Goong Kram
Goong Kram hay Goong Đer (Giarai), Goong Rơ La (Mnông gar), Koktalư (Raglay)... là nhạc cụ họ dây chi gẩy của dân tộc Êđê.
Thân đàn là một ống tre già hai đầu có mấu được đục thông, dài 70 cm, đường kính 10 cm. Từ chính phần cật của ống tre người ta tách ra 2 cặp dây đôi và 2 dây đơn (6 dây). Trên đầu mỗi dây được đệm bằng những mảnh tre nhỏ để làm ngựa đàn và để điều chỉnh độ cao thấp của âm thanh (âm thanh cao ngựa đàn cao, âm thanh thấp ngựa đàn thấp). 6 dây đàn cho 6 âm: Đô1- Sol1 (cặp dây đôi 1) Sol1- Si1 (cặp dây đôi 2); Si - Mi (2 dây đơn).
Khi sử dụng, người biểu diễn ngồi xếp bằng trên sàn, hai chân tỳ giữ đàn, các ngón tay lần lượt búng vào các dây đàn tạo ra âm thanh nghe giòn giã vui tai.
Goong Kram là nhạc cụ do nam giới sử dụng ở những nơi yên tĩnh trong sinh hoạt thường ngày và trong sinh hoạt giao duyên.
Đính kèm (1)
Kok-ta-lư
Kok-ta-lư là nhạc cụ họ dây, chi gảy của dân tộc Raglay tỉnh Ninh Thuận Thân đàn được làm từ một ống tre thông hai đầu, đường kính 8 cm, dài 50 cm. Đàn có 12 dây được tách ra từ chính phần cật của ống tre, dây đàn được chia thành 6 cặp dây đôi. Cứ mỗi cặp dây được nối với nhau bằng một miếng tre ở khoảng giữa của dây đàn. Miếng tre vừa có tác dụng là điểm gẩy, vừa có tác dụng để truyền âm vào bầu cộng hưởng thông qua lỗ thủng ở thành bầu cộng hưởng nằm ở dưới miếng tre. Hai đầu của mỗi dây đàn được kê bằng những miếng tre nhỏ vừa làm ngựa đàn, vừa để điều chỉnh cao độ. Mỗi dây đôi cho một cao độ, Kok-ta-lư gồm có 5 âm như sau: Mi - Sol - La - Si - Đô.
Khi sử dụng, người chơi có thể đứng hoặc ngồi, hai tay cầm Kok-ta-lư đặt trước bụng, các ngón tay lần lượt bật vào các dây đàn tạo ra âm thanh nghe đục nhưng vang.
Kok-ta-lư là nhạc cụ dành cho nam giới dùng để độc tấu, hòa tấu, mô phỏng lại âm thanh, bài bản của dàn mã la 6 chiếc.
Đính kèm (1)
Zèn xìn
Zèn xìn là nhạc cụ thuộc họ dây, chi gẩy của dân tộc H?mông (cư trú ở miền núi phía Bắc Việt).
Zèn xìn gồm: Cần đàn, thùng đàn, mặt đàn, thủ đàn và dây đàn. Cần đàn làm bằng gỗ cứng hình chữ nhật to và ngắn, chiều dài 20 cm, dày 2 cm, rộng 2,5 cm. Thùng đàn (hộp cộng hưởng) hình hộp tròn dẹt đường kính 32 cm, thành hộp cao 2,5 cm. Mặt đàn làm bằng gỗ mỏng có khắc hoa vǎn trang trí và khoét lỗ thoát âm. Thủ đàn được tạo dáng hình con dơi có gắn 4 trục lên dây. Dây đàn se bằng tơ tằm vuốt sáp ong hay nhựa khoai lang (nay người ta dùng dây ni lông). Zèn xìn có 11 lỗ bấm, 5 phím gắn trên cần đàn, 6 phím gắn trên mặt đàn. 4 dây đàn, 2 dây to đồng âm, 2 dây nhỏ đồng âm được lên cách nhau một quãng nǎm: Fa1 - Do2.
Âm vực của Zèn Xìn rộng 2 quãng 8. Âm thanh của Zèn Xìn trong sáng, thanh thoát, đều đặn, đanh khô ít vang.
