Dàn nhạc đám cưới người Dao
Dàn nhạc đám cưới của người Dao gồm có 3 loại nhạc cụ là 2 chiếc Nom Dặt (người Tày, Nùng, Thái gọi là Pí lè), một chiếc Nom Đủ (trống dẹt) và một cái Nom Lò (chiêng).
Nom Dặt là nhạc cụ họ hơi chi dǎm kép, gồm các bộ phận:
- ống kèn là một thân gỗ rỗng lòng, dài khoảng 25 - 30 cm, một đầu nhỏ, đầu kia to dần. Trên thân ống có 7 lỗ bấm thẳng hàng gần như đều nhau ở mặt trước và 1 lỗ phía sau gần đầu ống.
- Loa kèn làm bằng đồng, đường kính khoảng 13 cm gắn vào phần đầu to phía dưới của ống kèn. - Cọc dǎm và dǎm kèn, phía trên ống kèn (đầu nhỏ) cắm một ống kim loại nhỏ làm cọc dǎm, trên cọc dǎm cắm một cái dǎm làm bằng tổ sâu bóp bẹp để thổi.
Âm vực của Nom dặt trải 2 quãng tám. Khi chơi người thổi hai tay cầm dọc kèn thổi, các ngón tay đặt vào các lỗ bấm.
Nom Đủ là nhạc cụ họ màng rung chi gõ hình tròn dẹt. Thân trống làm bằng khúc gỗ ngắn khoét rỗng bên trong, cao khoảng 14,5 cm, đường kính khoảng 25 cm. Hai mặt trống đều bịt da, ghim vào thân trống bằng những chiếc đinh tre. Dùi trống cũng làm bằng tre. Người chơi có thể đánh vào cả hai mặt trống thay đổi nhau.
Nom Lò là nhạc cụ tự thân vang chi gõ, chất liệu đồng thau kích thước trung bình, đường kính khoảng 30 - 40 cm, thành cao 12 - 14 cm. Dùi làm bằng gỗ để trần hoặc bọc vải ở một đầu. Khi chơi người chơi cầm dùi gõ vào mặt trên của Nom lò.
Các nhạc công chơi trong dàn nhạc đám cưới của người Dao đều là nam giới. Trong đám cưới người Dao không có hát mà chỉ tấu dàn nhạc. Dàn nhạc không chỉ tấu lên để gây không khí vui nhộn, tưng bừng mà còn giữ vai trò quan trọng trong các diễn biến nghi thức phong tục truyền thống. Có thể kể một số bài nhạc chính chơi trong các nghi lễ đám cưới của người Dao như sau:
- Bài nhạc đón dâu
- Bài nhạc mời khách ngồi
- Bài nhạc mời dâu, mời rể ngồi
- Bài nhạc mời ǎn cơm, mời uống rượu
- Bài nhạc tiễn khách v,v...
Trong dàn nhạc có sự phân công chức nǎng: Hai chiếc Nom Dặt chơi đồng âm, đảm nhận phần giai điệu. Nom Đủ (trống dẹt) chơi giữ nhịp và chuyển tiết tấu. Còn Nom Lò (chiêng) điểm dẫn tiết tấu, điểm mầu sắc tiết tấu khi đảo phách, khi đơn lẻ, khi dồn dập, độc đáo làm tǎng sự hấp dẫn cho dàn nhạc.
Đính kèm (1)
Dàn nhạc ả Đào (Dân tộc Việt)
Đào - một loại hình nghệ thuật cổ truyền chuyên nghiệp hình thành từ thời Lý (1010 -1225), thịnh hành ở các triều Lê (1533 -1788) và rất phát triển ở miền Bắc Việt Nam vào thời Nguyễn (1778 - 1945).
Dàn nhạc gồm ba nhạc cụ: thứ nhất cỗ phách 3 lá - nhạc cụ được coi như xương sống của lối hát do chính người hát sử dụng, góp phần tạo nên tính nhất quán bởi sự nhắc lại của các khổ phách; thứ hai đàn đáy - loại đàn gẩy độc đáo của Việt Nam giữ chức nǎng đệm, phối hợp với giọng hát và tiết tấu phách một cách hài hòa, nhuần nhuyễn; thứ ba Trống chầu - loại trống nhỏ do một người có trình độ thẩm mỹ cao về vǎn thơ, âm nhạc và có óc sáng tạo linh hoạt dùng để chấm ngắt câu vǎn và khen chê giọng hát, tiếng đàn.
