm 1930, tiếng đàn Kìm của nhạc sĩ Sáu Từng cùng giọng ca của cô Ba Trà Vinh, Cô Năm Cần Thơ trong bài Vọng cổ Nhịp 16 của nhạc sĩ Cao Văn Lầu được hãng đĩa Pathé phát hành một bộ hai đĩa “kiến tình trung nghĩa” và “Khóc bạn”. Giai điệu thiết tha, sâu lắng của bài vọng cổ đã khiến Dương Văn Cơ mê đắm. Từ đấy ông bắt đầu học chơi cây đàn Kìm mà ban đầu là nghe và tự học từ 2 chiếc đĩa đó. Từ đàn Kìm, ông tiếp tục nghiên cứu và học từ các nghệ nhân một số loại nhạc cụ dùng trong ban nhạc Tài tử Nam Bộ như: Guita phím lõm, Đàn Sến.


Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông lên Sài Gòn mưu sinh bằng nghề chơi nhạc và dần khẳng định được tài năng của mình. Năm 1950, ông được Đài Phát thanh Pháp – Á mời cộng tác trong dàn nhạc cổ. Sau đó ông chơi Thập lục huyền cầm và Nguyệt Cầm, thu thanh cho Hãng đĩa Hoành Sơn và Hãng đĩa Asia. Thời gian này ông cùng nhạc sĩ Bảy Bá, cô Ba Trà Vình, bộ 3 đã trở thành hiện tượng trong đời sống âm nhạc Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung. Họ vừa sáng tác bài bản mới, vừa ca và diễn, rồi độc tấu, song tấu và hòa cùng giọng ca của Cô Ba Trà Vình.


Năm 1956, gánh hát của bầu Long – Kim Chung bắt đầu thực hiện việc đưa Cải lương thành một công nghệ kinh doanh. Ông thành lập mô hình “Công ty mẹ, công ty con” mà thương hiệu Kim Chung dùng chung cho cả đoàn hát với nhiều êkíp khác nhau. Thời gian này, nhóm của ông và đặc biệt tài năng chơi đàn Kìm của ông đã đồng hành và mang đến thành công cho sân khấu Kim Chung trong thập niên 1960 -1970.


Nhiều giọng ca cải lương như Cô Ba Trà Vinh, Cô Năm Cần Thơ, Út Trà Ôn, Hữu Phước, Mỹ Châu, lệ Thủy, Thanh Kim Huệ, Minh Vương, Thanh Tuấn… các thế hệ trước và sau giải phóng nhờ tiếng đàn của ông mà thăng hoa trong nghệ thuật. Không những thế, các nghệ sĩ hát Bội của ban Vân Hạc như Đinh Bằng Phi, Cô Năm Đồ, rồi giới Tuồng (Cải lương Hồ Quảng) như: Thanh Tòng, Thanh Bạch, bạch Mai, Thanh Thế vẫn coi là học trò của Năm cơ – người cho ngón đàn Kìm tuyệt kỹ.

http://www.conhacvietnam.com/diendan/viewtopic.php?f=12&t=775&start=0

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 4828762