Người ta chơi Zèn Xìn bằng cách đặt đàn trước bụng tay trái bấm phím đàn, tay phải dùng miếng gẩy nhựa hình tam giác gẩy vào dây đàn với các kỹ thuật gẩy, hất, vê... Kỹ thuật tay trái có ngón vuốt, ngón nhấn, ngón luyến, đánh chồng âm. Zèn Xìn dùng để độc tấu, hoà tấu với kèn lá, do nam giới sử dụng trong sinh hoạt thường ngày.
Đính kèm (1)
Tam Thập Lục
Là nhạc khí dây, chi gõ của dân tộc Việt. Đàn có 36 dây nên được gọi là Tam Thập Lục.
Đàn Tam thập lục hình thang cân, mặt đàn hơi phồng lên ở giữa, làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Cầu đàn, thành đàn làm bằng gỗ cứng, trên mặt đàn đặt so le hai hàng ngựa, mỗi hàng 18 ngựa. Cần đàn bên trái có 36 móc để mắc dây, bên phải có 36 trục để lên dây. Dây đàn làm bằng kim khí. Que đàn được làm bằng hai thanh tre mỏng, dẻo, ở đầu được quấn dạ để tiếng đàn được êm. Âm thanh đàn Tam thập lục trong sáng, thánh thót, rộn rã.
Âm vực đàn Tam thập lục tương đối rộng. Từ âm trầm nhất đến âm cao nhất trên hai quãng 8, được mắc theo gam nguyên.
- Khoảng âm dưới: Tiếng đàn ấm áp, khá vang.
- Khoảng âm giữa: Tiếng đàn đầy đặn, trong.
- Khoảng âm cao nhất: Tiếng đàn sắc, gọn.
Khi biểu diễn nhạc công dùng 2 que gõ vào mặt đàn tạo ra các ngón như: Ngón rung, ngón vê, ngón bịt, ngón á, đánh cồng âm, hợp âm...
Đàn Tam thập lục giữ vai trò quan trọng trong các dàn nhạc sân khấu chèo, cải lương. Đàn đệm cho hát, độc tấu, tham gia dàn nhạc dân tộc tổng hợp.
Đính kèm (1)
Tàn Máng
Tàn Máng là nhạc họ dây, chi gẩy của dân tộc Mường. Tàn Máng có hình dáng gần giống đàn bầu của dân tộc Việt, nhưng cấu tạo đơn giản hơn. Đàn gồm các bộ phận: Thân đàn (hộp cộng hưởng), Vòi đàn, dây đàn và trục lên dây.
Thân đàn hay còn gọi là hộp cộng hưởng được làm bằng 1 đoạn ống tre hoặc bương dài khoảng 134 cm, đường kính 14 cm, đã được lóc hết phần cật. Người ta cắt một phần mặt ống để làm đáy đàn và cũng là chỗ để thoát âm. ở phía đầu đàn có một thanh tre dài 36 cm được cắm xuyên qua thân đàn xuống đáy đàn gọi là vòi đàn. Vòi đàn đóng vai trò để tạo ra các âm thanh cao thấp khác nhau nằm ngoài các bồi âm cơ bản của đàn. Trục lên dây ở phía cuối đàn làm bằng tre dài khoảng 30 cm, cắm ngang xuyên qua 2 cạnh thân đàn. Dây đàn làm bằng tơ tằm xe thành sợi (nay thay bằng dây sắt). Dây đàn có chiều dài chạy suốt thân đàn, 1 đầu luồn qua một lỗ nhỏ ở mặt đàn rồi sâu vào trục lên dây, 1 đầu kéo chếch lên buộc vào vòi đàn. ở phía trước lỗ nhỏ có một miếng gỗ nhỏ đỡ dây đàn gọi là ngựa đàn.
Tàn Máng có âm vực là 3 quãng 8.
- Quãng tám thứ nhất: Tiếng đàn dịu ngọt, ấm áp, sâu lắng.
- Quãng tám thứ hai: Tiếng đàn trong sáng, trữ tình.