Đính kèm (1)
Dàn nhạc Chèo (Dân tộc Việt)
Chèo là loại hình sân khấu dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nǎm thành tố quan trọng cấu tạo thành Chèo gồm: Trò chèo, hát chèo, nhạc chèo, múa chèo và diễn chèo.
Dàn nhạc chèo đóng vai trò quan trọng cho biểu diễn và ca hát của diễn viên. Vì vậy thành phần các nhạc cụ dàn nhạc tương đối phong phú. Dàn nhạc chèo gồm có các nhạc cụ gõ và các nhạc cụ ti, trúc như sau: Nhạc gõ có trống đế, trống cơm, trống ban, trống bộc, trống cái, mõ, thanh la, chuông, tiu, cảnh, não bạt, sinh tiền. Nhạc ti trúc có: Nhị, hồ, nguyệt, tam, bầu, tam thập lục, tiêu, sáo. Tuỳ vào các tình huống của câu chuyện kịch mà người ta sử dụng nhạc cụ khác nhau cho phù hợp.
Đính kèm (1)
Dàn Đại nhạc Cung đình
Là dàn nhạc có quy mô lớn của dân tộc Việt, chỉ được dùng khi có sự hiện diện của Vua trong các Đại lễ: lễ Đại triều, lễ Vạn thọ (sinh nhật Vua), lễ tế Nam giao (khi vua vào bái vị), lễ tiếp sứ thần nước ngoài... và lễ tế có tính quốc gia trọng đại: lễ tế Giao (tế Trời, Đất), lễ Tịch điền (lúc nhà Vua tự mình cày ruộng)...
Biên chế dàn nhạc gồm: 20 trống lớn; 8 kèn; 4 tù và bằng sừng trâu; 2 tù và bằng vỏ ốc biển. Với âm lượng lớn, mạnh mẽ của bộ gõ và bộ hơi cùng quy mô biên chế đồ sộ của dàn nhạc đủ để tạo sự tôn nghiêm, trang trọng trong các nghi lễ cung đình.
Đính kèm (1)
Dàn nhạc Huyền Cung Đình
Xuất hiện vào nǎm Minh mạng thứ 19 (1838), dàn nhạc huyền thường được sử dụng trong tế lễ như: Lễ Thánh Thọ, Vạn Thọ, Thiên Xuân, tế Nam Giao (lúc nhà vua mới xuất hiện, bước lên đàn). Biên chế dàn nhạc gồm: 1 khánh lớn, 1 biên khánh (gồm 12 khánh nhỏ), 1 bác chung (chuông lớn), 1 biên chung (gồm 12 chuông nhỏ), 1 trống lớn, 1 trống nhỏ, 1 cái phục phụ (trống hai mặt da), 1 cái chúc, 1 cái ngữ, 2 cái phách, 2 đàn cầm, 2 đàn sắt, 2 bài tiêu, 2 tiêu, 2 địch (sáo ngang), 2 huân (1 nhã huân và 1 tụng huân), 2 trì, 2 sinh (nhạc cụ thổi).
Đính kèm (1)
Dàn nhạc Sư Tử (Dân tộc Tày-Nùng)
Múa sư tử - một sinh hoạt vui chơi trong ngày hội và chúc tết các gia đình nhân dịp nǎm mới.
Múa sư tử của người Tày - Nùng là hình thức múa trò gồm các trò: bái lạy, chào nhau, sư tử đẻ con, nhảy bàn, múa võ, câu cá... Dàn nhạc đệm cho múa sư tử là các nhạc cụ gõ có cường độ lớn như trống, thanh la, xập xoả. Để phục vụ các trò diễn thì sự ngẫu hứng của dàn nhạc khi diễn tấu là vô cùng quan trọng. Người đánh trống phải nắm bắt nhanh sự chuyển động của động tác múa để sáng tạo kịp thời những tiết tấu phù hợp. Người đánh trống càng giỏi, sự hoà theo của thanh la, xập xoả càng nhịp nhàng thì trò múa càng hấp dẫn.
