Giới thiệu sơ lược
Đàn Gáo hay đàn Hồ là nhạc khí dây kéo (cung vĩ) phát triển từ Ðàn Nhị, to và dài hơn Ðàn Cò(Nhị) khá giống như Ðàn Hồ Cầm của Trung Quốc về tính năng. Hình dáng Ðàn Gáo được khắc trên bệ đá kê chân cột Chùa Phật Tích, ở miền Bắc người ta gọi là Ðàn Hồ. Theo GS Tô Vũ: "Gáo" và "Cò" là sáng tạo ngôn ngữ có tính cách dân gian ở Nam Bộ, để chỉ cây Nhị và Hồ ở miền Bắc và miền Trung, mà từ nguyên dễ khiến người ta liên hệ đến tính cách du nhập của những nhạc khí đó. Ðàn Gáo ở miền Nam người ta lấy nửa gáo dừa to, bịt mặt gỗ làm bầu đàn nên gọi là Ðàn Gáo.
| Đàn gáo | |||||||||||
| 16:42' 05/09/2003 (GMT+7) | |||||||||||
Xếp loại Đàn Cò Gáo là nhạc khí dây kéo (cung vĩ), là một cải biên của Việt Nam từ loại Nhị Hồ (Trung Quốc) được nhập vào Việt Nam và trở thành đàn Việt Nam. Hình thức cấu tạo - Bầu cộng hưởng
Trong âm nhạc dân tộc hiện nay, có 3 loại đàn Gáo (đàn Hồ) đàn Hồ tiểu, đàn Hồ trung (tương ứng đàn Violoncell) và đàn Hồ đại (tương ứng đàn Contrebasse), hình thức cấu tạo cả 3 đều giống nhau chỉ khác kích cỡ: đàn Hồ tiểu nhỏ nhất đến Ðàn Hồ trung và đàn Hồ đại lơn nhất
Đàn Gáo (đàn Hồ tiểu) có màu âm trầm hơn đàn Cò lòn, đầy đặn, rộng rãi chắc chắn hơn. Màu âm Ðàn Hồ đẹp, ấm hơi trầm phù hợp với tình cảm sâu lắng.
Ðàn Gáo tiểu tương đương Ðàn Hồ tiểu: có 2 dây bằng tơ se, lên cách nhau một quãng 5 đúng: (Sol, Rê1)hoặc (Fa, Ðô1). Tầm âm Ðàn Gáo (Ðàn Hồ) rộng hai quãng 8: từ Sol lên Sol2 (g lên g2). Ðàn Gáo trung tương đương Ðàn Hồ trung: có hai dây kim khí bọc, lên cách nhau một quãng 5 đúng, dây Ðàn Hồ trung thấp hơn dây Hồ tiểu một quãng tám (Sol-1, Rê) (chú thích: Sol-1 : dưới Sol: 1 quãng 8; Rê). Màu âm Ðàn Hồ trung trầm hùng, hơi tối. Ðàn Gáo đại tương đương Ðàn Hồ đại: có 2 dây lên cách nhau một quãng 5 đúng: dây Ðàn Hồ đại thấp hơn dây đàn Hồ trung một quãng tám: (Sol-2, Rê-1)
Tác ngón kỹ thuật diễn tấu nói chung đều rất ít dùng cung ngắt, mà thường dùng cung vĩ rời, cung vĩ liền. Những ngón chạy nhanh, nhảy xa cần hạn chế. Những ngón bấm nên tránh là ngón láy rền, ngón vuốt xa. Ðặc biệt các ngón bật dây có tác dụng tốt. Ðàn Gáo (Ðàn Hồ tiểu) chủ yếu là để đệm tiết tấu, dẫn bè trầm hòa âm trong Dàn nhạc. Ðàn Hồ trung đánh bè trầm hòa âm, đôi khi đệm tiết tấu. Ðàn Hồ đại đệm tiết tấu là chủ yếu, đôi khi cũng có đánh bè trầm làm đầy đặn hòa âm. Ngón rung: làm tiếng đàn ngân vang mà không khô, cứng. Ngón rung là ngón tay bấm, nhấn nhẹ liên tiếp ở một âm nào đó khiến âm thanh phát ra như làn sóng nhỏ. Ngón rung sử dụng ở hầu hết các âm có độ ngân dài. Người ta có thể rung cả ở dây buông bằng cách dùng ngón tay cái nhấn nhẹ liên tiếp vào cái khuyết (cái cữ của dây đàn), cần chú ý không để cái khuyết tụt xuống sẽ ảnh hưởng đến độ cao của dây đàn.