- Quãng tám thứ ba: Diễn tả tình cảm cǎng thẳng, tiếng đàn đanh khô, kém vang, ít dùng.
Người ta chơi Tàn Máng bằng cách tay phải cầm que gẩy vào dây, đồng thời cạnh bàn tay chạm nhẹ vào điểm bồi âm để tạo nên âm bồi, gẩy xong cạnh bàn tay nhấc ra khỏi dây. Tay trái điều khiển cần đàn tạo thêm nhiều âm thanh khác nhau và tạo ra các ngón kỹ thuật như: Ngón rung, ngón nhấn, ngón vỗ, ngón giật, ngón vuốt.
Tàn máng là nhạc cụ dùng để độc tấu hoặc hòa tấu trong sinh hoạt thường ngày của người Mường.
Đính kèm (1)
Đàn Tam
Đàn Tam là nhạc cụ dây gẩy của dân tộc Việt. Đàn được mắc ba dây nên gọi là Đàn Tam (tam là ba).
Hộp đàn là khuôn gỗ dầy hình chữ nhật (4 cạnh tròn), kích thước 14 - x 17 cm. Thành đàn cao khoảng 5 cm bằng gỗ cứng. Đáy bịt gỗ, có lỗ thoát âm. Mặt đàn làm bằng da trǎn, da kỳ đà, trên mặt có gắn một cái thú để mắc dây. Cần đàn dài 0,65 m không có phím, trên mặt cần có một miếng gỗ để luồn dây, ba dây được mắc vào cuối bầu đàn chạy qua ngựa và miếng gỗ, miếng gỗ này có tác dụng di chuyển làm cho âm thanh cả 3 dây hạ xuống hay cao lên khi cần thiết. Đầu đàn hình thang cân có 3 trục gỗ để lên dây. Dây đàn bằng tơ xe, nay bằng dây nilon được lên cách nhau một quãng 4 đúng và 5 đúng Sol - Do -Sol1 hoặc Sol - Re - Sol1
Đàn Tam được dùng phổ biến trong dàn nhạc chèo, phường bát âm, ban nhã nhạc. Ngày nay Đàn Tam đã được đưa vào dàn nhạc dân tộc tổng hợp.
Đính kèm (1)
Đàn sến
Là nhạc khí dây gẩy của dân tộc Việt. Được dùng phổ biến ở Miền Nam. Hộp đàn hình hoa đào sáu cánh hoặc hình lục giác, đường kính 28 cm. Mặt đàn và đáy đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Thành đàn dày 6 cm, làm bằng gỗ cứng. Cần đàn dài 70 cm, trên mặt đàn có 17 phím bấm. Phím đàn được gắn dựa theo thang âm 7 cung chia đều. Đàn có 3 trục gỗ nhưng chỉ dùng 2 trục để lên dây còn 1 để trang trí. Hai dây đàn bằng tơ se, được lên cách nhau một quãng 4 hoặc quãng 5: Fa - Do1 hoặc Sol - Do1. Khi diễn tấu nhạc công gẩy đàn bằng miếng gẩy nhựa tạo ra âm sắc trong trẻo, tươi sáng.
Đàn sến thường dùng trong các dàn nhạc sân khấu tuồng, cải lương.
Đính kèm (1)
Đàn Hồ
Đàn Hồ hay còn gọi là Đàn Gáo, là nhạc khí họ dây, chi kéo cung vĩ của dân tộc Việt.
Đàn Hồ làm bằng gỗ trụ hay trắc. Bầu cộng hưởng làm bằng gáo dừa hoặc gỗ rỗng lòng đường kính 14,5 cm, một đầu bịt da trǎn hay da kỳ đà. Cần đàn tròn hoặc vuông không có phím bấm dài khoảng 82,5 cm, đầu dưới cần đàn xuyên thủng qua bầu cộng hưởng. Đầu trên gọi là thủ đàn hình chữ nhật được uốn vát về phía sau, có gắn hai trục gỗ tròn để lên dây. Ngựa đàn làm bằng tre hay gỗ dài 1,5 cm đặt khoảng giữa mặt da. Khuyết đàn làm bằng sợi tơ xe néo 2 dây vào gần sát cần đàn. Khuyết đàn có tác dụng điều chỉnh độ cao thấp của âm thanh. Cung vĩ làm bằng tre, hoặc gỗ được uốn cong hình cánh cung. Vĩ đàn đặt giữa hai dây, khi đàn vĩ cọ sát vào dây phát ra âm thanh. Đàn Hồ có 2 dây bằng tơ xe, ngày nay đã thay bằng dây kim khí, dây đàn được lên cách nhau một quãng nǎm đúng Sol - Re1 hoặc Fa - Do1.