Đính kèm (1)
Dàn nhạc Đám tang (Các dân tộc thiểu số phía Bắc)
Trong đám tang của các dân tộc thiểu số phía Bắc, dàn nhạc giữ một vai trò quan trọng. Dưới sự điều khiển của thầy mo, tào, dàn nhạc thực hiện các thủ tục hành lễ từ đầu đến cuối đám tang. Dàn nhạc này do đàn ông diễn tấu, biên chế dàn nhạc gồm các nhạc cụ: chuông, trống, thanh la (hoặc chiêng); dàn nhạc của người Tày, Nùng, Thái có thêm chũm chọe, pí lè, sáo, tù và; người Mường có thêm sáo, nhị. Việc sử dụng và số lượng nhạc cụ của mỗi dân tộc có khác nhau, nhưng về đại thể vẫn giống nhau cả mục đích lẫn cách thể hiện. Mở đầu phần tế lễ hoặc những đoạn linh thiêng, thầy mo, tào cúng chỉ dùng chuông, những đoạn cần cường độ âm thanh lớn để đánh thức linh hồn, múa, đưa tang... thì cả dàn nhạc cùng tấu.
Đính kèm (1)
Dàn nhạc Chăm Ninh Thuận
Kèn Xaranai, đàn vĩ kéo Ka Nhi, trống vỗ Paranưng, trống gõ vỗ Ghì nằng là những nhạc cụ dùng rất phổ biến ở người Chǎm Ninh Thuận. Những nhạc cụ này có lúc dùng đơn lẻ đệm cho hát lễ, hát sinh hoạt; có lúc kết hợp các nhạc cụ thành một dàn nhạc dùng trong các cuộc hành lễ lớn diễn ra hàng nǎm. Vào thời điểm ấy dàn nhạc đã bộc lộ rất rõ chức nǎng quan trọng của nó trong lễ hội như tham gia vào quá trình hành lễ, tham gia đệm cho hát, múa nghi thức và tham gia vào các trò vui trong hội.
Nhạc cụ Chǎm, dàn nhạc Chǎm là dàn nhạc và nhạc cụ có tính chuyên nghiệp cao, muốn chơi được những nhạc cụ ấy, người ta phải mất nhiều nǎm khổ luyện và khi đã được chấp nhận là người chơi thành thạo, thì họ được mang tên gọi riêng như ông Dú (người thổi Kèn), ông Mưtuồn (người đánh trống Paranưng), ông Toong người đánh trống Ghì nằng.
Đính kèm (1)
Dàn nhạc sân khấu Rôbăm
Dàn nhạc sân khấu Rôbǎm của người Khơme Nam Bộ chỉ có hai họ nhạc cụ là nhạc cụ hơi và nhạc cụ gõ. Nhạc cụ hơi có kèn Scơlai hay còn gọi là kèn Payo hoặc Pâyê; nhạc cụ gõ có trống Scor Chớt, Cuông (cồng), Cráp (thanh la). Đây là những nhạc cụ có cường độ âm thanh lớn, có kịch tính cao, rất phù hợp với lối diễn của sân khấu Rôbǎm - một sân khấu diễn tích truyện bằng múa, hát, nhân vật ǎn mặc phục trang hết sức lộng lẫy.
Hầu hết các vở diễn đều dựa vào các truyện dân gian hoặc sử thi ấn độ. Các nhân vật trong chuyện bao giờ cũng được chia thành hai tuyến rõ rệt là tuyến nhân vật chính nghĩa và tuyến nhân vật phi nghĩa. Tuyến nhân vật chính nghĩa là những ông Hoàng bà Chúa khi diễn không đeo mặt nạ. Tuyến nhân vật phi nghĩa là ma quỷ độc ác khi diễn đeo mặt nạ. Hai tuyễn nhân vật luôn mâu thuẫn nhau, xung đột nhau gây ra những tình huống kịch cǎng thẳng được biểu diễn chủ yếu bằng nghệ thuật múa và hát. Và cũng chính vì vậy sân khấu này phải dùng tới những nhạc cụ có đủ khả nǎng tham gia vào các xung đột kịch - nhạc cụ hơi và nhạc cụ gõ như đã trình bày ở trên.
Đính kèm (1)