Ngón vuốt: là cách di chuyển ngón trên dây đàn từ dưới lên trên hay từ trên xuống dưới. Âm vuốt làm tiếng đàn thêm mềm mại, uyển chuyển, gần giống giọng hát, giọng nói dân tộc. Có hai lối vuốt
- Vuốt làm âm thanh dịu ngọt, mềm mại, ký hiệu ngón vuốt như gạch nối giữa các nốt nhạc, đặt trước hoặc sau một nốt nhạc tùy theo từng trường hợp.
Ngón luyến: (cung vĩ liền) là cách dùng mỗi đường cung vĩ kéo hay đẩy để tấu nhiều âm. Sử dụng cung vĩ liền, âm thanh phát ra luyến với nhau, do đó còn gọi là cung luyến. Ngày nay các nghệ nhân đã sử dụng cung vĩ liền với số âm nhiều hơn trong một cung vĩ. Ký hiệu để ghi cung vĩ liền là dấu luyến đặt trên các nốt nhạc. Khi tấu hết các nốt nhạc đặt trong dấu luyến, đường cung vĩ mới đổi hướng. Trong khi cung vĩ rời biểu hiện những âm thanh khoẻ, dứt khoát, nhẹ nhàng, tình cảm chan chứa, triền miên, có khi bay bổng phơi phới...
Ngón láy rền: đây là kiểu láy nhưng láy nhanh hơn để âm chính và âm cao liền bậc (hay cách bậc) phát ra như làn sóng rền.
Ngón vê: (cung vĩ rung) cũng là một thứ cung vĩ rời nhỏ tiến hành với tốc độ rất nhanh trên một âm nào đó: dùng cổ tay điều khiển cung vĩ (thường là đầu cung) kéo, đẩy liên tiếp thật nhanh để phát ra nhiều lần một âm nào đó, cung vĩ rung nghe như tiếng Vê ở các đàn gảy dây, thực hiện cung vĩ rung ở các nốt nhạc kéo dài hoặc ở các nốt nhạc ngân ngắn. Ở các nốt nhạc khẩn trương, cao trào hay làm nền trong hòa tấu đều được vì nó diễn tả nhiều tình cảm, nhiều hình tượng khác nhau. Ký hiệu: đặt 3 gạch chéo ở đuôi nốt, nếu là nốt không có đuôi thì đặt 3 gạch chéo ở dưới hay ở trên. Ngón giật: (cung vĩ ngắt rời) là lối đánh ngắt từng âm, mỗi âm do một đường cung vĩ hay kéo ngắn gọn, vĩ không nhấc khỏi dây đàn. Có thể dùng phần đầu, phần giữa hay phần cuối cùng vĩ để đánh ngắt rời, nhưng thường là dùng phần đầu để đánh hơn. Âm thanh cung vĩ ngắt rời phát ra dứt khoát, gọn, nhanh. Thực tế sắc thái của những âm thanh này lại dịu, nhẹ hơn là mạnh mẽ. Thường dùng trong nhịp độ nhanh vừa trở lên.
Ký hiệu dấu chỉ cung vĩ ngắt rời là một chấm nhỏ ghi trên hay dưới nốt nhạc. Vị trí Ðàn Gáo (Ðàn Hồ) trong các Dàn nhạc Thạc sĩ Võ Thanh Tùng |
http://giaidieuxanh.vietnamnet.vn/nhaccudantoc/2004/01/42888/