Đàn Hồ tham gia trong dàn nhã nhạc, phường bát âm, dàn nhạc sân khấu tuồng, chèo và giữ vai trò quan trọng trong ban nhạc xẩm.
Đính kèm (1)
Cò Ke
Cò ke là nhạc cụ họ dây, chi cung kéo của dân tộc Mường. Cò ke có hình dáng giống Đàn Nhị của dân tộc Việt nhưng chế tác thô sơ hơn.
Cần đàn là một đoạn gỗ tròn đường kính 1,5 cm, chiều dài 65 - 78 cm, phía đầu trên cần đàn có đục hai lỗ để cắm trục vặn dây, đầu còn lại được cắm xuyên qua bầu cộng hưởng. Bầu cộng hưởng là 1 đoạn ống bương rỗng cả hai đầu, dài khoảng 13,8 cm, đường kính 5 cm, một đầu được bịt bằng một mảnh mo bương hoặc da ếch. Ngựa đàn làm bằng tre hay gỗ dài 1 cm đặt khoảng giữa mặt da. Cò ke mắc hai dây bằng xơ dứa dại hay tơ tằm se lại, vuốt nhựa khoai lang. Hai dây lên cách nhau 1 quãng 4 hay quãng 5 (tuỳ theo từng bài). Một sợi dây tơ néo 2 dây vào sát cần đàn gọi là "cữ đàn" có tác dụng điều chỉnh độ cao thấp của âm thanh. Khi đưa cữ đàn xuống làm ngắn quãng dây phát âm, đàn có âm thanh cao, đẩy cữ đàn lên làm dài quãng phát âm, đàn có âm thanh trầm. Cung kéo là một cành tre nhỏ được uốn cong và mắc túm xơ dứa hay những sợi giang tước nhỏ dài khoảng 53 cm, luồn vào giữa hai dây đàn.
Khi diễn tấu người sử dụng dùng tay phải kéo, đẩy cọ sát dây kéo vào 2 dây đàn để phát âm thanh. Tay trái bấm dây, với các kỹ thuật ngón rung, vuốt, nhấn, láy... Kỹ thuật tay phải gồm: Vĩ rời, vĩ luyến, vĩ ngắt.
Âm thanh của Cò Ke ấm, trong trẻo, gần giống tiếng người.
Cò Ke là nhạc cụ dùng để hòa tấu cùng với các nhạc cụ khác trong đám ma và dàn nhạc lễ của người Mường.
Đính kèm (1)
Broh
Broh là tên gọi nhạc cụ họ dây, chi búng gẩy của dân tộc Giarai. Broh được cấu tạo từ một quả bầu già và một ống tre lồ ô dài 25 cm nối với một thanh gỗ khoảng 100 cm, có khoét thành mấu để lắp dây đàn. Thân đàn có gắn 4 phím bấm bằng sáp ong. Đàn có 2 dây bằng kim loại mắc dọc theo thân đàn, 2 trục đàn cách nhau 7 cm. Bầu cộng hưởng là 1 quả bầu khô nằm ở giữa thân đàn.
Khi diễn tấu, Broh do một người nam giới ngồi và đặt quả bầu vào trong lòng, dùng một miếng tre dài 2 cm buộc với một đoạn cước buộc vào ngón trỏ tay phải để diễn tấu.
Âm thanh của đàn trầm, đục, buồn mang chất tự sự. Khả nǎng diễn tấu của Broh linh hoạt, độc đáo.
Broh không phải là nhạc cụ kiêng cấm, được dùng trong lúc tỏ tình bên dòng suối hay trên nương.
Đính kèm (1)
Brố
Brố là nhạc cụ họ dây, chi búng gẩy phổ biến ở dân tộc Êđê. Brố được làm bằng một ống tre dài khoảng 109 cm, đường kính 3 cm. Cuối ống đàn người ta gắn một miếng gỗ nhỏ có lỗ để mắc dây đàn. Đàn được buộc chặt với 1/2 quả bầu già bằng sợi dây vải.
Đàn có 5 phím bấm bằng sáp ong và cách nhau 8 cm. Một đầu ống có2 trục lên dây. Đàn có 2 dây, 1 dây buông và một dây chơi giai điệu. Hai dây này được lên theo quãng 5.
Tiếng Brố trầm, đục thích hợp với những khúc hát tâm sự, chất trữ tình. Brố là đàn của nam giới tự đệm khi hát. Khi diễn tấu đàn được cầm ngang, tay phải của người chơi được buộc vào một miếng sừng nhỏ làm móng gẩy. Đàn dành riêng cho nam giới diễn tấu và không phải nhạc cụ bị cấm kỵ. Brố dùng rộng rãi trong buôn làng, đôi khi trên nương rẫy.
Đính kèm (1)
Poòng Păng
Poòng Pǎng - nhạc cụ họ dây chi gõ dành cho trẻ em dùng để độc tấu và đệm cho hát đồng dao.
Poòng Pǎng gồm 3 ống nứa (hai đầu có mấu) dài 50 - 53 cm, đường kính 3 - 4 cm. Mỗi ống có 1 dây tách ra từ thân ống, hai đầu mỗi dây được chêm hai mẩu che hoặc gỗ để làm ngựa đàn. Khi diễn tấu trẻ em dùng que gõ lên các dây đàn tạo ra âm thanh nghe ròn rã vui tai.
Đính kèm (1)
Đing Goong
Đing goong là nhạc cụ họ dây chi gẩy búng của dân tộc Gia Rai.
Thân đàn là một ống tre dài 70 - 90 cm, đường kính 5 - 8 cm. Đàn có 9 - 11 dây mắc dọc theo thân đàn, khóa đàn bằng tre vót nhọn cắm xuyên qua thân đàn. Bầu khuếch đại làm bằng vỏ quả bầu nậm già đường kính 16 - 23 cm được gắn vào cuối thân đàn. Là nhạc cụ của nam giới dùng để độc tấu, hòa tấu và đệm cho hát trong sinh hoạt thường ngày.
Đing goong có thể chơi được nhiều loại tốc độ nhanh chậm khác nhau, âm thanh của Đing goong nghe thánh thót, vang xa rất có sức truyền cảm.
Đính kèm (1)
Tâm Plưng
Tâm Plưng là nhạc cụ họ dây chi gẩy búng của dân tộc Cơ Tu.
Thân đàn là một ống nứa dài 83 cm, đường kính 1,8 cm. Đàn có 2 dây, một bằng kim loại (dây giai điệu), một bằng tơ (dây trì tục) mắc dọc theo thân đàn. Bầu khuếch đại làm bằng vỏ quả bầu khô nằm lệch về phía tay gẩy.
Là nhạc cụ độc tấu, hòa tấu do nam giới sử dụng trong sinh hoạt thường ngày, âm thanh của Tâm Plưng nghe trầm lắng, ấm áp rất thích hợp với tính chất tâm sự.
Đính kèm (1)
Tính Then
Tính Then là nhạc cụ họ dây, chi gẩy rất phổ biến củ a dân tộc Tày.
Cần đàn làm bằng gỗ nhẹ dài 75 - 90 cm không có phím bấm. Bầu đàn làm bằng nửa quả bầu khô có k hoét lỗ thoát âm hình hoa thị, đường kính 15 - 20 cm. Mặt đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp để mộc, gắn với bầu đàn. Đàn có 3 dây bằng tơ hoặc nilon. Âm thanh Tính Then nhỏ, êm dịu, nhẹ nhàng, đầm ấm. Là nhạc cụ độc tấu, hòa tấu và đệm cho hát trong các nghi lễ then.
Đính kèm (1)